Chương 5 – Hy tế sống động của tình yêu
Chúng ta dễ bị cám dỗ nghĩ rằng khi quyết tâm dứt khoát bước theo con đường nên thánh, cuộc sống sẽ trở nên nhẹ nhàng hơn. Ở một khía cạnh nào đó, điều ấy là đúng. Tuy nhiên, sự thánh thiện và đau khổ không loại trừ nhau. Nói cách khác, việc dấn thân nên thánh không có nghĩa là cuộc đời bạn sẽ không còn đau khổ, nhưng là đau khổ của bạn sẽ được biến đổi.
Hãy nhìn vào chính cuộc đời Đức Giêsu: Ngài là Đấng trọn hảo, nhưng cũng đã chịu đau khổ đến tột cùng. Đau khổ không phải là dấu hiệu Thiên Chúa bỏ rơi bạn; trái lại, đó là một phần bình thường của đời sống Kitô hữu triệt để giữa một thế giới sa ngã. Vì thế, chính Con Thiên Chúa cũng đã chịu tác động sâu xa bởi đau khổ.
Và ta có thể nói rằng “con đường” nên thánh được dệt nên từ ba nhân đức này; nhưng “sự thánh thiện” chỉ thực sự đạt tới khi các nhân đức ấy được thể hiện trong những đau khổ hằng ngày mà bạn đón nhận, ôm lấy và kết hiệp với quyền năng biến đổi của Thập Giá. Khi ba nhân đức ấy được sống giữa những thập giá đời thường, hoa trái trổ sinh là một lối sống hiến dâng – điều mà ta gọi là “đau khổ cứu độ.” Chương này sẽ khám phá cách thức một người sống khiêm nhường, tín thác và xót thương đón nhận đau khổ thế nào, để chính đau khổ của họ trở nên có giá trị cứu độ và thấm đượm sức mạnh thánh thiêng. Dù đây là những thực tại sâu xa, nhưng lại rất thực tế và thiết yếu, để chúng ta biết sống những điều ấy giữa những đau khổ thường ngày của cuộc đời.
Tại sao một Thiên Chúa đầy yêu thương lại để chúng ta phải đau khổ?
Chúng ta hãy bắt đầu với một câu hỏi rất căn bản nhưng quan trọng: Tại sao chúng ta phải đau khổ? Làm sao một Thiên Chúa toàn năng và tràn đầy yêu thương lại có thể để đau khổ xảy ra trong cuộc đời chúng ta? Làm sao Thiên Chúa lại để những người vô tội phải đau khổ? Đây là những câu hỏi quan trọng, vì thoạt đầu chúng dường như đặt ra một mâu thuẫn. Lập luận thường được nêu lên như sau: Nếu Thiên Chúa là Đấng toàn năng, thì Ngài có thể làm được mọi sự. Và nếu Ngài là Đấng đầy yêu thương, thì Ngài chỉ muốn điều tốt nhất cho chúng ta. Đau khổ không phải là một kinh nghiệm dễ chịu đối với con người. Vì thế, theo lý lẽ này, Thiên Chúa lẽ ra phải loại bỏ đau khổ khỏi cuộc đời chúng ta nhờ quyền năng trọn hảo của Ngài.
Nếu lập luận cơ bản này đứng vững, thì quả thật chúng ta đang đối diện với một vấn đề. Chúng ta biết rằng đau khổ vẫn hiện diện trong thế giới, và đôi khi ngay cả những người vô tội cũng phải chịu đau khổ nặng nề. Vậy chúng ta phải kết luận thế nào? Có phải điều đó có nghĩa là Thiên Chúa không hoàn toàn yêu thương và/hoặc không toàn năng? Chắc chắn là không! “Câu trả lời” của Thiên Chúa trước đau khổ không phải là loại bỏ nó theo một cách đơn giản; trái lại, Ngài đã thực hiện một điều cao cả hơn nhiều: Ngài biến đổi đau khổ thành của lễ hiến dâng, nhờ đó “loại bỏ” nó bằng chính sự biến đổi ấy. Vì thế, mọi hình thức đau khổ mà chúng ta trải qua giờ đây đều mang trong mình khả năng trở nên khí cụ của ân sủng. Và đó là một điều thật vinh quang! Chỉ có Thiên Chúa mới có thể thực hiện một điều kỳ diệu và vượt quá trí hiểu như thế.
Khi tạo dựng con người, Thiên Chúa ban cho chúng ta tự do. Và với tự do ấy, chúng ta có thể chọn yêu thương hoặc chọn tội lỗi. Đó chính là ý nghĩa của tự do: chúng ta có thể yêu hoặc ghét, có thể trở nên xót thương hay khắc nghiệt, sống nhân đức hoặc sa vào tội lỗi.
Điều quan trọng cần hiểu là: Nếu Thiên Chúa loại bỏ đau khổ theo một cách đơn giản, thì Ngài cũng sẽ phải loại bỏ tự do của chúng ta. Tại sao? Bởi vì chính tự do của chúng ta, khi chọn tội lỗi, rốt cuộc trở thành căn nguyên của đau khổ trong thế giới này. Tuy nhiên, tự do ấy cũng là phương thế mang lại sự viên mãn sâu xa cho con người khi chúng ta chọn yêu thương. Vì thế, nếu Thiên Chúa loại bỏ tự do, Ngài cũng sẽ loại bỏ khả năng chúng ta tự do yêu mến Ngài và yêu thương tha nhân.
Việc con người phạm tội, trải qua bệnh tật, mệt mỏi, hoang mang, giận dữ và sau cùng là cái chết—liệu có phải là điều “tự nhiên” không? Có lẽ bạn sẽ trả lời “Có” cho câu hỏi tưởng chừng đầy u buồn này. Tuy nhiên, xét cách nghiêm ngặt, không điều nào trong số đó thuộc về “bản tính nguyên thủy” của con người. Nhưng hiện nay, chúng là một phần của bản tính nhân loại sa ngã nơi chúng ta.
Từ khởi đầu, Thiên Chúa đã dựng nên bản tính con người trong một trật tự hoàn hảo nơi chính nội tâm: trí khôn sáng suốt, cảm xúc quân bình, các đam mê được điều hướng đúng trật tự, và thân xác không phải chịu bệnh tật hay sự chết. Toàn thể thế giới thụ tạo cũng ở trong trật tự hài hòa như thế. Bệnh tật, hỗn loạn và sự chết không hiện diện trong cảnh địa đàng nguyên thủy do Thiên Chúa tạo dựng. Tuy nhiên, khi tổ tông loài người tự do chọn lựa bất tuân và phạm tội, thế giới tự nhiên cùng chính bản tính con người đã phải chịu ảnh hưởng của tội nguyên tổ, do hậu quả của sự xa lìa Thiên Chúa phát sinh từ chính tội lỗi ấy.
Điều quan trọng là cần phân biệt rõ bản tính con người như đã được Thiên Chúa tạo dựng lúc ban đầu và bản tính sa ngã như chúng ta đang trải nghiệm sau tội lỗi. Thiên Chúa đã dựng nên chúng ta và thế giới trong sự hoàn hảo. Nhưng hiện nay, cả chúng ta lẫn thế giới chúng ta đang sống đều không còn ở trong tình trạng hoàn hảo nguyên thủy ấy nữa. Thế giới tự nhiên giờ đây đầy dẫy sự hỗn loạn (như bệnh tật và sự chết). Chúng ta phải chịu mọi hậu quả thể lý, tâm lý và cảm xúc của một thế giới đã sa ngã.
Đồng thời, chúng ta cũng phải chịu các hậu quả thiêng liêng của bản tính nhân loại sa ngã. Những hậu quả thiêng liêng này được gọi là “tư dục” (concupiscence), tức là sự hướng chiều lệch lạc nơi con người lôi kéo chúng ta về phía tội lỗi. Chúng ta kinh nghiệm sự cám dỗ và xu hướng hành động theo tính ích kỷ. Tổ tông loài người đã không hề có khuynh hướng này trong tình trạng Công Chính Nguyên Thủy, và điều đó cho thấy việc họ tự do chọn lựa phạm tội (Tội Nguyên Tổ) là một hành vi vô cùng nghiêm trọng. Họ đã hoàn toàn tự do chọn xa lìa Thiên Chúa. Hệ quả là toàn thể công trình tạo dựng rơi vào tình trạng hỗn loạn. Xét về hậu quả thiêng liêng của sự sa ngã, chúng ta, con cháu của Ađam và Evà, cảm nghiệm nơi mình một khuynh hướng nghiêng về tội lỗi, khiến việc sống thánh thiện trở nên khó khăn. Chúng ta trải qua nhiều xáo trộn nội tâm và sự bối rối, và vì thế thường xuyên sa ngã phạm tội.
Một lần nữa, hãy nhớ lại lời thánh Phaolô được trích ở chương hai: “Bởi đó tôi khám phá ra luật này: khi tôi muốn làm sự thiện thì lại thấy sự ác xuất hiện ngay. Theo con người nội tâm, tôi vui thích vì luật của Thiên Chúa; nhưng trong các chi thể của tôi, tôi lại thấy một luật khác: luật này chiến đấu chống lại luật của lý trí và giam hãm tôi trong luật của tội là luật vẫn nằm sẵn trong các chi thể tôi.” (Rm 7,21-23). Trong đoạn này, thánh Phaolô diễn tả kinh nghiệm nội tâm về tư dục (concupiscence). Cuộc chiến đấu nội tâm nơi bản tính nhân loại đã sa ngã này là một hệ quả phát sinh từ tội nguyên tổ, và cũng là kinh nghiệm mà mỗi người chúng ta đều trải qua hằng ngày.
Đồng thời, hãy suy gẫm về cuộc chiến rất thực nơi chính bạn với những suy nghĩ rối loạn và mơ hồ. Tâm trí chúng ta không thể tự mình hiểu thấu ý nghĩa cuộc sống nếu không có ân sủng. Sự giằng co nội tâm này, vốn là kinh nghiệm chung của tất cả chúng ta, cũng khởi phát từ bản tính nhân loại sa ngã. Nó kéo theo những đau khổ nội tâm như lo âu, dằn vặt tinh thần, cảm xúc bất an và những điều tương tự.
Sự đau khổ thể xác cũng là hệ quả của bản tính sa ngã nơi con người. Chẳng hạn, hãy nhìn đến kinh nghiệm đau đớn của một cơn bệnh nặng. Trong tình trạng Công Chính Nguyên Thủy, tổ tông loài người không phải chịu bất kỳ bệnh tật thể xác nào cũng như những đau khổ phát sinh từ đó. Sự đau khổ và cái chết không phải là ý định nguyên thủy của Thiên Chúa trong kế hoạch tạo dựng con người. Chúng ta vốn được dựng nên để sống đời đời.
Đón nhận đau khổ
Câu hỏi thực tiễn được đặt ra là: Làm thế nào để đón nhận những đau khổ phát sinh từ bản tính nhân loại sa ngã—những điều không thể tránh khỏi—để cho Thiên Chúa biến đổi chúng? Dù câu trả lời rất đơn sơ trong cách diễn tả, nhưng lại không dễ sống cho đến khi thói quen sống hy sinh được hình thành cách vững chắc. Vì thế, câu trả lời là hãy trở về với ba nhân đức: khiêm nhường, tín thác và thương xót, và tìm cách gìn giữ chúng luôn sống động trong đời bạn giữa mọi thử thách bạn phải chịu đựng. Những nhân đức này không chỉ giúp bạn “loại bỏ” các hình thức đau khổ khỏi cuộc đời, nhưng còn giúp bạn “loại bỏ” chúng theo nghĩa sâu xa hơn, bằng cách chữa lành và nâng cao chính căn nguyên của chúng. Những nhân đức ấy sẽ soi sáng tư duy, củng cố ý chí, và giúp bạn mỗi ngày biết chọn đón nhận những hậu quả của tội lỗi trong tinh thần hy sinh.
Chẳng hạn, giả sử bạn gặp phải một căn bệnh nghiêm trọng và sau cùng dẫn đến cái chết. Căn bệnh ấy kéo theo nhiều tháng trời đau khổ. Vậy bạn phải làm gì? Có người sẽ bị nuốt chửng bởi sự giận dữ, tự thương hại và tuyệt vọng. Có người tìm cách kết thúc nhanh hơn qua an tử. Tuy nhiên, cũng có những người đón nhận mọi đau khổ mà căn bệnh ấy mang lại, ngày qua ngày sống tinh thần khiêm nhường, phó thác trọn vẹn hơn cho Thiên Chúa, và hướng mắt về những người thân yêu để an ủi họ và trao ban lòng thương xót cho họ. Dù tuyệt vọng, giận dữ và tự thương hại ở một mức độ nào đó là điều có thể hiểu được, nhưng cần phải nhận ra rằng đó không phải là lý tưởng mà ta được mời gọi đạt tới. Lý tưởng là để cho những đau khổ bạn chịu đựng được kiện toàn các nhân đức khiêm nhường, tín thác và thương xót trong đời bạn, nhờ đó chính đau khổ được biến đổi và nhiều ân sủng sẽ tuôn tràn từ cuộc sống của bạn.
Trong trường hợp này, việc đón nhận đau khổ và cái chết cách thánh thiện sẽ sinh nhiều hoa trái tốt lành trong đời bạn và trong đời sống của những người yêu thương bạn. Ngược lại, việc khước từ đau khổ trong trường hợp này sẽ dẫn đến nhiều đau khổ hơn. Điều này dễ nói hơn nhiều so với việc sống. Tuy nhiên, nếu bạn tìm cách sống các nhân đức khiêm nhường, tín thác và thương xót trong suốt đời mình, đặc biệt khi gặp phải những đau khổ nghiêm trọng, thì việc tiếp tục bước đi trên con đường nhân đức và tự do sẽ trở nên dễ dàng hơn. Chính những thói quen ấy sẽ nâng những đau khổ mới và dữ dội hơn của bạn lên thành đau khổ mang giá trị cứu độ, khi chúng được sống như một hành vi của tình yêu hy sinh. Nhờ đó, muôn ơn phúc sẽ được tuôn tràn qua cuộc đời bạn và lan tỏa đến những người bạn gặp gỡ mỗi ngày.
Đau khổ do tội lỗi của người khác:
Đau khổ cũng có thể xảy đến như hậu quả của tội lỗi nơi người khác. Có những tội trực tiếp liên quan đến bạn với chủ ý gây đau khổ cho bạn; nhưng cũng có những tội chỉ gián tiếp liên quan đến bạn mà vẫn khiến bạn phải đau khổ như một hậu quả ngoài ý muốn.
Một ví dụ của trường hợp sau (đau khổ như hậu quả ngoài ý muốn) có thể là việc ban hành một đạo luật bất công. Một luật bất công xuất phát từ suy nghĩ và sự tự do lựa chọn của người lập pháp, và vì thế, xét cho cùng, là hậu quả của tội lỗi cá nhân (hoặc có thể của nhiều người). Theo thời gian, nếu đạo luật đó gây thiệt hại bất công cho bạn, thì bạn đang chịu đau khổ do tội lỗi của người khác. Những ví dụ khác về đau khổ do tội lỗi của người khác một cách gián tiếp gồm: 1) Một tài xế say rượu gây tai nạn và làm bạn bị thương; 2) Một cố vấn tài chính thiếu trách nhiệm trong việc quản lý quỹ hưu trí của công ty khiến bạn mất phần lớn tiền tiết kiệm; 3) Người đời của bạn vi phạm pháp luật và bị giam giữ, gây đau khổ lớn cho cả gia đình. Dĩ nhiên, còn nhiều tình huống khác trong đó tội lỗi của người khác vô tình gây ra tổn hại cho người khác.
Đáng buồn thay, đôi khi tội lỗi của người khác lại cố ý hướng đến bạn với mục đích trực tiếp là gây tổn thương cho bạn. Chẳng hạn, giả sử bạn mất việc vì sự căm ghét của người chủ. Ông ấy là một người bất hạnh vì ghét bạn vô cớ. Vì thế, ông quyết định gây đau khổ cho bạn bằng cách sa thải bạn, khiến cuộc sống của bạn và gia đình phải chịu nhiều tổn thương. Khi phải trải qua một sự đối xử bất công như thế, bạn đứng trước một chọn lựa: hoặc phản ứng bằng sự căm giận và ước muốn trả thù, hoặc kết hợp những đau khổ mình đang chịu với đau khổ của Đức Kitô để “bù đắp những gì còn thiếu trong cuộc thương khó của Người.” Điều quan trọng cần hiểu là việc bạn kết hợp đau khổ này với Thập Giá Đức Kitô không có nghĩa là cho rằng sự lạm dụng hay bất công ấy là điều chấp nhận được. Trái lại, khi kết hợp nó với Thập Giá, bạn nhìn nhận đó là một sự bách hại bất công. Nhưng khi bạn chọn đối diện với bất công ấy bằng lòng thương xót và sự tha thứ, đồng thời luôn hướng nhìn về thánh ý Thiên Chúa, bạn tước mất sức mạnh của sự bất công đã gây ra cho mình. Hơn nữa, bạn còn để cho bất công do tội lỗi của người chủ gây nên được biến đổi. Sự dữ giờ đây trở thành nguồn phát sinh ân sủng và lòng thương xót cho thế giới, nhờ việc bạn chọn đem ân sủng và lòng thương xót vào chính hoàn cảnh đau thương ấy. Qua hành động đó, bạn làm cho tình yêu hy sinh của chính Đức Kitô được hiện diện sống động giữa thời gian và không gian này.
Một vài ví dụ rõ ràng khác về những tội lỗi trực tiếp chống lại bạn có thể là: 1) Có người trộm cắp tài sản của bạn; 2) Có người xúc phạm hoặc gây tổn thương thể xác cho bạn vì giận dữ hay ác ý; 3) Có người cố tình nói xấu bạn nhằm làm tổn hại thanh danh của bạn. Trong những trường hợp ấy, những tổn thương phải chịu dễ khiến nhiều người quay lưng lại với các nhân đức khiêm nhường, tín thác và thương xót. Phản ứng tức thời trước những bất công ấy có thể là sự tức giận. Và dù sự tức giận đó phần nào có thể hiểu được, bạn vẫn cần cẩn trọng để không chìm đắm trong vết thương ấy hoặc để lòng mình rơi vào hận thù và tuyệt vọng.
Người sống các nhân đức khiêm nhường, tín thác và thương xót sẽ dễ dàng đáp lại tội lỗi của người khác bằng chính tinh thần của các Mối Phúc: “Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ. Phúc cho anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa. Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao. Quả thật, các ngôn sứ trước anh em cũng đã từng bị người ta bách hại như thế” (Mt 5,10-12).
Hãy đọc lại chương bốn của cuốn sách này về lòng thương xót mà bạn được mời gọi trao ban cho người khác khi họ xúc phạm đến bạn. Mục đích của chương này và của những suy tư trên là giúp bạn nhận ra rằng ngay cả những tội lỗi người khác phạm đến bạn cũng có thể được biến đổi thành tình yêu hy sinh. Thật không dễ để tránh phản ứng bằng sự tức giận khi tội lỗi của người khác gây tổn thương cho bạn, nếu bạn chưa thực sự hình thành sâu xa các thói quen sống khiêm nhường, tín thác và thương xót. Nhưng khi các thói quen sống nhân đức ấy biến đổi những đau khổ bất công bạn phải chịu, thì chính vết thương ấy sẽ mất đi sức mạnh đè nặng trên cuộc đời bạn. Điều đó vẫn đúng ngay cả khi người xúc phạm đến bạn không hối cải. Dẫu vậy, bạn vẫn giữ được tự do để yêu thương, để “vui mừng” trong cuộc sống và tiếp tục bước đi trên con đường nên thánh, bất chấp những bất công bạn phải chịu. Vì thế, trong lời mời gọi cao cả của tình yêu hy sinh, những đau khổ bất công bạn chịu đựng thực sự còn sinh nhiều hoa trái tốt lành cho thế giới hơn cả trường hợp bạn chưa từng bị ai xúc phạm. Điều này cho thấy rằng tội lỗi con người không thể ngăn cản quyền năng của thánh ý Thiên Chúa, khi các thánh của Ngài để cho đau khổ ấy được biến đổi trong đời mình.
Đau khổ do chính tội lỗi của mình:
Hình thức đau khổ nặng nề nhất mà bạn có thể phải chịu trong cuộc đời này chính là đau khổ do những tội lỗi cá nhân của mình gây ra. Nỗi đau ấy luôn cay đắng, bởi tội lỗi trực tiếp làm con người xa lìa Thiên Chúa, nguồn mạch của mọi niềm vui và sự viên mãn. Khi bạn không sám hối về tội lỗi mình đã phạm, tội lỗi ấy không mang lại điều tốt đẹp nào, nhưng tiếp tục gây nên nơi bạn những đau khổ sâu xa trong tâm hồn. Tuy nhiên, khi bạn thực lòng ăn năn hoán cải, thì ngay cả những đau khổ do tội lỗi gây ra cũng có thể được biến đổi thành ân sủng nhờ lòng thương xót của Thiên Chúa. Vì thế, những đau khổ phát sinh từ tội lỗi cá nhân không thể trở thành đời sống hy sinh nếu bạn chưa sám hối và hòa giải với Thiên Chúa. Và nếu tội lỗi ấy xúc phạm đến người khác, thì cần phải có sự hoán cải thật lòng trước khi chính tội lỗi bạn đã phạm có thể được biến đổi và nâng lên thành một hành vi của tình yêu hy sinh.
Chẳng hạn, hãy tưởng tượng bạn đang vật lộn với cơn giận và để cho nó âm ỉ lớn dần cho đến khi bộc phát cách nghiêm trọng, gây tổn thương sâu nặng cho những người bạn yêu thương. Khi tội lỗi của sự nóng giận hướng về những người thân yêu, nhất là khi điều ấy trở thành thói quen, nó sẽ gây tổn hại nặng nề cho các mối tương quan ấy. Dù các mối tương quan của bạn bị tổn thương vì tội lỗi đó, nhưng thiệt hại nghiêm trọng nhất lại chính là nơi bản thân bạn. Điều này không nhằm giảm nhẹ những tổn thương bạn gây ra cho người khác, nhưng để cho thấy rằng tội lỗi thật phi lý ngay cả dưới cái nhìn ích kỷ nhất, bởi nó hủy hoại chính linh hồn bạn.
Tin mừng là nếu bạn thật lòng sám hối, biết bày tỏ sự ăn năn và chân thành đổi mới cuộc sống, thì Thiên Chúa có thể làm nên những điều kỳ diệu từ những tổn thương của quá khứ. Điều ấy càng trở nên đẹp đẽ hơn khi sự ăn năn của bạn được bày tỏ, được đón nhận, và cơn giận được thay thế bằng một nhân đức mới—đó là lòng thương xót bền bỉ dành cho những người bạn đã làm tổn thương. Khi điều đó xảy ra, Thiên Chúa không chỉ chữa lành những vết thương cũ, mà còn có thể biến chính những vết thương ấy thành nguồn mạch mới của tình yêu. Điều này đặc biệt đúng vì việc tha thứ cho những tổn thương trong quá khứ đòi hỏi một lòng thương xót rất lớn, cả nơi bạn lẫn nơi người đã bị bạn làm tổn thương. Nhưng nếu lòng thương xót được trao ban cho nhau, thì chính những lỗi lầm trong quá khứ lại có thể làm nảy sinh một tình yêu hy sinh sâu xa hơn, và đưa mối tương quan ấy đến một chiều sâu mới của yêu thương.
Điều này không dễ dàng, bởi để tội lỗi được biến đổi, cần có một sự khiêm nhườsng, tín thác và lòng thương xót thật lớn lao. Nhưng nếu điều ấy xảy ra, thì tình yêu được thanh luyện qua lòng thương xót và sự hy sinh sẽ làm cho mối tương quan của bạn trở nên bền chặt hơn cả khi chưa từng có tổn thương cần được tha thứ. Như chúng ta vẫn hát trong Đêm Vọng Phục Sinh: “Ôi tội hồng phúc, vì đã đem đến cho chúng ta một Đấng Cứu Độ cao cả dường ấy!” Điều này cũng đúng trong tương quan của bạn với Thiên Chúa. Dù tội lỗi không bao giờ là điều đáng mong muốn, nhưng thật an ủi khi biết rằng: nếu sau mỗi lần sa ngã, bạn biết đứng lên, sám hối và thực sự đổi mới đời mình, thì bạn sẽ trở nên mạnh mẽ hơn và yêu mến Thiên Chúa với một chiều sâu mới. Chính tội lỗi và những đau khổ nó gây ra cũng có thể, và cần phải, được biến đổi.
Khi những lỗi lầm bạn vấp phạm để lại những hậu quả lâu dài (chẳng hạn như phải ngồi tù, ly dị dân sự, mất đi một tình bạn vĩnh viễn…), Thiên Chúa không muốn bạn mãi chìm đắm trong đau khổ, mặc cảm hay xấu hổ. Trái lại, Ngài mời gọi bạn mỗi ngày dâng những đau khổ ấy hiệp cùng Thập Giá Đức Kitô. Khi đó, chính những đau khổ dai dẳng ấy sẽ trở thành một hy lễ liên lỉ, và vì thế, cũng trở thành một hành vi liên lỉ của sự khiêm nhường, tín thác và lòng thương xót trong đời bạn.
Một nguồn gốc nhiệm mầu của đau khổ nội tâm
Cũng cần nói thêm rằng có một hình thức đau khổ nội tâm khác đôi khi xảy đến với những ai đang nỗ lực nên thánh. Đó là sự đau khổ thiêng liêng của đêm tối tâm hồn. Hãy nhớ lại lời Đức Giêsu trên Thập Giá: “Lạy Thiên Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mt 27,46). Khi ở trên Thập Giá, Đức Giêsu đã trải qua một sự tối tăm sâu thẳm trong tâm hồn và cảm nghiệm mang tính nhân loại về sự xa cách với Chúa Cha. Vì thế, Người đã kêu lên bằng lời của Thánh Vịnh 22. Khi đọc trọn Thánh Vịnh ấy, ta sẽ thấy rằng lời cầu nguyện ấy kết thúc bằng một niềm tín thác giữa lúc dường như bị Thiên Chúa bỏ rơi. Khi đón nhận kinh nghiệm nhân loại này—kinh nghiệm mang theo nỗi đau nội tâm tột cùng—Đức Giêsu đã kiện toàn bản tính nhân loại trong đức tin, để cho chúng ta xác tín sâu xa rằng Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi con người chúng ta.
Đôi khi, Thiên Chúa dường như giữ im lặng trước một số người đang tìm kiếm Ngài. Dĩ nhiên, Ngài luôn hiện diện và không bao giờ bỏ rơi họ. Thế nhưng, Ngài vẫn để họ cảm nghiệm sự thinh lặng ấy, khiến họ phải chịu một nỗi đau sâu xa vì tưởng như Ngài vắng mặt, để trao cho họ cơ hội kiện toàn đức tin của mình. Trong những lúc ấy, họ được mời gọi sống khiêm nhường, đặt mọi sợ hãi và những khát vọng ích kỷ của mình trong tay Thiên Chúa, Đấng luôn biết điều gì là tốt đẹp nhất cho họ. Mục đích là giúp họ đào sâu lòng tín thác vào Thiên Chúa theo cách mà họ sẽ không thể đạt được nếu luôn cảm thấy sự an ủi của Ngài. Điều đó cũng mở ra cơ hội để họ đón nhận lòng thương xót của Ngài cách tinh tuyền và trọn vẹn hơn, đồng thời kết hợp những đau khổ nhân loại với hy tế duy nhất của Đức Kitô.
Đây là một ân sủng, và cụ thể hơn, là một ân sủng được ban cho một số người qua một thử thách thiêng liêng phát xuất trực tiếp từ Thiên Chúa. Thiên Chúa sẽ không để ai phải trải qua thử thách ấy nếu điều đó không đem lại ích lợi cho họ. Nhưng nếu bạn nhớ rằng đau khổ giờ đây đã được cứu chuộc và mang trong mình một sức mạnh thiêng liêng lớn lao, thì bạn sẽ hiểu rằng: đôi khi Thiên Chúa cho phép những đau khổ thiêng liêng ấy xảy đến chỉ để làm cho con người trở nên khí cụ hữu hiệu hơn của ân sủng Ngài giữa thế giới. Tuy nhiên, bạn cũng không cần quá bận tâm về điều này, bởi Thiên Chúa biết rõ điều gì bạn cần và khi nào bạn cần đến. Và hình thức đau khổ này chỉ được ban khi nó thực sự mang lại ích lợi cho việc thánh hóa linh hồn bạn và linh hồn người khác.
Thánh Gioan Thánh Giá là bậc thầy linh đạo vĩ đại và là Tiến sĩ Hội Thánh đã viết cách rõ ràng và sâu sắc nhất về kinh nghiệm thiêng liêng này. Các tác phẩm của ngài như Đường Lên Núi Cát Minh, Đêm Tối Linh Hồn, Thánh Ca Thiêng Liêng và Ngọn Lửa Tình Yêu Hằng Sống là bốn tác phẩm linh đạo kinh điển, trong đó ngài trình bày mầu nhiệm sâu thẳm về tình yêu thanh luyện của Thiên Chúa. Chẳng hạn, trong Ngọn Lửa Tình Yêu Hằng Sống, ngài đã viết cách đầy chất thi ca:
Ôi ngọn lửa sống động của tình yêu,
Ngọn lửa dịu dàng chạm thấu linh hồn con
Nơi tận cùng sâu thẳm nhất!
Giờ đây, Ngài không còn thiêu đốt con trong đau thương nữa,
Xin hãy hoàn tất công trình của Ngài, nếu đẹp ý Ngài: Hãy xé toang bức màn của cuộc gặp gỡ ngọt ngào này!
Ôi ngọn lửa thanh luyện dịu ngọt,
Ôi thương tích dịu êm!
Ôi bàn tay hiền hậu! Ôi cái chạm dịu dàng
Mang hương vị của sự sống đời đời
Và đền bù mọi món nợ!
Trong chính cái chết, Ngài đã biến đổi tử thần thành sự sống.
Mầu nhiệm sâu xa của đời sống thiêng liêng này—nơi Thiên Chúa thanh luyện linh hồn chúng ta qua một “vết thương tình yêu” thiêng liêng—quả thật vẫn mãi là một mầu nhiệm thẳm sâu. Tuy nhiên, sẽ rất hữu ích nếu chúng ta hiểu rằng thánh Gioan Thánh Giá, thánh Têrêsa Calcutta cùng nhiều vị thánh khác đã từng viết về kinh nghiệm này với một chiều sâu đặc biệt.
Ơn gọi đặc biệt của đời sống hy sinh
Trong Nhật Ký Lòng Thương Xót Chúa, thánh Faustina Kowalska đã thuật lại việc Đức Giêsu mặc khải cho chị về một ơn gọi đặc biệt đối với đau khổ và sức mạnh chứa đựng trong việc tự nguyện đón nhận đau khổ ấy. Chị được mời gọi trở nên một “hy lễ của tình yêu sống động.” Dù những lời huấn dụ thiêng liêng này thoạt đầu có thể khiến người ta ngỡ ngàng, nhưng hãy đọc thật chậm rãi và mở lòng trước sức mạnh sâu xa của sứ điệp ấy. Phần còn lại của chương này sẽ dành để suy tư chi tiết về lời mời gọi cao cả của tình yêu hy sinh này.
Huấn dụ về hy sinh và cầu nguyện
“Hỡi con gái của Cha, Cha muốn dạy con cách cứu các linh hồn bằng hy sinh và cầu nguyện. Con sẽ cứu được nhiều linh hồn nhờ cầu nguyện và đau khổ hơn là một nhà truyền giáo chỉ bằng những bài giảng dạy và thuyết giáo. Cha muốn thấy con trở thành một hy lễ của tình yêu sống động, vì chỉ khi ấy hy lễ con dâng mới thực sự có giá trị trước mặt Cha. Con phải trở nên hoàn toàn trống rỗng chính mình, sống như thể đã chết trong nơi sâu kín nhất của tâm hồn. Con phải chết đi trong chính nơi thẳm sâu bí mật ấy—nơi chưa từng có ánh mắt con người nào chạm tới—để rồi Cha tìm thấy nơi con một hy lễ đẹp lòng Cha, một lễ toàn thiêu tỏa hương thơm ngọt ngào. Khi ấy, lời chuyển cầu của con sẽ có sức mạnh lớn lao cho những ai con cầu thay nguyện giúp. Bề ngoài, hy lễ của con phải mang dáng vẻ như thế này: âm thầm, ẩn kín, thấm đượm tình yêu và chan chứa cầu nguyện. Hỡi con gái của Cha, Cha đòi nơi con một hy lễ tinh tuyền và đầy khiêm nhường để Cha được vui thích nơi đó. Và Cha sẽ không tiếc ban ân sủng cho con, để con có thể thực hiện điều Cha đòi hỏi nơi con. Giờ đây, Cha sẽ dạy con để con hiểu rằng hy lễ toàn thiêu của con phải được thực hiện thế nào trong đời sống hằng ngày, để con khỏi rơi vào ảo tưởng. Con hãy đón nhận mọi đau khổ với tình yêu. Đừng buồn phiền khi trái tim con nhiều lúc cảm thấy kháng cự hay không muốn hy sinh. Tất cả sức mạnh của hy lễ hệ tại ở ý chí. Vì thế, những cảm xúc trái nghịch ấy chẳng những không làm giảm giá trị của hy lễ trước mắt Cha, mà còn làm cho hy lễ ấy thêm giá trị hơn. Hãy biết rằng thân xác và linh hồn con nhiều lúc sẽ ở giữa lửa thử luyện. Dù đôi khi con không cảm nhận được sự hiện diện của Cha, Cha vẫn luôn ở với con. Đừng sợ; ân sủng của Cha sẽ ở cùng con…” (Nhật Ký, số 1767).
Có hai bài học chính chúng ta cần rút ra từ đoạn trên. Bài học thứ nhất là: Thiên Chúa mời gọi một số người bước vào một đời sống đặc biệt của hy sinh và cầu nguyện. Thánh Faustina Kowalska, một nữ tu kín, là một trong những người ấy. Chị không nhận được ơn gọi này chỉ vì là một nữ tu sống đời chiêm niệm, nhưng vì Thiên Chúa đã tuyển chọn chị cho một đời sống đặc biệt của đau khổ, hy sinh và cầu nguyện, theo những lý do chỉ mình Ngài biết trong thánh ý nhiệm mầu nhưng trọn hảo của Ngài.
Thánh Faustina sống trong tu viện kín, mang bệnh nặng suốt nhiều năm, bị không ít chị em hiểu lầm và chế giễu; xét theo cái nhìn của thế gian, chị dường như trở thành gánh nặng cho người khác hơn là một người hữu ích cho xã hội. Theo tiêu chuẩn của thế gian, cuộc đời chị đã đem lại điều gì tốt đẹp? Việc sống âm thầm sau những bức tường tu viện ấy đã ích lợi gì cho ai? Hơn nữa, việc chị liên tục đau yếu và không được nhiều chị em quý mến cũng dễ khiến người ta tự hỏi liệu chị đã góp phần xây dựng cộng đoàn hay chỉ làm cộng đoàn thêm nặng gánh.
Tuy nhiên, nếu bạn đọc những lời Đức Giêsu đã nói với chị trong thị kiến ấy, và đón nhận những lời đó với tất cả sự đơn sơ của đức tin, tin vào mọi điều Người phán dạy, thì bạn sẽ nhận ra những ý nghĩa hết sức sâu xa. Hãy đọc lại phần mở đầu của cuộc huấn dụ thiêng liêng ấy:
“Con sẽ cứu được nhiều linh hồn nhờ cầu nguyện và đau khổ hơn là một nhà truyền giáo chỉ bằng những bài giảng dạy và thuyết giáo. Cha muốn thấy con trở thành một hy lễ của tình yêu sống động, vì chỉ khi ấy hy lễ con dâng mới thực sự có giá trị trước mặt Cha. Con phải chết đi cho chính mình, sống như thể đã chết trong nơi sâu kín nhất của tâm hồn… để rồi Cha tìm thấy nơi con một hy lễ đẹp lòng Cha, một lễ toàn thiêu tỏa hương thơm ngào ngạt dâng lên Cha. Khi ấy, lời chuyển cầu của con sẽ có sức mạnh lớn lao cho những ai con cầu thay nguyện giúp.”
Nếu bạn có thể đón nhận và tin vào những lời ấy của Chúa, thì cũng phải tin rằng ảnh hưởng của thánh Faustina Kowalska trên biết bao cuộc đời là điều phi thường. Ngay cả khi tạm gác sang một bên việc Nhật Ký của chị nay đã được phổ biến rộng rãi và nhiều người được nâng đỡ nhờ những bài học thiêng liêng trong đó, thì sứ điệp Đức Giêsu muốn nói vẫn là: chính sức mạnh ẩn chứa trong việc âm thầm và lặng lẽ đón nhận đau khổ của chị đã cứu được vô số linh hồn, dù bản thân chị cũng không hoàn toàn ý thức điều ấy. Thánh Faustina đã trở thành một “hy lễ của tình yêu sống động,” và nhờ đó, Thiên Chúa đã mở toang dòng thác lòng thương xót, ban cho những lời cầu nguyện của chị một sức mạnh thiêng liêng lớn lao cho bất cứ ai chị chuyển cầu. Hãy tưởng tượng niềm vui của chị trên Thiên Đàng khi được gặp gỡ vô số linh hồn đã được cứu nhờ đời sống hy sinh âm thầm mà chị đã sống.
Đây là một ơn gọi nhiệm mầu nhưng đầy vinh quang, lấy việc đón nhận đau khổ và kết hiệp đau khổ ấy với Thập Giá Đức Kitô làm trọng tâm. Nhờ đó, “hy lễ đẹp lòng Thiên Chúa” của Con Một Ngài trên Thập Giá được tiếp nối xuyên suốt dòng thời gian và hiện diện giữa trần gian như một nguồn ân sủng không ngừng tuôn đổ trong cuộc đời những người được trao ban ơn gọi này. Chỉ có một số người được mời gọi bước vào ơn gọi nhiệm mầu của đau khổ và hy sinh ấy, nhưng vẫn có những người được chọn, và chỉ trên Thiên Đàng chúng ta mới có thể nhận ra sức mạnh lớn lao của những hy sinh âm thầm mà họ đã dâng hiến.
Bài học quan trọng thứ hai mà chúng ta cần rút ra từ đoạn Nhật Ký của thánh Faustina Kowalska là: mỗi người chúng ta, theo cách này hay cách khác, đều được mời gọi sống ơn gọi đặc biệt mà thánh nữ đã sống. Dù một số người được mời gọi cách riêng để sống tình yêu hy sinh một cách sâu xa và bền bỉ, thì mọi Kitô hữu đều được mời gọi trở nên một “hy lễ sống động của tình yêu” theo ơn gọi riêng của mình. Và điều quan trọng nhất cần ghi nhớ là: sức mạnh thiêng liêng phát xuất từ sự tự nguyện đón nhận ấy lớn lao hơn rất nhiều so với những gì chúng ta có thể hiểu được khi còn sống ở đời này.
Nói cách cụ thể hơn, chính đời sống hằng ngày mang đến cho bạn vô vàn cơ hội để sống ơn gọi riêng của mình trong tình yêu hy sinh. Để nhận ra những cơ hội ấy, hãy bắt đầu bằng việc nhìn lại điều bạn thường than phiền nhiều nhất. Điều gì làm bạn khó chịu nhất, khiến bạn tức giận, lo âu hay bị cám dỗ rơi vào thất vọng? Chính điều xuất hiện đầu tiên trong tâm trí bạn có thể là điểm khởi đầu cho ơn gọi sống hy sinh của riêng bạn. Hãy để quyền năng của Hy Tế Thập Giá Đức Kitô biến đổi những “gánh nặng” ấy thành nguồn tuôn đổ ân sủng và lòng thương xót cho thế giới. Hãy biết rằng chính những điều bạn tưởng chỉ là gánh nặng ấy lại có thể giúp bạn, như thánh Faustina Kowalska, trở nên khí cụ chuyển cầu đầy sức mạnh cho một thế giới đang cần đến lòng thương xót và ơn cứu độ. Đừng lãng phí sức mạnh ấy trong sự tự thương hại, nóng giận, kiêu ngạo hay những an ủi chóng qua.
Sự ngọt ngào của hy sinh
Nếu tất cả những suy tư về đau khổ và hy sinh như đã bàn ở trên khiến bạn cảm thấy lo lắng, thì vẫn có một tin vui đem lại niềm an ủi lớn lao: Thiên Đàng đang chờ đợi chúng ta! Trên Thiên Đàng sẽ không còn bất cứ đau đớn hay sầu khổ nào nữa. Nơi đó, mọi hy sinh trong cuộc đời này sẽ được biến đổi thành những phúc lành vĩnh cửu như phần thưởng dành cho bạn. Phần thưởng ấy chính là được muôn đời chiêm ngắm hoa trái của những hy sinh mình đã sống và vui hưởng chúng trong niềm hân hoan trọn vẹn. Trên Thiên Đàng, bạn sẽ không bao giờ hối tiếc vì đã sống khiêm nhường, đặt trọn niềm tín thác nơi Thiên Chúa, thực thi lòng thương xót và quảng đại sống đời hy sinh. Mỗi gánh nặng mà bạn tự nguyện đón nhận nơi cuộc sống hôm nay khi kết hiệp với Thập Giá Đức Kitô sẽ trở nên nguồn ánh sáng rực rỡ chiếu tỏa từ linh hồn bạn trong vẻ đẹp và vinh quang muôn đời. Trên Thiên Đàng, bạn sẽ nhận ra rằng mọi hy sinh đều thật đáng giá, và lòng biết ơn tràn ngập tâm hồn bạn sẽ không bao giờ vơi cạn.
Nhưng vẫn còn một tin vui lớn lao hơn nữa. Khi bạn đón nhận đời sống hy sinh ngay trong hiện tại và sẵn lòng ôm lấy mọi thập giá, Thiên Chúa thường cho bạn được nếm trải sự ngọt ngào của hy sinh ngay từ đời này. Hãy nhớ lại bài thơ đã được trích dẫn trước đó của thánh Gioan Thánh Giá, khi ngài gọi hành động thanh luyện của Thiên Chúa là: “Ôi ngọn lửa thanh luyện dịu ngọt, ôi thương tích dịu êm!” Chính sự “ngọt ngào” và “niềm hoan lạc” ấy có thể được cảm nếm trong mọi đau khổ khi chúng được biến đổi thành hy lễ tình yêu. Đúng vậy, những đau khổ bạn cảm nhận vẫn có thể làm bạn nhức nhối, nỗi buồn vẫn có thể rất sâu đậm, và hy sinh vẫn luôn đòi hỏi nơi bạn sự từ bỏ; nhưng khi bạn hoàn toàn đón nhận đau khổ, bạn sẽ dần khám phá niềm vui sâu xa nơi chính Thập Giá Đức Kitô khi cùng Người vác lấy thập giá ấy. Ách của Đức Giêsu sẽ không còn nặng nề và gánh của Người sẽ trở nên nhẹ nhàng, khi chúng ta tự nguyện đón nhận ách và gánh ấy trong đời mình với sự hiểu biết rõ ràng và sự ưng thuận trọn vẹn của ý chí.
Khi đó, những ước muốn, khuynh hướng và cảm xúc của chúng ta sẽ dần được biến đổi, và chúng ta sẽ tìm thấy niềm an ủi sâu xa nơi Thập Giá Đức Kitô. Ban đầu, những ước muốn, cảm xúc và khuynh hướng ấy vẫn còn rối loạn và chống lại thánh ý Thiên Chúa. Nhưng càng hiểu và tự nguyện chọn lấy Thập Giá cách trọn vẹn hơn, toàn thể con người chúng ta càng được hòa hợp và càng có khả năng cảm nếm hoa trái thiêng liêng phát sinh từ sự hy sinh của mình khi kết hợp với hy lễ của Đức Kitô.
Hãy nhìn vấn đề theo cách này: Đức Giêsu đã trải qua điều gì trên Thập Giá? Có phải chỉ là đau đớn và khổ đau mà thôi không? Hay còn điều gì sâu xa hơn nữa? Chắc chắn rằng khi bị treo trên Thập Giá, Người đã chịu đau khổ tột cùng. Nhưng chính vì Người hoàn toàn tự nguyện đón nhận đau khổ ấy, nên đau khổ ấy cũng làm phát sinh nơi tâm hồn Người một sức mạnh viên mãn, đồng thời bày tỏ sự hoàn thiện của bản tính nhân loại nơi Người. Hãy nhớ lại những lời trong Thư gửi tín hữu Do Thái:
Dầu là Con Thiên Chúa, Người đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục; và khi chính bản thân đã tới mức thập toàn, Người trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho tất cả những ai tùng phục Người, vì Người đã được Thiên Chúa tôn xưng là Thượng Tế theo phẩm trật Men-ki-xê-đê. (Dt 5, 8-10)
Đức Giêsu “đã học biết vâng phục qua những đau khổ Người chịu,” theo nghĩa là: chính việc Người tự nguyện đón nhận đau khổ trong thân phận con người đã kiện toàn bản tính nhân loại và mở đường để chúng ta cũng có thể bước theo con đường ấy, nhờ Người trở nên “nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho tất cả những ai tùng phục Người.” Chúng ta có thể xác tín rằng: khi Đức Giêsu kiện toàn bản tính nhân loại bằng sự vâng phục thánh ý Chúa Cha và tự nguyện đón nhận đau khổ do tội lỗi thế gian gây nên, thì chính nhân tính của Người cũng tràn ngập một niềm hoan lạc vô biên.
Với chúng ta cũng vậy. Nếu muốn “xóa đi” sự cay đắng của đau khổ trong cuộc đời mình, chúng ta phải biết đón nhận nó. Và dù đôi khi Thiên Chúa vẫn để chúng ta trải qua nỗi đau thiêng liêng của đêm tối tâm hồn như đã nói ở trên, chúng ta rồi sẽ khám phá rằng chính đêm tối ấy lại là một hồng ân, đang âm thầm sinh hoa kết trái lớn lao trong cuộc đời chúng ta và trong thế giới. Chúng ta cũng có thể vững tin rằng: nếu kiên trì cầu nguyện như Thánh Vịnh 22 dẫn dắt chúng ta, thì kết quả sẽ là một niềm hoan lạc thiêng liêng sâu thẳm, khởi sự ngay từ đời này và kéo dài cho đến muôn đời.
Noi gương việc tự do và vui tươi đón nhận thập giá nơi Đức Maria
Cuốn sách này được khép lại bằng một bài suy niệm trích từ tác phẩm “40 Ngày Dưới Chân Thập Giá: Ánh Nhìn Yêu Thương Từ Trái Tim Đức Mẹ” (xem tại My Catholic Life Books). Trong đoạn văn này, Đức Maria trao cho chúng ta mẫu gương tuyệt hảo về đời sống hy sinh vui tươi, khi Mẹ đứng dưới chân thập giá giữa cuộc khổ hình tàn bạo của Người Con yêu dấu. Dẫu trái tim Mẹ chan chứa nỗi đau thánh thiêng trước cuộc bách hại mà Con Mẹ phải chịu, lòng Mẹ vẫn tràn đầy sự khiêm nhường, tín thác và xót thương.
Hãy suy niệm đoạn chia sẻ của Ngày Thứ Bảy sau đây:
Ngày Thứ Bảy – Người Nữ Tỳ Khiêm Hạ của Chúa
“Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi. Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới; từ nay, hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc” (Lc 1,46-48)
Khi Đức Mẹ đứng dưới chân thập giá của Con mình, liệu “muôn thế hệ” có gọi đó là một giây phút “diễm phúc” hay không? Có thật Mẹ được chúc phúc, như Mẹ đã cất cao lời ngợi khen, ngay cả khi phải chứng kiến cái chết đau thương và tàn khốc của Người Con yêu dấu?
Dẫu kinh nghiệm dưới chân thập giá là một trải nghiệm chan chứa đau đớn, sầu thương và hy sinh sâu thẳm, thì đó đồng thời cũng là một giây phút đầy tràn hồng phúc. Khi đứng đó, lặng ngắm nhìn Người Con chịu đóng đinh với trọn tình yêu thương, Đức Mẹ đã bước vào một khoảnh khắc chan chứa ân sủng phi thường. Chính trong giây phút ấy, nhân loại được cứu chuộc nhờ đau khổ. Và Mẹ đã tự nguyện dùng chính đôi mắt mình để chiêm ngắm hy lễ tình yêu hoàn hảo ấy, dùng chính trái tim mình để suy niệm mầu nhiệm ấy. Mẹ đã chọn vui mừng trong Thiên Chúa — Đấng có thể làm nảy sinh biết bao điều tốt đẹp từ chính những đau khổ tưởng chừng quá lớn lao.
Trong cuộc sống của chính mình, khi phải đối diện với thử thách và đau khổ, chúng ta rất dễ khép kín lòng mình trong tổn thương và thất vọng. Chúng ta cũng dễ đánh mất cái nhìn về những hồng ân mà mình đã lãnh nhận trong đời. Chúa Cha không áp đặt đau khổ trên Con Một Ngài và trên Đức Mẹ, nhưng đó lại là thánh ý nhiệm mầu để các Ngài bước vào giờ phút bách hại lớn lao ấy. Đức Giê-su đã tự nguyện đi vào cuộc khổ nạn để biến đổi đau khổ và cứu chuộc mọi đau khổ của nhân loại. Đức Mẹ cũng tự nguyện bước vào giây phút ấy để trở nên chứng nhân đầu tiên và cao cả nhất cho tình yêu và quyền năng của Thiên Chúa đang sống động nơi Người Con của Mẹ. Và hôm nay, Chúa Cha vẫn không ngừng mời gọi mỗi người chúng ta cùng vui mừng với Đức Mẹ, khi chúng ta được mời gọi đứng vững và đối diện với thập giá đời mình.
Dẫu đoạn Kinh Thánh trên nhắc lại những lời Đức Mẹ đã thưa lên khi đang cưu mang Chúa Giê-su và đến viếng thăm bà Ê-li-sa-bét, nhưng đó cũng chính là những lời luôn vang vọng trên môi Mẹ suốt cuộc đời. Mẹ không ngừng ngợi khen sự cao cả của Thiên Chúa, vui mừng trong Thiên Chúa là Đấng cứu độ mình, và không ngừng cảm nếm muôn hồng ân Chúa ban trong cuộc sống. Mẹ đã sống tâm tình ấy trong biến cố Thăm Viếng, và Mẹ cũng sống tâm tình ấy trong chính giờ phút Thập Giá.
Hôm nay, hãy suy ngắm những lời nói và tâm hồn của Đức Mẹ. Hãy để những lời ấy trở thành lời cầu nguyện của chính bạn giữa những hoàn cảnh cụ thể của cuộc đời mình. Và hãy để những lời ấy trở nên nguồn nâng đỡ đức tin và niềm hy vọng của bạn mỗi ngày. Hãy ngợi khen sự cao cả của Thiên Chúa, vui mừng trong Thiên Chúa là Đấng cứu độ bạn, và xác tín rằng hồng ân của Ngài luôn chan chứa mỗi ngày, bất chấp những gì bạn đang trải qua trong cuộc sống. Khi cuộc đời đầy an ủi, hãy nhận ra hồng ân trong đó. Khi cuộc đời chất chứa đau thương, cũng hãy nhận ra hồng ân trong đó. Ước gì chứng tá của Mẹ Thiên Chúa luôn khơi dậy nơi bạn niềm tin và sức mạnh trong từng ngày sống.
Lạy Mẹ chí ái, những lời Mẹ cất lên trong biến cố Thăm Viếng để ngợi khen sự cao cả của Thiên Chúa chính là những lời tuôn trào từ niềm vui lớn lao của mầu nhiệm Nhập Thể. Niềm vui ấy lan tỏa sâu rộng trong tâm hồn Mẹ và đã trở nên nguồn sức mạnh nâng đỡ Mẹ khi Mẹ đứng nhìn Người Con yêu dấu chịu cái chết đau thương tàn khốc. Chính niềm vui khi cưu mang Con Thiên Chúa lại một lần nữa chạm đến trái tim Mẹ giữa giây phút sầu đau sâu thẳm nhất.
Lạy Mẹ chí ái, xin giúp con biết noi theo bài ca ngợi khen của Mẹ trong chính cuộc đời mình. Xin giúp con nhận ra hồng ân của Thiên Chúa trong mọi khía cạnh của cuộc sống. Xin đưa con vào trong ánh nhìn yêu thương của Mẹ, để con có thể chiêm ngắm vinh quang nơi hy tế của Người Con yêu dấu của Mẹ.
Lạy Chúa Giê-su rất đáng mến của con, Chúa là hồng ân lớn lao nhất của trần gian này. Chính Chúa là nguồn mạch của mọi phúc lành! Mọi điều thiện hảo đều phát xuất từ Chúa. Xin giúp con biết luôn hướng mắt về Chúa mỗi ngày và ngày càng ý thức sâu xa hơn về quyền năng của Hy Tế Tình Yêu của Chúa. Ước gì con luôn vui mừng trong hồng ân ấy và không ngừng ngợi khen sự cao cả của Chúa.
Lạy Mẹ Maria, xin cầu bầu cùng Chúa cho con. Lạy Chúa Giê-su, con tín thác vào Chúa.