Sự đơn sơ của cõi lòng
Anselm GRUN 45
Khi đọc các thư của Maria Mazzarello, trước tiên tôi hết sức ấn tượng về nét đơn sơ trong ngôn ngữ và linh đạo của Mẹ. Trong truyền thống linh đạo, sự đơn sơ của cõi lòng luôn là dấu chỉ của một linh đạo tinh tuyền. Các đan sĩ gọi nó là sự trong sáng của cõi lòng.
Con tim đơn sơ thì rõ ràng với chính mình, đầy ắp Thần Khí Chúa, nhìn các sự vật như nó là, không bị bóng tối của sự vật và những nhận định của con người ảnh hưởng. Sự đơn sơ là dấu chỉ của một người biết rõ chính mình, chấp nhận mọi khiếm khuyết bóng tối nơi bản thân. Con tim đơn sơ vì đã nên một với Thiên Chúa.
Con tim đơn sơ của Maria Domenica Mazzarello cùng lúc được thấm nhiễm bởi tình yêu vĩ đại. Mẹ liên tục lặp lại những lời: “Chị em hãy vui luôn!”. Đây không là sự khích lệ hình thức của một người không hài lòng, trái lại, nó biểu lộ sự bình thản của Mẹ. Người ta nhận thức được con tim đơn sơ nơi Mẹ, trong cách thức diễn tả cho các chị em, trong khi Mẹ kể lại các sự kiện và nói một cách hài hước. Sự hài hước tỏ ra trước hết khi Mẹ nói về bản thân mình. Cách nói của Mẹ không nhắm tới việc hạ thấp bản thân như nhiều tu sĩ vào những năm 1800 thường quan niệm. Về tính tự ái, Thánh nữ nói như thế này:
“Con có quá nhiều, quá nhiều tật xấu, khiến mỗi bước đi là mỗi vấp té như một tên say rượu” (T.9,9). Chỉ người nào có một khoảng cách nội tâm nào đó với chính mình mới có thể viết như thế, Mẹ biết tự cười mình và nhìn những giới hạn của mình với sự thanh thản chứ không khinh bỉ.
Sự đơn sơ của cõi lòng cũng được biểu lộ trong cách thức Mẹ viết về tình trạng của từng nhà. Không phải là một kiểu đánh bóng các thực tại dưới chiếc áo tâm linh. Mẹ nói về các sự việc như nó là. Mẹ không dùng cách nói phóng đại để tô điểm thêm cho các tình huống. Trong mọi khó khăn, người ta không thấy nơi Mẹ tâm trạng ưu phiền hay than vãn. Mẹ chấp nhận những tình trạng như nó là. Chẳng hạn, Mẹ thẳng thắn nói những trường hợp xuất dòng của một vài nữ tu mà không hề kết án các chị đã rời bỏ cộng đoàn. Mẹ kể về cái chết của các chị em trẻ nhưng không cường điệu cũng không tự thương hại. Ước mong của Mẹ là tất cả được về Thiên đàng. Mẹ viết về Thiên đàng cách hài hước, không quá quan trọng, vốn là đặc nét nhân loại nào đó của một linh đạo.
Những đặc điểm của linh đạo Maria Mazzarello
Linh đạo của Maria Mazzarello được bày tỏ trong những lời khuyên của Mẹ ngỏ cùng các chị em. Mẹ viết cho nữ tu Angela Vallese - Bề trên ở Montevideo: “Chị em hãy khích lệ nhau sống khiêm nhường, vâng lời và yêu thích công việc, làm việc với ý ngay lành, luôn thẳng thắn và chân thành với hết mọi người. Hãy làm cho chị em luôn vui vẻ, hãy sửa lỗi chị em với đức ái, nhưng đừng bao giờ bỏ qua một khuyết điểm nào. Một khuyết điểm được sửa chữa ngay lập tức, nhiều khi không là gì, nhưng nếu để nó mọc rễ thì sau đó phải khó nhọc lắm mới nhổ nó đi được” (T. 17,1). Cũng trong cùng lá thư ấy, Mẹ tiếp: “Các con hãy vui tươi, đừng sợ không sửa được mọi khuyết điểm trong một lần, nhưng từ từ với thiện chí chiến đấu với chúng, không bao giờ làm hòa với khuyết điểm mỗi khi Chúa cho các con nhận ra; các con hãy làm phần của mình để sửa chữa chúng, rồi các con sẽ thấy dần dần các con sẽ thắng được tất cả! Vậy, can đảm lên, hãy có lòng tin tưởng lớn lao vào Thiên Chúa và tinh thần khinh chê chính mình, các con sẽ thấy mọi sự trôi chảy tốt đẹp” (T. 17,4).
Vâng phục
Ngày nay, nhấn mạnh về vâng phục và khiêm nhường có thể gây đôi chút ngờ vực. Thế nhưng, vào lúc khởi đầu của một cộng đoàn tu trì, sự vâng phục là nhân đức góp phần để sống hòa hợp trong cộng đoàn. Không có đức vâng phục, cộng đoàn sẽ không thể hoàn tất được điều cần thực hiện. Sự tuân phục là tâm thế sẵn sàng để phục vụ các nhu cầu của cộng đoàn.
Mẹ Mazzarello không nói về đức vâng phục như một lý tưởng, nhưng với sự đúng đắn. Sự tuân phục đơn giản là sự cần thiết giúp cộng đoàn đạt tới sự tốt đẹp. Đối với Mẹ, sự tuân phục gắn liền với sự tín nhiệm. Mẹ thường nhắc nhở các chị em hãy tin tưởng vào các Bề trên. Đôi lần ngài đưa ra đủ mọi lý lẽ để giải trình. Một thực tế là có những Bề trên gặp khó khăn với một số chị em, nhưng Mẹ Mazzarello khích lệ sự tín nhiệm. Dẫu là một Bề trên, Mẹ không luân lý hóa vấn đề, và cũng không ra lệnh bắt vâng phục. Điều Mẹ muốn là khích lệ các Bề trên. Mẹ chấp nhận họ có những giới hạn riêng, nhưng cũng phải nhận ra thiện chí của họ. Sự tuân phục đối với các Bề trên cụ thể này nhắm đến hiệp nhất cộng đoàn. Sự chống đối sẽ gây chia rẽ cho cộng đoàn nhỏ bé.
Khiêm nhường
Khiêm nhường là sự can đảm nhìn vào những vùng tối của mình và chấp nhận chính mình với bản tính và giới hạn riêng. Sự khiêm nhường giống như sự hạ mình, thậm chí có khi được thể hiện với tính khôi hài. Vì hạ mình là thế sẵn sàng để chấp nhận sự đớn hèn của mình: sự khiêm nhường mà Mẹ Mazzarello nhắc nhở không có ý tự thóa mạ hay khinh ghét chính mình. Mẹ Mazzarello nói với các chị em rằng không được sợ những khuyết điểm của mình. Mẹ không muốn chủ nghĩa hoàn thiện, nhưng là tâm thế sẵn sàng để đi vào con đường nhận thức chân thành về bản thân. Sự khiêm nhường thật gắn kết với việc giải phóng khỏi sự sợ hãi, với sự chân thực.
Tính chân thực - người chị em của sự đơn sơ của cõi lòng - có thể tìm thấy trong mọi lá thư của Maria Mazzarello. Mẹ không tự tôn, cũng không tự hạ, nhưng tự nhận biết mình là thế nào và với cách thức này, Mẹ tiếp xúc với từng chị em. Mẹ viết cho một Tập sinh đơn sơ cũng như viết cho các Bề trên. Rõ ràng, không có một ranh giới nào giữa Mẹ và các nữ tu trẻ mới gia nhập Hội dòng. Đối với Mẹ Mazzarello, sự khiêm nhường hệ tại khả năng phục vụ cho việc tương quan. Mẹ không tách mình khỏi chị em như một Bề trên, để có thể hiểu biết họ như một người chị em giữa các chị em.
Yêu thích làm việc
Một điều khác được nói nhiều trong các lá thư, đó là lời mời gọi các chị em hãy yêu thích làm việc và làm việc với ý ngay lành. Đối với Mẹ, làm việc là “cha các nhân đức. Khi làm việc, những “tư tưởng ngông cuồng và thất thường chạy trốn mất, và các con sẽ luôn vui tươi” (T. 25,5).
Trong các lá thư, người ta nhận thấy Mẹ Mazzarello nói về việc làm một cách lý thú. Tuy nhiên, phải nói thật rằng thỉnh thoảng Mẹ cũng phàn nàn vì công việc quá nhiều. Đôi lúc Mẹ xin lỗi vì công việc chất chồng đến nỗi Mẹ không có giờ để hồi âm. Như thế, chính Mẹ cũng thấy giới hạn của công việc, do đó, Mẹ khuyên nữ tu Angiolina: “Trong khi nhắc con làm việc, Mẹ cũng nhắc con hãy quan tâm chăm sóc sức khỏe và Mẹ cũng nhắc mọi người là hãy làm việc không vì một tham vọng nào, nhưng chỉ để làm hài lòng Chúa Giê-su mà thôi” (T. 25,5). Công việc tìm thấy giới hạn của nó trong sức khỏe, độ dẻo dai của thể lực cho ta đo lường sức làm việc của mình. Thực chất, cả tinh thần cũng cho thấy dấu hiệu khi có quá nhiều công việc. Nếu ta phản ứng cách uể oải, quá khích, bất mãn và bực tức thì ta phải biết nó đã đi quá sức chịu đựng rồi. Đối với Mẹ Mazzarello, có một tiêu chuẩn khác định lượng cho biết đây là một công việc được nhiều phúc lành là không có các mục đích phụ thuộc khác. Nếu tôi muốn khẳng định chính mình trong công việc thì tôi sẽ sớm bị kiệt sức. Trái lại, nếu công việc xuất phát tự nội tâm thì tôi có thể làm việc rất nhiều. Đối với Mẹ Mazzarello, nguồn mạch nội tâm không chỉ là nguồn mạch của Thánh Linh, nhưng là tình yêu dành cho Chúa Giê-su. Nếu tôi chu toàn công việc của tôi vì Chúa Giê-su thì nó đem lại cho tôi niềm vui và tôi có thể làm việc được nhiều hơn là chỉ làm dưới sức ép của hiệu quả.
Niềm vui
Lời mời gọi hãy luôn vui vẻ không nảy sinh nơi chính niềm vui. Điều chất vấn chúng ta đó là các nữ tu làm thế nào để có thể đạt tới niềm vui này. Maria Mazzarello đưa ra sự đơn sơ của cõi lòng như điều kiện để có niềm vui: “Để sống vui tươi, con cần tiến bước với sự đơn sơ, đừng tìm những thỏa mãn nơi các tạo vật cũng như nơi những thứ thuộc thế gian này” (T. 24,4). Mẹ Mazzarello ngỏ lời khuyên này tới nữ tu Giuseppina Pacotto là người dễ ưu sầu, buồn bã. Niềm vui không đơn thuần là một quà tặng hay một tâm thế tự nhiên; ta có được nó nếu trở nên hoàn toàn đơn sơ và rõ ràng, và nếu chúng ta vượt thắng được sự phụ thuộc vào các sự vật của thế gian này. Ai lệ thuộc vào những lời khen tiếng chê, vào thành công hay thất bại, vào sự trìu mến hay lãng quên thì sẽ không bao giờ có được niềm vui. Quả vậy, họ sẽ không bao giờ trải nghiệm được sự thỏa mãn các nhu cầu. Họ sẽ không bao giờ được thỏa mãn bởi những lời khen mà họ trải nghiệm.
Mẹ Mazzarello xác tín rằng niềm vui là quan trọng hơn cả đối với một linh đạo lành thánh. Các nhà tâm lý cũng nói rằng niềm vui có thể chữa lành con người. Nó là một nguồn mạch của năng lượng sống động và không cạn kiệt. Nếu ta chỉ sống theo ý mình thì ta sẽ sớm bị kiệt sức và sụp đổ. Nếu trong khổ chế ta nổi nóng chống lại bản thân thì ta dễ cạn kiệt nội lực. Trái lại, niềm vui đưa ta tới sự tiếp xúc với nguồn năng lượng vọt trào từ trong chúng ta.
Tuy nhiên, Mẹ Mazzarello biết rằng chỉ nhắc nhở chị em sống vui thì không đủ. Mẹ còn tạo cả những điều kiện để các chị em có thể sống vui. Đó là cộng đoàn cử hành những ngày lễ cách tốt đẹp để mọi người có thể sống vui vẻ. Làm kịch nghệ là một phương thế quan trọng để cổ võ niềm vui này.
Với một nữ tu hay buồn chán, Mẹ viết: “Con hãy cảm ơn Chúa vì Mẹ ở xa, nếu không thì Mẹ sẽ kéo tai con đó, con không biết rằng sự buồn rầu là nguyên nhân của nhiều sự xấu đó sao?” (T. 24,3). Mẹ đã làm cho chị hiểu ra sự buồn chán là biểu hiệu của một thái độ ấu trĩ. Thay vì cứ luẩn quẩn với bản thân và thương hại mình, nữ tu Giuseppina phải trở thành người lớn và đảm nhận những trách nhiệm đối với cộng đoàn. Điều này sẽ giảm bớt sự nghĩ về mình. Mẹ Mazzarello viết cho nữ tu hơi chút xuống tinh thần này không chỉ duy luân lý nhưng một cách khôi hài. Cách thức hành động này chắc chắn có giá trị hơn là cứ khiển trách về sự buồn chán mà chị đang trải qua.
Trong thư số 60, Mẹ Mazzarello viết cho Tập sinh Rita Barilatti: “Chúng ta đã sống đời tu, vậy hãy can đảm, can đảm lên và luôn vui tươi, và đây là dấu chỉ của một tâm hồn yêu Chúa nhiều” (T. 60,5). Cùng với niềm vui, Mẹ thường nói đến sự can đảm. Niềm vui không thể trực tiếp đòi hỏi hay chỉ đơn thuần khao khát nó. Niềm vui luôn là sự diễn tả của một đời sống đã được hiện thực. Maria khích lệ các chị em chấp nhận đời tu như nó là. Ai có được sự can đảm để trả lời xin vâng với đời tu này thì sẽ hài lòng về mình và niềm vui sẽ gia tăng nơi họ. Như thế, sự can đảm chấp nhận cách vô điều kiện chính mình và tình trạng hiện hữu riêng nơi mình thì sẽ có được niềm vui.
Còn một điểm khác nữa, đó là tình yêu dành cho Chúa Giê-su. Niềm vui cũng luôn là sự diễn tả của tình yêu. Ai yêu mến thì vui tươi. Cũng vậy, tình yêu đối với Chúa Giê-su là nền tảng của một đời sống được đóng ấn bằng niềm vui. Từ những thư của Maria lộ ra tình yêu đơn sơ và nồng nàn của Mẹ dành cho Chúa Giê-su. Đó không là sự giả tạo, nhưng rất đơn sơ. Mẹ sống niềm vui này. Từ nơi Ngài, Mẹ kín múc sức mạnh để đảm nhận trách nhiệm của mình trong cộng đoàn.
Từ bỏ
Mẹ Mazzarello không ngừng khuyên các chị em hãy chà đạp tính tự ái và tập hãm mình. Những điều này chứng tỏ một nền tu đức đầy đòi hỏi để đưa tới sự hy sinh chứ không là thể hiện chính mình. Tuy nhiên thật quan trọng việc nhận định chính xác những diễn tả của Mẹ Mazzarello. Mẹ viết về sự từ bỏ ý riêng với một chút hài hước. Tức là đừng nổi khùng chống lại ý riêng của mình, nhưng biết rằng nó thường lẻn vào thái độ sống của ta cách tinh vi. Các nhà thần bí của mọi thời nói nhiều đến việc chết đi cho cái tôi, từ bỏ cái tôi của mình. Điều đó không phải là giết chết cái tôi, tức là tấn công chống lại chính mình, nhưng là giữ một khoảng cách nào đó với cái tôi.
Cái tôi trộn lẫn vào mọi hành động của chúng ta, cả trong mối tương quan của ta với Thiên Chúa; nó muốn công cụ hóa Thiên Chúa, gần như là muốn Ngài phải phục vụ cho thói thượng tôn của ta. Khả năng giữ khoảng cách với cái tôi này là điều cần thiết cho mối tương quan chân chính đối với Thiên Chúa. Đó là một nhân đức tôn giáo trước khi là nhân đức luân lý.
Sự thanh thản khi Mẹ Mazzarello nói về việc “khinh chê chính mình” và về việc chà đạp ý riêng, cho thấy việc từ khước của Mẹ không là chối bỏ giá trị, nhưng là sự tự do nội tâm mà ta phải sống. Đó không phải là từ chối hay bóp méo chính mình, nhưng là phó mặc cho Thiên Chúa trong sự tự do.
Thật thú vị quan sát bối cảnh trong đó Maria viết về sự “khinh chê” chính mình: “Vậy can đảm lên, hãy có lòng tin tưởng lớn lao vào Thiên Chúa và tinh thần khinh chê chính mình, và các con sẽ thấy mọi sự trôi chảy tốt đẹp” (T.17,4). Mẹ nói về một “tinh thần tốt lành” của sự từ bỏ, thứ tinh thần hướng dẫn tất cả tới thành công tốt đẹp. Như thế, Mẹ không đề nghị từ bỏ cuộc sống, nhưng như một con đường để đạt tới một cuộc sống được thực hiện.
Ta cần có tự do nội tâm để có thể sống cách lành mạnh. Chúng ta cần một khoảng cách lành mạnh khỏi cái tôi để đừng trở nên nô lệ của nó. Trong việc giữ khoảng cách nội tâm với cái tôi và với ý riêng, ta tiếp xúc với hiện hữu đích thực của ta bằng việc khám phá ra hình ảnh đích thực mà Thiên Chúa đã tạo dựng chúng ta.
Mẹ Mazzarello mô tả sự giải thoát nội tâm với cái tôi như sự chiến thắng trên chính mình. Do đó, Mẹ dùng những hình ảnh thể thao để diễn tả. Ai thắng chính mình người ấy trở thành thực sự rộng mở cho Chúa Giê-su và nếu Chúa Giê-su là sức mạnh của ta thì “những gánh nặng sẽ trở thành nhẹ nhàng, những mệt mỏi trở thành êm ái, những gai góc sẽ biến thành ngọt ngào” (T.22,21). Vậy, đích điểm là tự do nội tâm và sự dịu dàng.
Đời sống đạt được hương vị mới nếu ta thắng được chính mình. Nếu không chiến thắng trong cuộc chiến này thì “tất cả trở nên không chịu nổi và những sự xấu sẽ như các ung nhọt mọc lên trong tâm hồn chúng ta” (T. 22,21). Đối với Mẹ Mazzarello đó không phải là chủ nghĩa hoàn hảo, lại càng không phải là nỗ lực luân lý, nhưng là sự mạnh mẽ của linh hồn, của tự do nội tâm và của niềm vui. Ta chỉ trở nên tự do và vui vẻ khi ta thắng được chính mình, khi ta không còn lệ thuộc vào những ước muốn ấu trĩ và vào cái tôi bất kham của ta.
Nên thánh
Đối với Mẹ Mazzarello, đích điểm của hành trình thiêng liêng là nên thánh. Mẹ thường khuyên các chị em hãy nên thánh: “Nhưng đối với tu sĩ chúng ta, cứu rỗi linh hồn mà thôi thì chưa đủ, chúng ta phải làm thánh và làm ích cho nhiều linh hồn khác đang đợi chúng ta giúp họ, bằng các công việc tốt lành thánh thiện của ta” (T.18,3). Vậy, làm thánh không có nghĩa là ích kỷ quanh quẩn với chính mình, nhưng là phục vụ người khác. Đối với những người Hy Lạp thì chỉ điều gì là thánh mới có thể chữa lành được. Làm thánh trước tiên có nghĩa là trở nên vẹn toàn, đặt tất cả những gì vốn ở trong chúng ta vào trong ánh sáng của Thiên Chúa và để Thiên Chúa biến đổi và chữa lành. Điều được thoát ra khỏi sự thống trị của thế gian này là thánh.
Vậy, nên thánh có nghĩa là bảo vệ và che chở điều thánh thiện trong thế gian này. Mỗi con người có nơi mình một không gian thánh, không gian thinh lặng trong đó Thiên Chúa cư ngụ. Không gian này đã được thoát ra khỏi sự thống trị của thế gian. Nếu các tu sĩ bảo vệ được không gian mật thiết của Đấng Thánh nơi chính mình thì họ làm cho thế gian được rạng ngời và lành mạnh hơn. Từ đền thánh mật thiết này, tâm hồn họ có thể vọt trào cái gì đó tốt lành cho những người chung quanh.
Mẹ Mazzarello viết rằng chúng ta phải làm cho các linh hồn khác nên thánh. Nếu chúng ta bảo vệ Đấng Thánh nơi mình thì ta cũng có thể mở ra cho những người khác cánh cửa để họ bước vào đền thánh mật thiết của chính họ. Và nhờ điều này, chúng ta làm được một việc phục vụ quan trọng cho việc nhân bản hóa tròn đầy của họ. Vì mỗi người trở thành tốt lành và đích thực, nếu khám phá ra Đấng Thánh đang cư ngụ nơi họ. Việc góp phần làm người khác nên thánh cũng có nghĩa là làm cho con người thiết lập mối tương quan với Thiên Chúa, là Đấng Thánh và để họ trở nên người nhà của Ngài. Làm cho họ nên thánh có nghĩa là đổ đầy Thần Khí Chúa trong họ.
Chính Thiên Chúa là Đấng thánh hóa, nhưng Mẹ Mazzarello nhận thức rằng nó cũng là bổn phận của chúng ta, tức là nỗ lực thánh hóa chính bản thân mình và người khác. Hãy để cho Thần Khí Chúa hoạt động trong chúng ta. Ngang qua chúng ta, Thần Khí Chúa, Đấng chữa lành và thánh hóa, cũng tuôn đổ trên những người khác và thánh hóa họ.
Tương quan với các chị em
Trong cộng đoàn ở Saint-Cyr-Sur-Mer tại Pháp có những xung đột rõ ràng, do một vài chị em không chấp nhận Bề trên mới. Vì vậy, đã có sự căng thẳng tại nội bộ cộng đoàn. Thật thú vị để nhìn xem Mẹ Mazzarello đối diện với vấn đề thế nào. Ban đầu, Mẹ cổ võ một niềm tin tưởng nơi Bề trên: “Bây giờ, Mẹ hy vọng tất cả các con đã tin tưởng vào Bề trên của các con là chị Santina, chị rất tốt, tội nghiệp! Tại sao các con lại không muốn tín nhiệm chị?”
(T. 49,1). Mẹ Mazzarello không thấy nơi tính khí của vị Bề trên là nguyên do của vấn đề, nhưng vì các chị em thấy tất cả là màu đen: “Các con thấy đó, nhiều khi sự tưởng tượng của chúng ta làm cho ta thấy những sự việc tối tăm đen đủi, trong khi chúng trắng hoàn toàn, rồi những điều này còn làm cho chúng ta lạnh nhạt đối với các Bề trên và dần dần mất đi sự tin tưởng mà chúng ta phải có đối với các ngài. Rồi sự gì xảy ra? Chúng ta sẽ sống không ra gì và còn làm khổ cho vị Bề trên đáng thương của chúng ta nữa” (T. 49,2).
Điều quyết định cho một mối tương quan tốt đẹp với Bề trên và giữa các chị em với nhau là phải giải thoát mình khỏi bất cứ sự dọi phóng nào. Chúng ta thường dọi phóng trên những người khác điều mà ta không sao chấp nhận nơi chính mình. Rồi ta nhìn tất cả mọi sự đều đen tối. Cộng đoàn không là sự khó khăn, nhưng chúng ta làm cho nó ra khó khăn với những tưởng tượng của chúng ta. Ai có một tâm hồn đơn sơ thì nhìn thấy cái tốt nơi mọi người. Ai trốn tránh cái đen tối trong tâm hồn mình thì người ấy thấy sự đen tối ấy ở khắp nơi và nơi những người khác, rồi nghĩ là mình không thể sống với họ.
Trong các thư, Mẹ Mazzarello khuyên các chị em hãy sống hòa hợp với tất cả. Theo Mẹ, lý do không hòa hợp được với người chị em là do thành kiến: “Chung quy lại, đôi khi tất cả chỉ là những câu chuyện không đâu ta đặt vào đầu... Một người con yêu mến Chúa Giê-su thực sự thì sống hòa hợp với tất cả” (T 49,6). Những khó khăn của ta với các chị em xuất phát từ sự kiện là ta trộn lẫn các vấn đề của họ với vấn đề của ta. Những thương tích chưa được gạn lọc của ta liên kết với những cảm xúc của các chị em khác và cho ra một mớ những xúc cảm khiến ta không thể chịu nổi. Thế là ta suy ra là không thể sống nổi với những chị em này. Dường như điều Maria nói có vẻ là lẽ thông thường: “Ai yêu mến Chúa Giê-su thì hòa hợp với tất cả”, nhưng không phải thế. Chỉ ai đâm rễ sâu nơi Chúa Giê-su thì người ấy mới duy trì được một khoảng cách bên trong khỏi những thái độ thiếu trưởng thành của các chị em. Họ sẽ không chấp nhận ngay tất cả mọi người, nhưng bởi họ không đặt nền nơi chị em nhưng nơi Chúa Giê-su, nên họ sẽ không quá đòi hỏi các chị em.
Mẹ Mazzarello lên án những tưởng tượng tiêu cực nảy sinh nơi chúng ta, nó làm cho cuộc sống chúng ta nên nặng nề. Mẹ khuyên các chị em: “Các con hãy sớm gửi các tin tức cho Mẹ, hãy nhớ là Mẹ ước muốn các con sống vui, thật khốn nếu các con mơ tưởng hão huyền” (T. 49,7). Thuật ngữ “mơ tưởng” nói đến sự mộng mơ, nặn óc cách vô ích để rồi bi quan về thực tại (T. 49, ghi chú 5). Ở đây, một lần nữa Mẹ Mazzarello tóm lược những ước muốn của Mẹ cách hài hước. Điều kiện cho phép các chị em có thể cùng sống với nhau cách tốt đẹp là bỏ lại phía sau những suy nghĩ và tưởng tượng của mình để được giải thoát khỏi những dọi phóng trên người khác. Cần nhìn thấy người khác như họ là chứ không tưởng tượng điều ở phía sau những lời của họ hay tư cách của họ, bởi chúng ta không thể hiểu hết được hoặc còn bị che khuất. Ai có ánh nhìn bi quan trên người khác thì người ấy chỉ thấy nét tiêu cực nơi tha nhân. Con tim đơn sơ có ánh nhìn ngời sáng và tích cực. Và với ánh nhìn này họ nhìn thấy những điều tốt lành nơi mọi người.
Nhung nhớ Thiên đàng
Rất nhiều lần Mẹ Mazzarello nói về Thiên đàng trong các lá thư. Khi nói về cái chết của một người chị em, Mẹ nói cách vắn gọn rằng bây giờ chị ở trên Thiên đàng. Đôi lần, Mẹ trải nghiệm một chút ghen tị khi nghĩ tới một người chị em đã được vào Thiên đàng. Đối với Mẹ, Thiên đàng là được ở gần Chúa Giê-su và sống hạnh phúc. Trong một lá thư, Mẹ viết: “Con đã viết cho Mẹ rằng con đã nhìn thấy nhiều điều tuyệt vời ở Roma, nhưng Virginia thân yêu của Mẹ này, trên Thiên đàng chúng ta sẽ thấy những thứ còn đẹp hơn nhiều, có phải không? Hãy can đảm lên, cuộc đời này thì vắn vỏi và [trong] thời gian ngắn ngủi đó chúng ta hãy lo chiếm đoạt được những kho báu cho Thiên đàng” (T. 34,2).
Đối với Mẹ, mục đích của cuộc sống là đạt tới Thiên đàng. Trong các thư, Mẹ diễn tả rõ ràng là đừng sợ chết, còn hơn nữa, đôi lần Mẹ ao ước được ở với các chị em trên Thiên đàng. Mẹ viết cho các chị em truyền giáo ở xa là rất có thể Mẹ không còn dịp để gặp các chị em tại thế gian này nữa. Khoảng cách quá xa. Chắc chắn họ sẽ nhìn thấy nhau trên Thiên đàng.
Mẹ thường nhắc nhở các chị em hãy chuẩn bị kỹ càng cho giờ chết: “Điều cần thiết là chúng ta phải luôn chuẩn bị và tính sổ sách đời sống cho đúng, như thế giờ chết không làm chúng ta sợ hãi” (T. 33,3). Mẹ viết về sự chết với giọng điệu tín thác và hài hước. Mẹ không sợ chết, trái lại, Mẹ còn tin tưởng vào sự chết: “Các con thân mến của Mẹ, các con thấy đó, thỉnh thoảng thần chết đến. Bà Tử thần đến để chào thăm chúng ta!” (T 55,4). Mẹ viết về hai chị em đang đau bệnh: “Hình như tử thần đến gần để vuốt ve hai chị, nhưng hai chị lại không muốn biết tới nó” (T 55,3). Như thế, sự chết có cái gì rất thân thương: nó vuốt ve các con bệnh. Sự chết không xuất hiện như một quái vật khủng khiếp, nhưng như một người nữ đem đến cho chúng ta lời chào của Thiên Chúa. Qua những lời này cho thấy rõ là Mẹ Mazzarello đưa cái chết trong đời sống của mình và tư tưởng về sự chết không làm Mẹ hãi sợ, nhưng mời gọi sống cách ý thức và cao độ.
Sứ điệp của thánh nữ cho chúng ta hôm nay
Maria Mazzarello đã không để lại một giáo huấn để thảo luận về nó cách uyên bác. Thế nhưng, từ các lá thư của Mẹ lộ ra một linh đạo mà ngày nay vẫn có điều gì đó để nói với chúng ta. Đó là linh đạo của sự đơn sơ, cư ngụ nơi một con người, trở thành bình dị và rõ ràng qua việc gặp gỡ với Chúa Giê-su.
Từ các lá thư của Thánh nữ Maria Mazzarello, biểu lộ một tình yêu vĩ đại dành cho Thiên Chúa, cho Chúa Giê-su, cho Trinh Nữ Maria và cho những người khác. Các chị em đã cảm nhận tình yêu này và họ đã tín thác mọi sự nơi Mẹ.
Ngày nay, chúng ta có nguy cơ là viết và nghiên cứu linh đạo cách uyên bác. Linh đạo của Mẹ Mazzarello là linh đạo của cuộc sống. Linh đạo ấy đơn sơ vì đã vọt trào từ một tâm hồn đơn sơ. Nhà thần nghiệm Hy Lạp đã viết về con tim đơn sơ: Con tim đơn sơ trở nên một với Thiên Chúa. Và vì đã trở nên một, nên cũng chỉ biết đến Thiên Chúa duy nhất là nền tảng đích thực của đời sống. Con tim đơn sơ không có những mục tiêu phu thuộc: không muốn cho là quan trọng, không tự mình phục vụ Chúa, nhưng tự hiến trọn vẹn cho Ngài.
Chúa Giê-su nói về đôi mắt đơn sơ và trong sáng: “Nếu mắt của ngươi lành mạnh – có nghĩa là đơn sơ, trong sáng – thì cả thân thể ngươi cũng được chiếu sáng” (Lc 11,34). Con mắt đơn sơ thì nhìn thấy mọi sự như nó là, không trộn lẫn những dọi phóng riêng của mình trong việc nhận định thực tại. Nó nhìn tất cả mọi sự trong ánh sáng của Thiên Chúa.
Đối với các giáo phụ Hy Lạp, đơn sơ là đặc điểm của một con người đã trải nghiệm về Thiên Chúa, qua Ngài, họ được thống nhất với chính mình và với tất cả những gì ở trong họ. Sự đơn sơ có nghĩa là tất cả trong tôi đều được nâng cao tới sự hiệp thông với Thiên Chúa.
Mẹ Mazzarello không nói về thần học huyền bí. Nhưng sự đơn sơ của cõi lòng cho thấy Mẹ đã cảm nghiệm được Thiên Chúa và chẳng có gì thuộc về nhân loại lại xa lạ với Mẹ. Chính vì vậy, Mẹ có thể nói về những yếu đuối nhân loại với tình mến, không chút khinh miệt. Linh đạo của Mẹ không mang một âm điệu luân lý của người lên án việc không tuân giữ các giới luật. Đối với Mẹ Mazzarello, tất cả là tự nhiên: tình yêu Thiên Chúa, và cả những yếu đuối nhân loại cũng thế. Nếu Mẹ thường khuyên các chị em vượt qua những tưởng tượng tiêu cực là bởi Mẹ cũng muốn vun trồng cả nơi những người khác sự đơn sơ của cõi lòng.
Ai có sự đơn sơ trong tâm hồn và trong ánh mắt, sẽ nhìn thấy tha nhân trong con người thật của họ. Ngang qua vỏ bọc bên ngoài của các khuyết điểm thuộc về tâm lý, họ biết nhìn rõ trong thâm sâu của tâm hồn sự thiện mà mỗi người đều khao khát.
Mẹ Mazzarello có được sự đơn sơ của cõi lòng do Mẹ chỉ tìm một điều duy nhất: yêu mến Chúa Giê-su, thưởng nếm tình yêu của Ngài và làm cho những người được trao phó cho Mẹ được hạnh phúc.
Mẹ có thể diễn tả sự đơn sơ này với ngôn từ thánh thiện. Đơn sơ và sự thánh thiện cùng song hành. Thánh là người lành thánh và trọn vẹn. Người đơn sơ thì nên một với Thiên Chúa và thống nhất chính mình.
Đơn sơ vừa là cõi lòng trong sạch - mà đối với các đan sĩ thời cổ đó là mục đích của đời sống thiêng liêng - vừa là sự tự do nội tâm. Theo Gioan Cassiano, trong sạch của cõi lòng là tình yêu, một tình yêu không bị pha trộn với tham vọng sở hữu và khát vọng ấu trĩ. Ai đã đạt tới sự trong sạch của cõi lòng thì giải thoát mình khỏi mọi tính toán và những dọi phóng. Họ không đánh giá theo mức độ tình cảm hay sự chối từ của người khác, hoặc ở mức độ thành công hay thất bại. Họ chỉ nhận định và đánh giá trên nền tảng Thiên Chúa.
Đối với tôi, khi đọc các thư của Maria Mazzarello thì sứ điệp quan trọng nhất là: “Trở nên đơn sơ! Tín thác vào tình yêu! Đừng phức tạp như bạn nghĩ. Hãy yêu một cách đơn sơ và hãy vui lên!”. Linh đạo của Maria Mazzarello là giải phóng khỏi những suy diễn phức tạp. Nó cũng là giải phóng khỏi tâm thức luân lý và hẹp hòi, phổ biến rộng rãi cả trong Giáo hội vào những năm 1800. Mẹ đã hít thở sự rộng lớn, niềm vui, sự đơn sơ và nét trong sáng.
Trong thế giới đa phức của chúng ta, tôi thấy sứ điệp mà hôm nay Thánh nữ cống hiến là: “Hãy tìm cách nâng tâm hồn bạn và tất cả những gì ở trong bạn lên tới sự hiệp thông với Thiên Chúa. Bạn sẽ thấy tất cả trở thành đơn sơ và trong sáng, như bạn trở thành một với chính mình và với những người khác. Nếu con tim của bạn được soi sáng thì nó sẽ được đong đầy bằng một niềm vui mà dẫu cho những thăng trầm của cuộc sống sẽ không thể làm bạn nao núng. Bởi vì nó có nguồn mạch ở trong tình yêu Thiên Chúa.
Bạn không được sợ hãi về những vùng tăm tối của bạn, về những khuyết điểm và về những yếu đuối của bạn. Cả nó cũng được nhận chìm trong Thiên Chúa. Nhờ sức mạnh của sự kết hiệp này bạn sẽ có thể thực hiện sự phục vụ của bạn cách đơn sơ và đưa người tiếp cận bạn tới hiện hữu đích thực của họ, tới sự thống nhất thâm sâu trong tâm hồn họ”.
Chú thích
45 Đan sĩ dòng Biển Đức thuôc Đan viện Munsterschwarzach (Đức) đã góp phần vào việc chuẩn bị cho xuất bản các lá thư của Thánh nữ Maria Mazzarello bằng tiếng Đức. Bản dịch của sơ Giovanna Zacconi và sơ Gertrud Stickler (x. Posada-Costa-Cavaglia).