FMA Logo

Lời bạt



Hướng đến việc tuyên Chân phước

Như chúng ta đã thấy, khi cha Micae Rua qua đời, những người biết ngài hoặc chỉ tiếp cận với ngài, dù là người Salêdiêng hay không, mô tả ngài như một vị thánh, và thâm tín ngài thánh thiện, như thể Hội Thánh đã công bố điều này. Sử gia của trường Đại học Torino, Phêrô Fedele, nói với Đấng Kế vị ngài, Phaolô Albera, rằng nếu lúc ấy là thời Trung Cổ thì Valdocco sẽ không cử hành thánh lễ Requiem, nhưng sẽ ngay lập tức cử hành Thánh Lễ để vinh danh Thánh Micae Rua, do dân chúng tuyên bố phong thánh.[769] Nhưng Hội Thánh của thế kỷ 20, ít nhất là cho tới khi Đức Gioan Phaolô II đến, đã ì ạch trong vấn đề tuyên chân phước và tuyên thánh.

Ý tưởng giới thiệu Án kiện chân phước của ngài, vốn đã được bày tỏ năm 1910, không phải chờ đợi lâu. Ngày 2 tháng Năm năm 1922, Đức Hồng y Augustinô Richelmy đã thành lập tòa án Giáo hội tại Torino cho tiến trình thông thường và lấy thông tin. Hai mươi chứng nhân trực tiếp đã được mời và hai chứng nhân chính thức. Tiếp theo là 226 phiên (tòa) cho đến ngày 20 tháng Mười Một năm 1928.[770] Vào năm 1931, Đức Hồng y Giuse Gamba bắt đầu quá trình kiểm định các tác phẩm của Cha Rua, một nhiệm vụ dễ dàng vì ngài hầu như không xuất bản gì. Năm 1936, người kế nhiệm ngài, Maurilio Fossati, đã thiết lập một tiến trình đặc biệt (de non cultu) để bảo đảm rằng không có sự thờ phượng công khai nào dành cho cha Rua nghèo hèn này.[771] "Sắc lệnh giới thiệu Án tuyên Chân phước và tuyên Thánh của Tôi tớ Thiên Chúa là cha Micae Rua, linh mục của Hiệp hội Đạo đức Thánh Phanxicô Salê", môn đệ trung thành của Don Bosco, mà tinh thần của ngài "đậu trên ngài như thần trí của Elia đậu trên Elisêu", được ký tại Rôma ngày 15 tháng Giêng năm 1936.[772] Nó thông báo sắp khai mạc tiến trình, bắt đầu vào ngày 10 tháng Mười Một năm 1936 với hai mươi bốn lời chứng, bốn trong số đó là chính thức, và kết thúc ngày 4 tháng Năm năm 1938, sau 174 phiên (tòa).[773] Sau đó chiến tranh nổ ra khiến mọi thứ chậm lại. Những nhân đức anh hùng của cha Rua, rất rõ ràng đối với độc giả của các tài liệu trong quá trình này, đã được sắc lệnh của Bộ Phụng Tự đề ngày 21 tháng Tư năm 1953 công nhận.[774] Sau đó người ta cần phải xem xét vấn đề các phép lạ do lời ngài chuyển cầu: chỉ khi tính xác thực của những phép lạ này được bảo đảm mới cho phép ngài được tuyên bố là Chân phước. Thêm mười bảy năm nữa trôi qua để cuối cùng có được "sắc lệnh về các phép lạ" (ngày 19 tháng Mười Một năm 1970).[775] Đó là vào thời của Đức Phaolô VI, chắc chắn là người rất nhân ái nhìn đến những người Salêdiêng. Lễ tuyên Chân phước của cha Rua được cử hành tại Rôma ngày 29 tháng Mười năm 1972, năm mươi năm sau khi mở quá trình thông tin ở Turin.[776]

Môn đệ trung thành của Don Bosco

Từ vô vàn chứng từ về cuộc đời, các nhân đức và cái chết thánh thiện của cha Rua, xuất hiện một bức tranh rõ ràng. Micae Rua thực sự là môn đệ trung thành của Don Bosco mà ngài đã tìm cách sống như thế từ thời niên thiếu.[777]

Từ quan điểm thể lý, Don Bosco và ngài khác biệt hoàn toàn: Cha Rua nổi bật vì dáng người cao, mảnh khảnh, so với tiêu chuẩn thời bấy giờ (vì chúng tôi đọc trong hộ chiếu của ngài từ năm 1908, ngài cao một mét sáu mươi tám). Khoa tu đức khắt khe trong lối ngài sống đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến ngoại hình xương xẩu của ngài. Khi nhìn ngài ta nghĩ ngay đến Thánh Gioan Maria Vianney, ở Curé d’Ars. Nhưng khi ngài nói, một nụ cười hiền dịu nồng ấm thắp sáng dung mạo ngài và khiến ngài hấp dẫn. Đôi mắt tội nghiệp của ngài, đỏ vì thiếu ngủ, tỏa sáng như mắt một đứa trẻ và ánh mắt thấu suốt các cõi lòng. Cả trong thái độ lẫn lời nói, ngài không có vẻ gì điệu bộ hay giả tạo. Ngài biểu lộ tính đơn giản điển hình của những người mà đối với họ sống, chứ không phải ngoại hình, là quan trọng.

Ngài có trí thông minh vượt trội, cực kỳ sống động. Ngài hiểu mọi thứ trong nháy mắt. Nền học vấn vững chắc, rộng lớn của ngài, được một trí nhớ tuyệt vời hỗ trợ, thật phi thường nếu người ta nghĩ về tất cả các hoạt động của ngài. Lúc còn trẻ, một số người nghĩ ngài sẽ là một giáo sư đại học. Ngài không thiếu sự tinh tế và ngài có thể dễ dàng chêm một giọng điệu hài hước vào cuộc trò chuyện của mình. Mặt khác ngài không giàu trí tưởng tượng, hơi trầm tĩnh, nhưng hành vi của ngài gây ấn tượng vì tinh thần ổn định và sự hài hước. Ngôn ngữ nói và viết của ngài - như chúng ta thấy từ các thư luân lưu của ngài - rõ ràng, bóng bẩy, đôi khi nồng nhiệt, nhưng không trữ tình.

Ngài được phú ban sự nhạy cảm cực kỳ sắc bén và một trái tim rất tình cảm. Nhưng ngài luôn dè dặt, vừa phải trong tình cảm. Những bài học từ các sư huynh de La Salle đã ảnh hưởng sâu sắc đến ngài từ thời niên thiếu. Mọi lúc ngài luôn tỏ ra lịch sự, an tâm nơi chính mình và nổi bật. Sinh ra trong gia đình thường dân, ngài dễ dàng hòa hợp với đại gia. Đáng chú ý hơn cả vẫn là sức mạnh ý chí và sự tự chủ trong việc điều hành cuộc sống, thời gian, ngày tháng của mình, sự bình tĩnh và kiên trì nắm bắt các mục tiêu mà ngài đã đặt ra cho mình.

Và đặc biệt cha Rua tỏ ra rất thận trọng. Sự thận trọng tuyệt vời của ngài được đặc biệt nhấn mạnh trong sắc lệnh về tính chất anh hùng của các nhân đức của ngài (1953). Như Thánh Laurence xứ Brindisi đã dạy, người tường trình viết rằng, có ba thái độ cốt yếu đối với người thận trọng: "Trên hết, có một mục tiêu và biết cách chọn lựa những phương thế cần thiết hữu ích nhất để đạt được mục tiêu này một cách dễ dàng và nhanh chóng; một người thận trọng không tiến bước một cách mù quáng hay hấp tấp, nhưng chín chắn suy nghĩ cách giữ được lối tiếp cận tốt nhất. Thứ hai, biết cách hướng các phương tiện họ tìm kiếm và tìm thấy đến mục đích đòi hỏi; do đó, một người thận trọng tiến hành cẩn thận và siêng năng, hành động không bất cẩn cũng không bất nhất. Thứ ba, cẩn thận và khôn ngoan trong việc phòng ngừa và tránh nguy hiểm, những bất ngờ hợp lý, bằng cách luôn cẩn trọng. Tất cả những điều này - người tường trình viết tiếp - người Tôi tớ Thiên Chúa đã thực hành cách hoàn hảo và vì vậy, được Chúa trợ giúp, đã trải rộng Tu hội Salêdiêng đến khắp nơi, nuôi dưỡng lòng đạo đức và nhiệt tình đối với các linh hồn giữa các thành viên của mình, tăng số những chuyến thám hiểm truyền giáo, hết lòng ủng hộ các hội viên muốn hiến mình giúp đỡ những người phong cùi, tận tình lo liệu sao cho lòng đạo đức, việc học tập và kỷ luật được khuyến khích trong các ký túc xá và trường cao đẳng, và kiên quyết nhưng nhân ái xem xét để không có gì bị bỏ qua, theo lời dạy của Đấng Sáng lập, hầu có thể góp phần cho danh Chúa thêm cả sáng".[778]

Dưới sự điều hành khôn ngoan của ngài, con số người Salêdiêng tuyên khấn từ 773, trải rộng trên 58 nhà vào năm 1888, lên đến con số 4001, trong 387 nhà vào năm 1910.

Thử thách đã không làm ngài sờn lòng. Bất quá, trong thời gian làm Bề Trên Cả, ngài trải qua một số ngày rất khó khăn khi vụ Varazze xảy ra vào cuối tháng Bảy năm 1907.

Ngài là một người hoạt động khôn sánh, một nhà lãnh đạo được mọi người tin tưởng và hợp tác trọn vẹn.

Như người tường trình đã lưu ý về bản chất anh hùng của các nhân đức của ngài, Cha Rua đặt mọi phẩm chất mà ngài có để phục vụ Vương quốc Thiên Chúa. Bằng cách này ngài cũng thực hiện ơn gọi mà Chúa Quan phòng ban cho là trở nên người tiếp nối trung thành của Don Bosco, người đã để lại cho con cái mình khẩu hiệu: "Làm việc và tiết độ", mà theo ngài có nghĩa là "đặt mình phục vụ người khác, có thể hoạt động tông đồ mãnh liệt bằng cách từ chối tìm kiếm lợi ích cá nhân riêng của mình trong mọi lĩnh vực". Cha Rua đã trung thành với chương trình đó với sự chính xác và trọn vẹn ngoại thường. Theo nghĩa đích thực của thuật ngữ này, ngài là một người “nghiện công việc”. Ngày nào cũng đầy ngập, không một giây phút nghỉ ngơi, như thể ngài đã thề sẽ không lãng phí một giây phút nào. Ngài không bao giờ đi nghỉ. Một trong những người con của ngài nói sau ngày ngài mất: "khi vào thiên đường, sau khi cha đã chào Don Bosco một cách trìu mến, cha có thể hỏi cha thánh rằng: ‘Cha có công việc nào ở đây cho con không?’, và ‘Nguyện ngắm lúc mấy giờ vậy'?”

Sự tiết độ, một điểm mạnh khác trong chương trình của Don Bosco, được thể hiện ở ngài thông qua việc "tôn kính Hiến Luật". Câu chuyện đời ngài minh chứng đầy đủ điều này. Đó cũng là sự cảnh giác liên tục của ngài đối với bản thân chỉ chấp nhận "thoải mái chút ít" khi thực sự cần thiết mà thôi. Người ta nói rằng Don Bosco đã nói: "Cha Rua là Luật sống".

Ngài sẽ không bao giờ hoãn việc xưng tội hàng tuần của mình thậm chí không đến hai mươi bốn giờ, dù phải xưng tội với một người bạn đồng hành, bị sững sờ bởi lời yêu cầu này. Ngài không bao giờ ngủ trưa. Mỗi ngày sau bữa ăn trưa, ngài giải trí với các anh em như được ghi trong Quy Luật. Sau giờ Kinh Chiều, ngài tuân thủ và lo liệu để mọi người tuân thủ sự thinh lặng thánh. Ngài kính trọng và bảo đảm mọi người phải kính trọng các chi tiết phụng vụ nhỏ nhất.

Ngài điều độ trong việc ăn uống. Bạn không bao giờ thấy ngài ăn ngoài bữa, mặc dù là Bề Trên Cả, và ngài không bao giờ dung thứ cho bất kỳ đặc quyền nào trong thực đơn của mình. Ngài cũng rất điều độ trong ngủ nghỉ: sau một ngày mệt mỏi, ngài không nằm ngủ ở giường mà nằm trên chiếc ghế dài được chuẩn bị vào mỗi buổi tối và ngài không cho phép mình ngủ quá năm hoặc sáu tiếng. Nói tóm lại, ngài đã học được từ khi còn trẻ không lo lắng về bản thân, không phải vì ngài có sở thích hành xác, mà là làm cho thân xác ngài linh hoạt hơn trong việc phục vụ thần khí tình yêu. Thật vậy, ngài thích sống trong đức ái, như vị Thầy tinh thần của mình.

Tình yêu đích thực thì khiêm tốn và ly thoát. Hai nhân đức phúc âm là khiêm nhường và khó nghèo đã tỏa sáng nơi cha Rua với ánh huy hoàng đặc biệt. Khiêm nhường là nhân đức ngài ưa thích: chúng ta đã ghi nhận, khi ở cùng Don Bosco, ngài làm việc chăm chỉ nhưng ẩn mình, không bao giờ đưa mình ra trước. Khi ngài trở thành Bề Trên Cả, một nhiệm vụ mà ngài tự nhận mình không xứng đáng và không được trang bị đầy đủ, nên ngài chỉ quan tâm là không bao giờ hành xử như diễn viên chính, song chỉ nhân danh Don Bosco, muốn và làm những gì ngài đã muốn làm. Trong suốt các chuyến đi của ngài, khi ngài thấy những đám đông đến với ngài và bày tỏ với ngài hàng ngàn cách quý trọng và kính trọng sâu sắc, ngài đã thốt lên: "Hãy xem họ yêu mến Don Bosco biết bao!", hoặc: "cha không phải là Don Bosco!". Chúng ta ghi nhận nhiều người đã được chữa lành qua lời bầu cử của ngài, nhưng ngài thường nói: "Hãy xem Đức Maria Phù Hộ các Giáo Hữu và Don Bosco quyền thế ra sao!". Trên tấm danh thiếp của ngài bạn chỉ đọc: "Cha Micae Rua", theo sau là địa chỉ.

Còn về đức khó nghèo ngài đã biến nó thành người bạn đồng hành yêu quý của mình, khi cho thấy mình cũng là một người con đích thực của Don Bosco trong chuyện này. Ngài chỉ có hai chiếc áo dòng: một cho mùa hè, một cho mùa đông, cả hai đều bị sờn, nhưng luôn được giữ rất sạch sẽ. Như chúng tôi đã nói, văn phòng của ngài tỏ ra sự đơn giản tương tự. Khi ngài nhận vị trí của Don Bosco, ngài muốn hoàn toàn không có gì thay đổi trong căn phòng nơi thánh nhân đã sống hai mươi hai năm. Ngài giữ nó y nguyên, đơn sơ và không đồ trang trí. Ngài thường xuyên đi công tác theo ghế hạng ba và không bao giờ tận dụng các chuyến đi du lịch phụ theo. Thư luân lưu truyền cảm hứng nhất của ngài có lẽ là thư viết ngày 31 tháng Giêng năm 1907, mà ta đã ám chỉ tới, liên quan đến sự khó nghèo và được đặt dưới biểu ngữ "Don Bosco khó nghèo".

"Mọi thứ để danh Chúa cả sáng hơn và cứu rỗi các linh hồn". Nhưng nếu không cẩn thận, chúng ta kết tận chỉ thấy nơi cha Rua sự khắc khổ và làm việc vất vả. Với khoảng cách một trăm năm kể từ khi ngài qua đời, chúng ta biết rằng đây là một hình ảnh sai. Như Giuse Aubry đã lưu ý, chúng ta sẽ không hiểu gì về năng lực phi thường của ngài đối với công việc và sự khó nghèo khổ hạnh của ngài nếu chúng ta bỏ qua sự mật thiết với Thiên Chúa của những tinh thần ấy. Ngài là vị linh mục luôn thanh thản, một con người cháy bỏng đam mê như Don Bosco: đam mê yêu mến Chúa và đam mê cứu rỗi các linh hồn. Nếu bề ngoài ngài tỏ ra cứng rắn, thì thực tế ngài đầy dịu dàng, tràn ngập niềm vui mà Thiên Chúa biết phải ban thế nào cho những người yêu Ngài.

Lòng nhân từ hiền phụ của ngài đối với mỗi hội viên được mọi người công nhận. Thực thế, mỗi người, từ lớn nhất đến nhỏ nhất, đều tìm thấy nơi ngài một trái tim cảm thông, một người quan tâm đến khả năng, sự trưởng thành và tương lai của họ, thực hành tuyệt vời nghệ thuật sửa lỗi, biến sự tôn trọng và tình cảm của ngài thành những cử chỉ kiên nhẫn tinh tế và ân cần tế nhị. Ngài trả lời những bức thư ngài nhận được và thường ký bằng câu: "Người bạn thân mến của con".

Nhưng chúng ta cần nhấn mạnh vào lòng đạo đức và đời sống nội tâm của ngài, một cái gì đó chúng ta biết nhiều bằng trực giác hơn là bằng cách khác, vì ngài sẽ không bao giờ nói về nó. Lòng đạo đức của ngài rất đơn giản; không có những trạng thái xuất thần, và đó là một lòng đạo đức được chia sẻ với những người anh em trong các việc đạo đức cộng đoàn hàng ngày: đọc kinh, suy niệm, Thánh Lễ. Tuy vậy ngài đã tạo ấn tượng, vì đức tin sống động của ngài đã làm cho điều ấy thành lời cầu nguyện đích thực (không chỉ là một công thức hay một nghi lễ), nghĩa là một cuộc gặp gỡ Thiên Chúa thực sự, sự tôn thờ hiền thảo với toàn bộ con người của ngài, sự tôn thờ hữu hình khi ngài thủ tâm và đôi khi diện mạo của ngài biến đổi rõ rệt. Để đánh giá khả năng hồi tâm của ngài khi cầu nguyện thì thấy ngài tạ ơn sau Thánh Lễ cũng đủ, quỳ gối trong phòng thánh, với khuôn mặt giữa hai bàn tay xương xẩu, trong khi ngài đang nói chuyện với Thiên Chúa. Cầu nguyện hoàn toàn lấp đầy ngày sống của ngài. Tinh thần cầu nguyện giữ ngài kết hợp với Thiên Chúa ở mọi nơi, trong công việc, tại các cuộc họp, trong một cuộc hành trình. Khi ngài ở Valdocco, hoạt động cuối cùng trong ngày là một chuyến viếng thăm Đền thờ Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu vào nửa đêm: ngài đi vào gác ca đoàn nơi ngài có thể chăm chú nhìn vào nhà tạm và bức ảnh Đức Trinh Nữ.

Tóm lại, mặc dù có sự khác biệt về tính cách, cha Rua là một môn đệ trung thành và là người tiếp nối xứng đáng của Don Bosco. Năm 1972 khi Đức Phaolô VI tuyên Chân phước cho ngài trong Vương cung Thánh đường Thánh Phêrô, Đức Thánh Cha đã ca tụng ngài theo danh hiệu chính xác này: "Tại sao cha Rua được tuyên chân phước, có nghĩa là được tôn vinh? Ngài được tuyên chân phước và tôn vinh chính vì ngài là người kế vị, nghĩa là một sự tiếp nối của Don Bosco: một người con, môn đệ, người bắt chước; chúng ta đều biết rõ, ngài đã làm việc này với những người khác, nhưng cách riêng ở giữa họ. Từ gương của Thánh nhân ngài đã làm thành một Trường Phái, từ công việc cá nhân của Don Bosco, ngài thành lập một thể chế được lan rộng, chúng ta có thể nói, khắp thế giới; từ cuộc đời Don Bosco ngài tạo nên một lịch sử, từ quy tắc của ngài, cha Rua tạo nên một tinh thần, từ sự thánh thiện của ngài, cha Rua lập nên một kiểu loại, một phương pháp. Từ một dòng suối tuôn trào ngài tạo nên một dòng sông ... Thành quả phi thường của Gia đình Salêdiêng, một trong những hiện tượng vĩ đại nhất và nổi bật nhất trong sức sống vĩnh viễn của Giáo hội trong suốt thế kỷ vừa qua và trong chính thời đại của chúng ta, có nguồn gốc từ Don Bosco, và sự tiếp nối của nó ở cha Rua. Ngài là môn đồ trung thành của thánh nhân, vốn từ thuở khởi đầu khiêm tốn ở Valdocco, đã phục vụ công việc của người Salêdiêng trong quá trình mở rộng đáng kinh ngạc của Tu hội, hiểu được giá trị của thể thức, đã phát triển nó với tính nhất quán theo đúng nguyên bản, nhưng luôn luôn với một sự sáng tạo sắc sảo. Cha Rua là người trung thành nhất, và do đó là người khiêm tốn và xứng đáng nhất trong số những người con của Don Bosco ... Ngài bắt đầu một truyền thống ... Ngài dạy cho những người Salêdiêng tiếp tục là người Salêdiêng, những người con luôn trung thành của Đấng Sáng lập của mình.[779]

Chú thích

[769] Ceria, Vita, 591.

[770] Tất cả các biên bản được sao chép lại trong FdR 4255C9-4276E10.

[771] Quy trình này được sao chép lại trong FdR 4326A7-4329A6.

[772] X. sắc lệnh được sao chép lại trong FdR 4255A4-7.

[773] Bản “sao công khai” của quá trình thường và theo tòa thánh trong FdR 4329A7-4423D5.

[774] Bản sao đánh máy trong FdR 4255B1-3.

[775] Văn bản này được sao chép lại trong FdR 4255B4-5.

[776] X. bản sao chép chiếu thư của Đức Giáo Hoàng về việc tuyên Chân phước của Cha Rua (Rôma, 29 tháng Mười năm 1972), trong FdR 4255B6-12.

[777] Ở đây tôi tự ý rút ra từ những trang tóm tắt của quá trình tuyên chân phước; các chương của Auffray (L’homme et le saint) và Ceria (Don Rua e Don Bosco); và, đặc biệt một bản văn tuyệt vời của J. Aubry, Les saints de la famille, Rôma, SDB, 1996, 124-129.

[778] FdR 4255B2.

[779] Toàn bộ bản văn bài giảng của Đức Phaolô VI được xuất bản trong Bollettino Salesiano, tháng 12, 1972, 10-13.


FMA Logo

Địa chỉ: 57 Đường số 4, Khu phố 56, P. Tam Bình, TP. Hồ Chí Minh

Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về email: libraryfmavtn@gmail.com

Liên Kết

Truyền Thông FMA

Copyright Dòng Con Đức Mẹ Phù Hộ © 2026