FMA Logo

35. Thời kỳ xế bóng



Mùa hè khó khăn năm 1909

Giữa các khóa họp khác nhau trong tiến trình phong thánh của Don Bosco, cha Rua đã làm những gì có thể. Ngày 30 tháng Bảy tại Valsalice, ngài kết thúc tĩnh tâm cho các tư giáo và các bạn trẻ; ngày 13 tháng Tám, ngài đến cử hành cho các Nữ tu Thánh Tâm ở Valsalice.[740] Ngày 16 tháng Tám, ngài có mặt với các tân đệ tử tại Valsalice. Bài phát biểu của ngài ở đó sử dụng một từ viết tắt, BOSCO, trong tiếng Ý có nghĩa là, Bontà (tử tế), Orazione (cầu nguyện), Studio (học), Castità (thanh khiết) và Obbedienza (vâng phục).[741] Ngày 21 tháng Tám, ngài đến Nizza Monferrato nơi các Nữ tu Salêdiêng để cử hành Thánh Lễ và nói với các chị em vài lời khích lệ, nhưng ngài nhất quyết từ chối cho họ chỉ thị để họ hiểu rằng ngài không muốn sử dụng "bất cứ biện pháp nào có vẻ trái ngược với những gì thẩm quyền Giáo hội cao hơn đã chỉ định" liên quan đến việc tách Tu hội của họ và Tu hội Salêdiêng. Trong khi cho thấy sự sẵn sàng ở mức nào đó, ngài đã không hỗ trợ cho những nỗ lực thông thường của Bề trên Tổng quyền, Mẹ Daghero "để có một Cố vấn Salêdiêng ở mỗi Tỉnh" thuộc về các Nữ tu.[742]

Ngày 30 tháng Tám, cha Rua thăm quan tài của Don Bosco tại Valsalice nhân Đại Hội Thứ Năm của các giám đốc thuộc giáo phận của Hiệp hội Cộng Tác viên Salêdiêng. Ngài đã được khuyến khích tổ chức sự kiện này bằng một bức thư từ Đức Piô X, Diletto figlio, ngày 25 tháng Tám trước.[743] Đó là một hội nghị rất quan trọng về sự hiện đại hóa cần thiết của Nguyện xá Salêdiêng, một chủ đề rất thân thiết với Bề Trên Cả. Xã hội đã thay đổi so với Nguyện xá thuở ban đầu. Quân bài đã bị chủ nghĩa xã hội chống tôn giáo làm cho thay đổi. Nguyện xá không còn có thể chỉ mang chức năng giải trí và tôn giáo. Hội nghị bày tỏ mong muốn rằng các hoạt động của các Nguyện xá được hội nhập "với các công trình mang tầm quan trọng về xã hội và kinh tế, đáp ứng hiệu quả nhu cầu của giới trẻ để họ tìm được trong Nguyện xá nền giáo dục xã hội và sự giúp đỡ đạo đức và vật chất vốn được các tổ chức và nhóm chống Kitô giáo mời chào họ theo cách khác". Bản kiến nghị cuối cùng liệt kê, có vẻ hơi tham vọng, một số nhóm có thể có được: "1) nhóm văn hóa; 2) nhóm thảo luận xã hội 3) trường kỹ thuật; 4) tư vấn việc làm; 5) phòng đăng ký cho Ngân hàng An sinh Xã hội Quốc gia; 6) các nhóm bảo hiểm công nhân 7) hội nghị về vệ sinh nghiệp vụ, 8) hướng dẫn liên quan đến luật lao động; 9) thiết lập các Hội nghị Thánh Vincent de Paul; 10) chuẩn bị cho nghĩa vụ quân sự; 11) trợ giúp công nhân nhập cư trẻ theo chương trình Kolping". Bản kiến nghị khôn ngoan chỉ ra: "nhận thấy cùng một lúc các khía cạnh giải trí và giáo dục được bổ sung bởi tất cả các nét hấp dẫn của lý luận dạy học thời hiện đại, (ví dụ: phim, đèn chiếu ...)".[744] Theo cha Rua nghĩ, Nguyện xá là một trung tâm đích thực và phù hợp để đào tạo giới trẻ.[745]

Ngày 9 tháng Chín, cha Rua bế mạc kỳ tĩnh tâm dành cho những người Salêdiêng tại Lanzo. Ngày 15, ngài ở Foglizzo, tại đây ngài nói chuyện với các sinh viên thần học và những người mới khấn. Ngày 24 tháng Chín, ngài nói chuyện với các linh mục tại Ivrea. Ngày 28 tháng Mười, tại Thánh đường Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu, trong buổi lễ chia tay bốn mươi người truyền giáo mới do Đức Hồng y Richelmy chủ trì, cha Rua đã có thể theo phong tục ôm hôn những người truyền giáo sắp lên đường. Các nhân chứng xác nhận rằng người ta hầu như không nhận thấy rằng đôi chân của ngài đang làm ngài đau đớn kinh khủng.[746]

Từ tháng Chín đến tháng Mười Một, nhiều cuộc họp Tu Nghị Bề trên diễn ra với sự chủ trì của Cha Rua, nhưng trong phòng của ngài. Vấn đề sức khỏe của ngài ngày càng tồi tệ hơn.

Sự suy yếu

Vào giữa tháng Mười Một tại San Benigno, nơi đó các thành viên của Tu Nghị Bề trên quy tụ lại để kiểm tra các báo cáo từ các Vị Kinh lý Ngoại thường và chuẩn bị trước cho Tổng Tu Nghị vào năm 1910, cha Rua trở nên yếu hơn nhiều. Thứ tư ngày 23, ngài không thể cử hành Thánh Lễ trong nhà nguyện. Ngài phải đến phòng y tế. Việc này đã không ngăn ngài dạy giờ học thiêng liêng cho tập sinh đang giúp ngài, bắt đầu với cuộc đời của Thánh Clement thành Rôma, mà hôm đó trong phụng vụ là lễ nhớ.[747] Ngày 24 tháng Mười Một, biên niên sử kể cho chúng ta những người trong cộng đoàn theo dõi chặt chẽ những gì đã xảy ra với Bề Trên Cả như thế nào: "Hôm nay cha Rua bước sang tuổi 72, năm tháng và 15 ngày, cùng tuổi với Don Bosco [khi ngài mất]. Những người trẻ chào đón ngài bằng tràng pháo tay trước bữa trưa. Họ đọc một số lời chào mừng. Don Rua cảm ơn họ và xin họ cầu nguyện không phải để cuộc sống của ngài được kéo dài, nhưng để ngài có thể trải qua những ngày còn lại một cách thánh thiện”.[748]

Ngài kiệt sức và cùng ngày phải trở về Turin. Ngài ra khỏi nhà nắm cánh tay cha Albera. Các thiếu niên chào đón ngài bằng cách xếp hàng trong im lặng, quỳ gối. Ngài chào tạm biệt họ từ xe ngựa. Khi trở lại Nguyện xá, ngài bị buộc phải ở trong phòng và dành cả ngày với đôi chân giơ cao trên chiếc ghế sofa cũ, nhưng luôn mặc áo dòng. Đến giờ thì đôi chân sưng phồng không cho ngài mang giày hoặc thậm chí cả dép nữa.[749]

Những kết luận về các cuộc Kinh lý Ngoại thường

Ngài vẫn tích cực như thường. Các kết luận bằng văn bản cho chuyến Kinh lý Ngoại thường của tất cả các nhà Salêdiêng mà ngài đã ra lệnh năm 1908, được trình cho Tu Nghị Bề trên ngày 22 tháng Giêng năm 1910. Chúng cho thấy mức độ nghiêm trọng: thiếu nhân sự, đặc biệt nhân sự có trình độ; thiếu các Giám đốc tốt; khan hiếm những cha giải tội tốt; những khoảng trống trong việc đào tạo nhân sự, đặc biệt là các sư huynh; một số yếu tố không xứng đáng vốn là mối nguy hiểm cho các hội viên; cần phải thay đổi những Giám tỉnh và giám đốc vốn không phù hợp, v.v.[750]

Một vài tuần trước đó, ngày 1 tháng Mười Hai, cha Rua đã ký một thư luân lưu quan trọng gửi cho các Giám tỉnh và các giám đốc với những nhận xét cá nhân của ngài sau khi đọc một số tài liệu.[751] Thoạt nhìn lá thư có vẻ làm yên lòng. Theo cha Rua, các báo cáo của những vị Kinh lý một lần nữa chứng minh rằng "Tu hội Salêdiêng khiêm hạ" (ngài thích tính từ này), được Chúa chúc lành, được Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu hỗ trợ, và phát triển qua những lời cầu nguyện và công nghiệp của Đấng Sáng lập Đáng Kính, đang tiếp tục đạt được những việc rất tốt đẹp trên khắp thế giới. Các vu khống ở Varazze và Marsala, những cuộc bách hại sau các cuộc cách mạng ở Barcelona và Colombia, chỉ chứng tỏ rằng kẻ thù vốn đã bị đánh bại ở một phía, lại thử những cuộc tấn công mới từ phía khác. "Ai mà biết được ngày nay hắn đang có kế hoạch gì chống lại chúng ta? Nhưng chúng ta không có gì phải sợ, Thiên Chúa ở cùng chúng ta". Khi nói thế, cha​​ Rua đưa ra một nhận xét chung, một nhận xét gợi hứng cho những gì tiếp theo trong văn bản của ngài: chúng ta thấy rằng trong những nhà được cai quản một bề trên được ban những phẩm chất cần thiết cho vai trò của ngài, được tràn đầy lòng nhiệt thành cháy bỏng và đích thực, một người trung thành noi gương Vị Sáng lập Đáng Kính Don Bosco của mình, thì lòng đạo đức triển nở, những thói quen thuần khiết ngự trị, có sự ngưỡng mộ và tiến bộ liên tục trong việc học hành, mọi người hít thở một bầu không khí thấm nhuần những đức tính nổi bật nhất. Thật không may các báo cáo kinh lý cho thấy những hạt ngọc như vậy hơi hiếm. Sự nhìn nhận đáng buồn này thúc giục cha Rua thảo một danh sách những lời khuyên và khích lệ đặc biệt nhắm vào những người chịu trách nhiệm chính các nhà.

1) Cha Rua thúc giục họ đối chiếu hành vi của họ với bản văn Hiến Luật. "Thời điểm thích hợp nhất cho sự xét mình này" là Dọn mình Chết lành. Báo cáo của các Vị Kinh lý cho thấy một số giám đốc nhà dễ dãi miễn cho mình không thực hành việc đạo đức mà Quy Luật đề ra, đặc biệt là suy niệm và đọc sách thiêng liêng. Những người khác không chỉ "bỏ bê giải pháp hàng tháng của các trường hợp đạo đức, nhưng còn không cung cấp hai bài huấn đức hàng tháng vốn rất cần thiết để giữ tinh thần của Don Bosco sống động trong lòng các hội viên, bất chấp việc khuyến cáo thường xuyên". Như vậy làm sao "những giám đốc đó không có cuộc nói chuyện thân thiện với những người thuộc quyền lại có thể giữ một lương tâm an bình được?" Rối loạn đáng trách này có lẽ là cơ sở của việc mất rất nhiều ơn gọi, trong khi các giám đốc như vậy đang lãng phí thời gian đọc báo, quá dễ dãi chấp nhận các cam kết bên ngoài nhà hoặc thường xuyên thực hiện các chuyến thăm không cần thiết ở nước ngoài. "Ít nhất lời nhắc nhở này được Bề Trên Cả gửi tới cho họ từ giường bệnh nơi ngài bị giam giữ cả tuần nay vì đau bệnh, có thể giúp họ sửa chữa sơ suất của họ".[752]

2) Đối với các giám đốc tuân giữ Hiến Luật thì không đủ; họ cũng phải lo liệu để những người thuộc quyền họ tuân giữ nữa. “Khốn cho bề trên chểnh mảng! Thánh Bonaventura không bao giờ ngừng tuyên bố rằng người nào lạm dụng quyền lực của mình thì mắc tội với Thiên Chúa, với những người hội viên mà họ bỏ bê mặc cho hành vi sai trái của họ, và với chính lương tâm của họ vốn chịu trách nhiệm về lỗi của những người thuộc quyền của mình cũng như của riêng mình". Cha Rua đặc biệt bàn đến việc thực hành lời khấn khó nghèo mà ngài đã dành cho một thư luân lưu quan trọng ngày 31 tháng Giêng năm 1907.[753] "Thật buồn khi một số giám đốc nào đó không siêng năng và dũng cảm hơn trong việc thực hành đức khó nghèo. Các hội viên bị cấm ngặt không được có tiền và chi tiêu vào những thú vui nhỏ ... Thật đáng buồn khi thấy những hội viên, khi họ đổi nhà, kéo theo họ một rương sách và đồ vật mà họ gọi là của riêng họ". Lá thư năm 1907 được đón nhận cách thiện chí đã khiến ngài nghĩ những lạm dụng đó đã chấm dứt. Than ôi! các báo cáo kinh lý thật rõ ràng một cách nhức nhối: "Nhưng cha được an ủi từ hy vọng rằng anh em sẽ chú ý nhiều hơn để liệu sao những mong muốn của cha được hoàn toàn mãn nguyện".

3) Cha Rua lên tiếng chống lại một lạm dụng khác mà có thể nghe lạ lẫm với chúng ta ngày nay: "Người ta nói rằng một số cá nhân đã bước vào Tu hội chúng ta mà không có ý định nào khác ngoài việc kiếm lợi ích vật chất cho gia đình họ". Trong lòng họ không quan tâm đến Tu hội, nhưng tìm kiếm sự hỗ trợ tài chính vững chắc hơn bao giờ hết từ các bề trên cho gia đình họ. Do đó ngài mời các Giám tỉnh điều tra "xem các thỉnh sinh hoặc tập sinh có đang bước vào Tu hội với mục đích duy nhất để cứu linh hồn của họ, chứ không phải để kiếm một đời sống thoải mái và giúp đỡ gia đình họ hay không. Cũng cần phải biết tình trạng gia đình của thỉnh sinh, và khi các anh em thấy rằng gia đình ấy cần đến sự hỗ trợ của người thanh niên đó, hãy thúc giục người ấy đi theo con đường khác và đừng trở thành một người Salêdiêng. Đặc biệt lưu ý để không có những linh mục quaerunt quae sua sunt, non quae Jesu Christi [tìm lợi ích cho riêng mình, không tìm lợi ích của Chúa Giêsu Kitô]".

4) Cuối cùng ngài bàn chi tiết đến một số linh mục thờ ơ trong việc cử hành Thánh Lễ: "Cho phép cha nhắc nhở các Giám tỉnh và giám đốc rằng các anh em có nghĩa vụ nghiêm ngặt sửa lỗi những người thuộc quyền của mình cử hành không nghiêm trang hoặc vội vàng thái quá hoặc không chuẩn bị và tạ ơn thích đáng". Ngài tiếp tục bằng việc gợi lại một số lưu ý của Thánh Phanxicô Salê, viết ra trong Dẫn vào Đời sống Sùng mộ: "Hy tế Thánh Lễ là cốt lõi của Kitô Giáo, ở trung tâm của lòng sùng kính, linh hồn của lòng đạo, một mầu nhiệm khôn tả tỏ lộ sự thâm sâu của đức ái thần linh trong đó thật sự Thiên Chúa hiệp nhất chính Ngài với chúng ta, và quảng đại thông truyền ân sủng và ân huệ của Ngài".

5) Ngài đề nghị tuân thủ khoản 780 của Quy chế: "cấm học sinh của chúng ta đặt tay trên nhau, nắm tay nhau, hoặc khoác tay nhau đi bộ". Nhưng điều này không đủ. Các Giám tỉnh và Giám đốc phải liệu sao không có người Salêdiêng nào cho phép mình thân mật như vậy với học sinh của mình. "Trong các bài huấn đức thỉnh thoảng hãy đề cập đến nhu cầu hãm dẹp xúc giác đối với những người Salêdiêng chúng ta". Cấm mọi người vuốt ve trẻ em, bắt tay chúng, nắm tay đi bộ với chúng, nựng má hoặc cằm và đặc biệt để chúng ngồi trên đầu gối của mình". Những cử chỉ như thế này "có thể dẫn đến các rối loạn nghiêm trọng về mặt đạo đức, và gây cớ cho kẻ thù của chúng ta vu khống và quy những ý định mà chúng ta không có. Đấng Đáng Kính Don Bosco vốn cũng yêu mến người trẻ với tình cảm như vậy, không bao giờ coi đó là đúng đắn khi thu hút các em đến với ngài bằng những phương cách như thế và nhất mực trách mắng bất cứ ai hành động như vậy”.

6) Cha Rua kết thúc thư luân lưu bằng cách thúc giục người Salêdiêng không cư xử như "trẻ con" nhưng là những cá nhân trưởng thành, như "những công nhân khỏe mạnh trong vườn nho của Chúa". Mỗi người phải hết sức siêng năng thực hiện nhiệm vụ của mình, "như thể toàn bộ danh dự của Tu hội chỉ phụ thuộc vào bản thân mình." Mỗi người phải có thể "làm việc rất tốt, cách riêng vì người trẻ", quý trọng "mọi phương tiện để tiến bộ trong tri thức và nhân đức". Không ai được cam chịu những khuyết điểm của mình. "Mọi người trong lời nói, công việc và thái độ đều cho thấy chúng ta xứng đáng với danh người Salêdiêng và con cái của Don Bosco". Các Giám tỉnh và giám đốc phải tạo "sự nghiêm túc cần thiết" cho cộng đoàn của họ, "tốt bụng nhưng kiên quyết lo liệu để họ tuân thủ Hiến Luật và Quy chế", khi đọc sách tại bàn ăn, rời khỏi nhà, thường xuyên thực hành lòng đạo đức, kể cả trong những ngày nghỉ v.v.

Trong phần phụ lục của thư luân lưu đó, cha Rua chúc mừng những người trong các nhà Salêdiêng đã cổ xúy sách báo tốt.

Có lẽ cha Rua nhận thức được lá thư này sẽ trở thành di chúc tinh thần của ngài. Nhờ vào các báo cáo từ cuộc Kinh lý Ngoại thường năm 1908 mà ngài có được bức tranh tổng thể về tình hình thực tế của các nhà của người Salêdiêng trên khắp thế giới. Ngài đã so sánh những điều này với các Quy chế được Tu Nghị Tỉnh soạn ra và với lý tưởng của một Tu sĩ mà ngài đã nuôi dưỡng trong chính mình. Một mình trong phòng với đôi chân sưng phồng, cha Rua vẫn tìm cách đích thân vươn ra với tất cả con cái mình và cầu xin họ thể hiện mình là những môn đệ xứng đáng của Don Bosco. Đây đã là mục đích của thời ngài làm Bề Trên Cả từ ban đầu.

Những tuần cuối cùng của Cha Rua

Lá thư hàng năm của cha Rua gửi các Cộng Tác viên xuất hiện đúng ngày 1 tháng Giêng năm 1910.[754] Ngày 4 tháng Giêng, cha Rua đồng ý đi xuống đường có mái vòm ở Valdocco để được chụp hình đội mũ giáo sĩ màu đen và áo choàng không tay trên vai.[755] Cha Ceria quan sát: "Nếu bạn nhìn kỹ ngài, chúng ta có thể thấy một vẻ thất bại không đặc biệt trên khuôn mặt kiệt sức và gầy gò của ngài, đôi mắt của ngài, trong khi vẫn thể hiện sức mạnh của linh hồn, dường như có một sự thất thần tinh tế; môi của ngài muốn hé nở nụ cười thường lệ, nhưng bạn chỉ có thể nhìn thấy cơ co lại, thiếu vắng sự sống động để kiểm soát nó".[756]

Lúc này cha Rua không còn có thể đi xuống dâng Thánh Lễ tại Thánh đường Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu nữa, nhưng cử hành trong nhà nguyện nhỏ của Don Bosco, gần văn phòng của ngài. Việc dâng lễ làm ngài mệt đừ, đó là lý do tại sao - rất bất thường đối với một người mộ đạo như ngài - ngài bị buộc phải ngồi tạ ơn trên ghế bành ở phía trước bàn thờ. Một buổi sáng, vào cuối Thánh Lễ, ngài gọi y sĩ Balestra và nói với thày: "Cha thấy chóng mặt. Con giúp cha trở về phòng". Ngày 14 tháng 2, bác sĩ Battistini, bác sĩ thường trực tại Nguyện xá, phát hiện ra tim ngài bị yếu đáng báo động và khuyên ngài kiêng dâng lễ và nghỉ ngơi trong bốn hoặc năm ngày. Tuy nhiên, ngày hôm sau ngài muốn dâng Thánh Lễ. Đây sẽ là lần cuối cùng. Thứ tư ngày 16, từ giường của mình, ngài dự Thánh Lễ do cha Francesia dâng trong nhà nguyện nhỏ. Ngài thức dậy vào buổi trưa, nhưng một tiếng sau ngài phải quay lại giường. Ngài kiệt sức và nói với Balestra: "Con hãy lấy thư và mang đến cho cha Rinaldi, và bảo ngài xử lý vì cha không còn khả năng". Vẫn như vậy, nằm ngửa trên gối, ngài vẫn nhìn những người ngài muốn đến và gặp ngài. Vào những giờ đã định, ngài suy niệm và đọc sách thiêng liêng, với Balestra đọc cùng những bản văn đang được sử dụng trong cộng thể.

Các bác sĩ chẩn đoán "viêm cơ tim do tuổi già", căn bệnh cho thấy cơ thể của ngài suy nhược đến mức kiệt sức. Nhưng tinh thần của ngài vẫn tỉnh táo và chào đón bất cứ ai đến thăm ngài. Thật vậy trong những ngày này bên cạnh giường ngài liên tục một dòng người gồm các Hồng y, các giáo sĩ nổi tiếng và giáo dân, các thành viên của các gia đình quý tộc và dân thường thường kéo đến. Những người biết về nhân đức của ngài, thấy ngài được nâng lên đến một mức độ tâm linh phi thường.[757] Ngày 14 tháng Ba, cảm thấy rằng kết tận đã gần, ngài yêu cầu liệt kê các món đồ trên kệ và ngăn kéo bàn giấy của ngài. Ngày hôm sau ngài gọi Balestra và đưa cho thầy một chương trình hàng ngày để làm theo:

Thời gian biểu 'ad experimentum'

5: 00 Thức dậy

5.20: Thánh Lễ, Hiệp Lễ, tạ ơn

6.15: Suy niệm

6.45: Nghỉ ngơi - Từ 8-9h bác sĩ đến thăm và điểm tâm với một số cuộc phỏng vấn

9: 00 Chữa bệnh [thuốc men] - Một số cuộc phỏng vấn với người ngoài, tùy theo sự thuận tiện và khả năng, sau đó nghỉ ngơi

12: 00 Cơm trưa và chuyện trò

14: 00 Nghỉ ngơi

15.30: Cầu nguyện, đọc sách, giải trí

16: 00 Điều trị

18: 00 Nghỉ ngơi và giải trí

20: 00 Cơm tối, cầu nguyện và chuẩn bị nghỉ đêm.[758]

Trước khi thiết lập chế độ này, sinh hoạt trong ngày của ngài bắt đầu với một chương trình rõ ràng. Lúc 5 giờ sáng, Balestra gõ nhẹ cửa và nói Benedicamus Domino, nghe vậy Cha Rua đáp lại Deo gratias. Sau đó, ngài phải chuẩn bị dâng lễ. Ngài rửa mặt và mặc áo dòng, trải một tấm vải trắng lên giường. Khi ngài không thể mặc quần áo được nữa, ngài che thân bằng một chiếc khăn choàng màu đen để Rước Lễ cho xứng đáng và tiếp khách. Cuối cùng ngài phải hài lòng với một chiếc khăn quàng lớn. Ngài rất nhiệt tình với nghi lễ. Khi nhập lễ và khi chuông rung báo bắt đầu Hy tế Thánh Lễ, ngài làm dấu Thánh Giá và đáp lời vị chủ tế cùng với người giúp lễ, chú ý kỹ đến nghi lễ.

Ngày 20 tháng Ba, Giáo hội bắt đầu Tuần Thánh. Khuôn mặt và bàn tay của cha Rua bắt đầu sưng lên. Ngài nhận thức được điều đó, kể từ ngày thứ tư Tuần Thánh (23 tháng Ba ) ngài xin rước Mình Thánh lần cuối vào ngày hôm sau. Thánh Thể được Cha Rinaldi mang đến cho ngài vào ngày hôm sau với các anh em trong đoàn rước của Nguyện xá cầm nến thắp sáng. Trước khi rước Mình Thánh, Cha Rua ra dấu rằng ngài muốn nói. Họ nâng ngài dậy trên gối và ngài nói bằng một giọng khá mạnh có thể nghe thấy trong những phòng gần đó. Những gì ngài nói đã được viết lại:

Trong tình huống này, cha cảm thấy có nghĩa vụ nói vài lời với anh em. Trước tiên là cảm ơn những lời cầu nguyện của anh em: cảm ơn anh em rất nhiều, và Chúa sẽ ban thưởng cho anh em vì những gì anh em tiếp tục làm.

Một điều nữa cha muốn nói, vì cha không biết liệu mình sẽ có cơ hội khác để nói với tất cả anh em quy tụ lại với nhau hay không, và cha cũng muốn anh em nói với những người không thể hiện diện. Cha sẽ luôn luôn cầu nguyện với Chúa Giêsu cho anh em. Cha hy vọng Thiên Chúa sẽ lắng nghe lời cha thỉnh cầu thay mặt mọi người trong nhà bây giờ và trong tương lai. Điều rất quan trọng với cha là tất cả chúng ta là và cố gắng trở thành những người con xứng đáng của Don Bosco. Don Bosco trên giường chết của ngài đã hẹn tất cả chúng ta: Hẹn gặp lại anh em ở Thiên Đàng! Đây là lời nhắc nhở ngài để lại cho chúng ta.

Don Bosco yêu tất cả con cái của mình; vì vậy cha đề nghị với anh em ba điều:

1) Một tình yêu vĩ đại với Chúa Giêsu trong Thánh Thể;

2) Sùng kính Đức Maria Cực Thánh Phù Hộ các Giáo Hữu;

3) Hết lòng kính trọng, vâng phục và yêu mến các vị Chủ chăn của Giáo hội và đặc biệt đối với Đức Thánh Cha.

Đây là lời nhắc nhở mà cha cũng muốn để lại cho anh em. Hãy cố gắng trở thành con cái xứng đáng của Don Bosco.

Cha sẽ không bao giờ chểnh mảng cầu nguyện cho anh em. Nếu Thiên Chúa chào đón cha vào trong Thiên Đàng như cha hy vọng, cha sẽ cầu nguyện cho mọi người trong các nhà và đặc biệt nhà này.[759]

Vì mong muốn được đầy đủ, sau này chúng tôi ghi chú làm thế nào mà vào ngày 1 tháng Tư, cha Rua yêu cầu chính xác rõ ràng cha Rinaldi bổ sung một nhận xét vào những đề nghị của ngài ngày 24 tháng Ba mà ngài coi như là di chúc tinh thần của mình, vốn thật quan trọng nghe từ chính miệng ngài: “Hãy dặn các hội viên những gì cha nói vào ngày cha nhận của ăn đàng (Viaticum) và nhắc họ rằng đó sẽ là vận mệnh tốt lành của chúng ta được trung thành giữ các truyền thống của Don Bosco và tránh sự mới lạ".[760] Bình luận về những gì ngài nói, Đức Hồng y Maffi sẽ nói trong bài giảng tưởng nhớ ngài: "Đây là những lời ngắn gọn, nhưng chúng tiết lộ mầu nhiệm và thế giới của một linh hồn, những lời diễn đạt một chương trình kín đáo, một chương trình thực sự chân thành mà ngài theo đuổi, và ở đây trong ánh sáng đích thực và đầy tràn, ánh sáng chiếu ngời qua cơn hấp hối của ngài, những lời này nêu rõ điều đối với Cha Rua là một nỗ lực và khát khao liên tục.”[761]

Không có người ngoài nào được phép có mặt tại buổi lễ, ngoại trừ giáo sư mộ đạo Rudolph Bettazzi, người bảo vệ nhiệt tình của Công giáo Tiến hành và tông đồ của lối sống luân lý. Ông xin việc này như một ân huệ lớn lao. Sau đó, ông ký vào cuốn sách khách mời và viết: "Tôi hạnh phúc khi có mặt tại lúc một vị Thánh rước của ăn đàng". Một cháu trai đến từ Rôma và những cháu trai khác sống ở Turin vốn đã đến thăm ngài nhiều lần, nhưng họ không dám làm phiền ngài. Cha Rua cho vời họ vào và lần lượt nói những lời tử tế với từng người và nói rằng ngài sẽ gặp họ ở Thiên Đàng!

Cha Rua qua đời

Ngày 27 tháng Ba, Chúa Nhật Phục Sinh, khoảng 9:30 tối, có những triệu chứng tắc mạch nhẹ. Cha Rua bất tỉnh. Bác sĩ trấn an các Bề trên vốn đã hoảng hốt rằng những triệu chứng này sẽ qua đi, và thật vậy bệnh nhân tỉnh lại và nói được. Nhưng ngài cứ yếu hơn. Do đó cha Rinaldi đề nghị ngài được Xức dầu Bệnh nhân. Ngài lập tức trả lời: "Sẵn sàng, sẵn sàng!" Cha đưa cho ngài cuốn sách Lễ nghi nhỏ và yêu cầu ngài đọc toàn bộ nghi lễ cho cha nghe cùng với những lời cầu nguyện được quy định cho việc cử hành Bí Tích. Ngày hôm sau, cha Albera xức dầu cho ngài, với sự hiện diện của tất cả các thành viên của Tu Nghị Bề trên. Cũng giống như với Don Bosco, hiệu quả của Bí tích là sự cải thiện thể lý vốn là điều thường ghi nhận được sau khi nhận lãnh: bệnh nhân trải nghiệm sự suy giảm, mà dường như là một cải thiện chung.

Chúng ta đọc thấy từ "chữa bệnh" trong chương trình hàng ngày mà Balestra ghi chép. Cha Ceria xác nhận rằng nó đề cập đến việc điều trị đôi chân đầy những vết loét của ngài. Thiên Chúa biết ngài chịu đựng nó như thế nào. Tuy nhiên, trong thời gian bệnh tật, chẳng ai nghe ngài thốt ra một lời than phiền nào. Nếu có ai hỏi ngài có đau lắm không, ngài thường trả lời với sự bình tĩnh tuyệt vời: "Không, không!", và đôi khi: "chút xíu thôi!"

Chẩn đoán của bác sĩ trở nên đáng lo ngại hơn khi ngày tháng trôi qua. Bệnh viêm cơ tim của ngài xấu đi. Ngài không thể tự ăn nữa, nên vào thứ bảy ngày 2 tháng Tư, Cha Rinaldi thông báo với mọi người trong nhà rằng sự kết thúc đang đến gần.[762] Ở tiền sảnh có những người vẫn muốn gặp ngài. Nhưng họ đã được Cha Têphanô Pagliere kiên quyết giữ không cho lại gần. Đôi khi cha Rua ra dấu hiệu cho ai đó vào. Có vẻ như đây là trường hợp của Gioan Possetto, người bạn đến gặp ngài khi vụ bê bối Varazze bùng ra. Cha Rua nhẹ nhàng bắt tay ông: "Tôi đã luôn nợ anh điều gì đó", ngài nói với ông bằng một giọng chẳng khác gì thầm thì: "Anh nhớ không? Ở đây trong chính căn phòng này; tôi luôn cầu nguyện cho anh và gia đình anh và bây giờ tôi chắc chắn sắp đi, tôi muốn nói với anh rằng khi tôi lên đó được kết hiệp với Cha nhân lành của chúng ta, tôi sẽ luôn khẩn cầu phúc lành từ trời cho anh. Tạm biệt, người bạn tốt và trung thành".[763]

Ngày 1 tháng Tư, trong Thánh đường Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu, bắt đầu ba ngày cầu nguyện cho cha Rua trước Mình Thánh Chúa. Vào tối ngày cuối cùng, trước khi ban Phép Lành, dường như Francesia quay sang các cậu bé và những người khác hiện diện và nói: "Ôi Chúa Giêsu, xin hãy cho chúng con người cha, người bạn, vị ân nhân của chúng con. Lạy Đức Trinh Nữ Rất Thánh, một ơn như thế sẽ là viên ngọc đẹp nhất trên vương miện của Mẹ!" Tối ngày 4 tháng Tư, cha Rua gọi cha giải tội của mình, người lập tức đến gặp ngài: "Hãy cử hành Nghi lễ và đọc những lời cầu nguyện phó linh hồn". Các Bề trên khi được thông báo, ngắt ngang cuộc họp và đến ngay. Quỳ ở chân giường, họ đáp kinh cầu. Về phần mình, cha Rua bình thản đọc theo.

Ngay sau đó, sự bình thản của ngài tan biến và ngài bước vào một cơn giao động tinh thần vốn gợi cho cha Piscetta đang có mặt ở đó nhớ đến Chúa Giêsu trong vườn Giêtsemani: "Lạy Cha, nếu có thể, xin cất chén này". Cha Rua xin những người có mặt cầu nguyện với Chúa hãy cất cái chết khỏi ngài hoặc làm cho nó ít sợ hãi hơn. ngài nói: "Bởi vì, tôi sợ phải trình diện trước sự phán xét của Thiên Chúa, tôi sợ rằng tôi không thể chịu đựng cơn hấp hối này". Đương nhiên cha Albera cố trấn an ngài và an ủi ngài. Và cơn khủng hoảng trôi qua.

Sáng thứ ba ngày 5 tháng Tư, trong nhà nguyện bên cạnh phòng của ngài, tám linh mục lần lượt cử hành Thánh Lễ. Họ thêm một lời cầu nguyện ở phần Kinh Nguyện cho người hấp hối. Cha Rua chăm chú theo dõi Thánh Lễ thứ hai. Thánh Lễ ấy được cha giải tội của ngài, cha Francesia, cử hành. Sự sùng mộ khi ngài rước lễ, lần cuối trong đời, gây ấn tượng với những ai ở đó. Đến 10 giờ sáng, ngài yêu cầu đọc bài suy niệm cho ngài nghe. Họ trả lời rằng ngài không nên gắng sức, nhưng hãy chấp nhận ý Chúa. Ngài chỉ phần nào nhượng bộ. Sau khi đọc Veni sancte Spiritus, ngài muốn ít nhất các đầu đề của các điểm khác nhau cho bài suy niệm ngày hôm đó được đọc, cùng với các quyết tâm cuối cùng. Sau đó ngài hồi tâm trong khoảng mười phút.

Ngài tỉnh táo, và cầu nguyện, nhưng ý thức mơ mơ màng màng. Đến tối, ngài thấy khó nhận ra mọi người. Khi đêm xuống ngài mất hoàn toàn thị lực. Dường như cơn đau đớn cuối cùng bắt đầu lúc 10 giờ tối. Thỉnh thoảng ngài hỏi khoảnh khắc cái chết đã đến chưa. Đến nửa đêm ngài ngủ thiếp đi.

Ngày 6 tháng Tư, lúc 1 giờ 30 sáng, ngài bắt đầu run rẩy. Cha Francesia đề nghị ngài đọc vài lời cầu nguyện ngắn và dường như làm ngài tỉnh lại. Khi ngài nghe những gì Don Bosco đã dạy ngài khi còn bé: "Lạy Trái tim dịu ngọt của Mẹ Maria, xin giúp con cứu rỗi linh hồn con", ngài thì thầm: "Vâng, cứu linh hồn chúng con ... đó là tất cả ... tất cả ... cứu linh hồn chúng con". Từ giây phút đó, ngài không thốt lên lời nào nữa. Ngài từ từ đi vào tình trạng hôn mê. Sau khi cộng đoàn đã thức dậy, các thiếu niên trong Nguyện xá bắt đầu đi thành hàng ngang qua giường ngài và hôn tay ngài. Các Nữ tu Salêdiêng cũng đến. Việc này kéo dài hơn một giờ. Nó kết thúc lúc 9 giờ 37 sáng. Sau đó, không than phiền, hoặc cử động, thậm chí không có người đứng cạnh để ý đến, trái tim ngài ngừng đập và thân thể đáng thương của ngài trở nên bất động. Những người ở quanh ngài quỳ xuống, trong khi vị linh mục, theo nghi lễ, cầu xin các thánh và thiên thần chào đón ngài, mang và dâng linh hồn ngài lên tòa Đấng Tối Cao.

Tang lễ Cha Rua

Ngài là một vị thánh! Mọi người trong Nguyện xá đều xúc động rơi lệ. Thật tự nhiên. Nhưng nỗi buồn sớm được thay thế bằng sự chắc chắn là có được một người bảo vệ khác trên thiên đường, một vị thánh đích thực, một vị thánh vĩ đại. Tin tức truyền miệng từ trong nhà và vượt ra ngoài. Mọi người bắt đầu đến để tỏ lòng kính trọng thi hài, được đặt trong nhà thờ Thánh Phanxicô Salê. Thân mình của ngài, được mặc áo dòng, áo lễ và dây stola, được đặt trên một nhà táng nhỏ cầm cây thánh giá trong tay. Người đầu tiên đến tất nhiên là những người từ Turin.[764]

Sự ngưỡng mộ và tôn kính là điều hiển nhiên giữa mọi người.[765] Họ muốn nhìn thấy và chạm vào ngài như một dấu tôn kính. Cuộc hành hương đạo đức này mang tầm cỡ phi thường vào ngày hôm sau, ngày 7 tháng Tư, sau khi giới Báo chí đã công bố tin Cha Rua qua đời. Ở Quảng trường Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu các xe độc mã hai bánh và "ô tô" đi tới đi lui, trong khi một biển người di chuyển về phía Nguyện xá và nhà thờ Thánh Phanxicô Salê. "Mọi người đều muốn chạm chuỗi mân côi, huy chương, vòng tay, sách, ảnh thánh, khăn tay vào thi hài ngài, và nhiều phụ nữ cho các giáo sĩ và linh mục nhẫn của họ, đàn ông cho đồng hồ và sinh viên Đại học cho giấy chứng nhận có đóng dấu".[766] Ngày 8 tháng Tư đến lúc đặt ngài vào quan tài. Sau đó, quan tài được chuyển đến Đền thánh Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu. Mọi người tiếp tục xếp hàng kính viếng.

Sáng ngày 9 tháng Tư, cả nhà thờ nhuộm màu tang, các nghi thức tang lễ bắt đầu với Thánh Lễ hát bình ca, do Đức Giám mục Salêdiêng Gioan Marenco cử hành, cùng với Đức Tổng Giám mục Pasquale Morganti từ Ravenna, một người bạn tuyệt vời của Cha Rua, và Đức Giám mục Dòng Đa Minh Angelo Francis Scapardini, Giám mục của Nusco. Cha Rua luôn yêu thích bình ca. Nhà táng khiêm tốn, không có hoa, chỉ có sáu ngọn nến, nhưng buổi lễ thật hùng vĩ và sâu lắng. Các Hiệp hội khác nhau gắn liền với người Salêdiêng muốn được ở đó với các tiêu chuẩn tương ứng của họ. Gia đình Hoàng gia được Công chúa Leticia Bonaparte đại diện. "Bạn chưa bao giờ thấy đông đảo dân chúng tưởng nhớ như vậy". Khi buổi lễ kết thúc, không chỉ có Đền thờ, mà cả sân trong của Nguyện xá và quảng trường rộng bát ngát của nhà thờ "bày ra một khía cạnh của ngày lễ ngoại thường". Vào buổi chiều, một đám đông dài bất tận đi theo hoặc đi trước quan tài của cha Rua quanh các con đường của Valdocco. Người ta tính cả một trăm ngàn người đứng dọc theo lối đi cho chuyến đi cuối cùng của cha Rua qua thành phố nơi ngài sinh ra và nơi ngài đã hết mực xả thân, được mọi người ngưỡng mộ. Tờ báo Il Momento, trong ấn bản thứ bảy ngày 9 tháng Tư, viết:

Quanh quan tài của vị linh mục khiêm nhường là tất cả các đại diện chính thức của các cơ quan dân sự cao cấp nhất, nhưng đằng sau những hàng rào cảnh sát quân sự đang cố gắng hết sức để điều khiển dân chúng trong nhà thờ, quảng trường, đường phố, là một đám đông khổng lồ mà [Turin] có chưa bao giờ thấy tương tự như vậy trong một thời gian dài. Điểm xúc động của buổi lễ là cả hàng ngàn người đã thừa nhận lòng kính trọng ngài qua ký ức, sự công nhận, tình cảm, sự ngưỡng mộ, sự tôn kính. Là người kế vị Don Bosco không phải là nhiệm vụ dễ dàng, và sau một phần tư thế kỷ vẫn duy trì sự cảm thông mãnh liệt rằng tên của Don Bosco không thể cưỡng lại mang với nó, không thể là gì khác ngoài chiến thắng của con người vĩ đại và khiêm nhường mà vị linh mục này đã sống. Hôm qua, sự thừa nhận tự phát của Turin về cha Rua, là sự biểu dương cao quý, hùng hồn và xúc động nhất mà ta có thể tưởng tượng được. Tiếng chuông vang lên trong tang lễ của ngài, hát bài thánh ca khải hoàn của ngài.[767]

Ngày 9 tháng Tư, một xe tang chở quan tài từ nhà thờ Thánh Phanxicô Salê tới Chủng viện Truyền giáo ngoại quốc tại Valsalice, nhà Salêdiêng nơi thi hài của Don Bosco đã nằm được hai mươi hai năm. Sau khi làm phép lần cuối, quan tài của cha Rua được đặt vào vị trí trong một hốc tường, bên cạnh Don Bosco.

Giám đốc Nguyện xá, cha Secondo Marchisio, nói lời tiễn biệt sau cùng với Bề Trên Cả quá cố: "Nhân danh tất cả con cái của cha ở Nguyện xá, và trên toàn thế giới, thưa Cha đáng kính, con xin để lời chào yêu thương cuối cùng trên quan tài của cha. Hôm nay, trên bia mộ của cha, chúng con long trọng cam kết luôn trung thành với những giáo huấn tuyệt vời mà Đấng Đáng Kính để lại cho cha và chúng con và tóm gọn trong phương châm cầu nguyện và làm việc! Đây là đóa hoa mà con cái cha đặt trên mộ phần của người Cha dấu yêu".[768]

Chú thích

[740] Amadei III, 517.

[741] Amadei III, 518.

[742] Amadei III, 519.

[743] Văn bản này được viết lại trong FdR 3833A9.

[744] Bollettino Salesiano, tháng Mười, 1909, 292.

[745] Liên quan đến vấn đề này x. bài báo được chứng minh bằng tư liệu của P. Braido, «L'Oratorio Salesiano in Italia, “luogo” propizio alla catechesi nella stagione dei Congressi (1888-1915)», trong RSS 24 (2005) 7-88 (đặc biệt trang 83).

[746] Amadei III, 523-527, passim.

[747] Amadei III, 540.

[748] FdR 4249A11.

[749] Amadei III, 541-542.

[750] Biên bản cuộc họp Tu Nghị Bề trên, ngày 22 tháng Giêng, 1910, trong FdR 4249B5.

[751] L.C., 407-418.

[752] L.C., 412.

[753] L.C., 360-377.

[754] Bollettino Salesiano, tháng Giêng, 1910, 2-8.

[755] Xem hình phóng lớn trong trong Bollettino Salesiano, tháng Năm, 1910, 131.

[756] Ceria, Vita, 574. Bản mô tả những tuần cuối cùng của Cha Rua, tôi ít nhiều theo Ceria, Vita 575-584, nhưng tính đến các thư luân lưu và điện tín từ Cha Rinaldi gửi những người Salêdiêng, và biên niên sử trên thực tế ở hai chỗ: "Những ngày sau cùng" và "Cái chết của ngài", trong Bollettino Salesiano, tháng Năm, 1910, 133-149, 150-161.

[757] Thư hàng tháng của Cha Rinaldi gửi các Giám Tỉnh và Giám đốc, N. 61, ngày 24 tháng Ba, 1910, trong FdR 4076C1-2.

[758] Tài liệu này được viết lại trong FdR 2779C9-10.

[759] Thư hàng tháng của Cha Rinaldi gửi các Giám Tỉnh và Giám đốc, N. 62, ngày 21 tháng Tư, 1910, trong FdR 4076C5.

[760] Ibid, FdR 4076C6.

[761] Ceria, Vita, 580-581.

[762] FdR 2778C7-8.

[763] Theo bản tường thuật của Possetto, được viết lại trong FdR 2855D12.

[764] Tôi rút từ Ceria phần tang lễ của Cha Rua, Vita, 585-588, và phần mô tả quan trọng trong bài báo "La Morte", trong Bollettino Salesiano, tháng Năm, 1910, 150-161.

[765] “La morte” trong Bollettino Salesiano, tháng Năm, 1910, 151.

[766] “La morte”, trong Bollettino Salesiano, tháng Năm, 1910, 151-152.

[767] «La morte», trong Bollettino Salesiano, tháng Năm, 1910, 153-154.

[768] «La morte», in Bollettino Salesiano, tháng Năm, 1910, 156.


FMA Logo

Địa chỉ: 57 Đường số 4, Khu phố 56, P. Tam Bình, TP. Hồ Chí Minh

Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về email: libraryfmavtn@gmail.com

Liên Kết

Truyền Thông FMA

Copyright Dòng Con Đức Mẹ Phù Hộ © 2026