1. Tuổi thơ của Micae Rua
Thành phố Turin trong thập niên 1830-1840
Khác hẳn với Gioan Bosco, một thiếu niên miền thôn dã, đã khám phá ra thành phố Turin chỉ khi ngài bước sang tuổi 15 khi đến Chieri như một học sinh, thì Micae Rua lại sinh ra tại đó, thủ phủ của Vương quốc Sardinia; ngài từng sống tại đó suốt đời còn lại của mình. Ngài đã luôn là một người sống trong thành phố, một trẻ thơ của thành phố đó vào thời kỳ tiền kỹ nghệ mà chỉ tiến hóa chầm chậm khỏi một quá khứ mà nó vẫn còn nhìn lại với vẻ tự hào, sang một thời kỳ tự do hơn của nền quân chủ lập hiến.
Vào thập niên 1830 Turin có 100.000 cư dân; nó được nổi tiếng ở Âu châu.[1] Người ngoài đã khen “những ngôi nhà trật tự, đường phố rộng rãi, gọn gàng, nước uống tiện nghi, mà họ gọi là Dora; Turin có đường đi thoải mái, an ninh tuyệt vời, dân cư tử tế hiền lành, bảo tàng viện nổi tiếng, những quán cà phê sáng ngời và nhiều điều đẹp đẽ khác... Ở đây họ có... những mái vòm tiện nghi và đẹp đẽ cho mọi nhu cầu.”[2] Phẩm giá này đến từ hoàn cảnh chính trị của nó. Suốt thời Phục Hưng vốn theo sau sự gián đoạn của thời kỳ Napoléon, sau khi hiệp nhất với Liguira, thành phố đó trở nên thủ phủ quan trọng nhất trong Nhà Nước Ý thời đó, nếu không phải vì kích thước, thì ít nhất vì tổ chức và sức mạnh kinh tế của nó. Hoạt động trong những xưởng đạn cung cấp cho quân đội và tất cả những kỹ nghệ mới, cách riêng là những xưởng dệt, thu hút nhiều người từ các tỉnh. Ở Borgo Dora các nhà máy mọc lên mang đến công ăn việc làm cho vài trăm nhân công, với những ống khói làm ô nhiễm không khí.
Turin vẫn còn tồn tại chế độ phản kháng thời Phục Hưng. Vua có quyền tuyệt đối. Các Bộ trưởng chỉ chịu trách nhiệm trước nhà vua mà thôi. Năm 1821, sau vài ngày nhiễu loạn, hệ thống này dường như có một thời dao động khi hiến pháp sắp được công bố, nhưng ngay lập tức nó được phục hồi do vua Charles Felix. Ông đặc biệt quan tâm đến giáo dục giới trẻ, như chúng ta thấy cụm từ Regulation for schools outside of University, được công bố năm 1822. Người ta đọc trong những giấy phép hoàng cung giới thiệu nó, nhất thiết phải khôi phục trật tự trong nền giáo dục công cộng tại Vương quốc. Những trật tự cũ của nó đã bị đảo lộn do cuộc cách mạng và do việc đưa vào những trật tự mới, nay lại bị lỗi thời do “kỷ nguyên hạnh phúc của tháng Năm năm 1814.” Ông muốn cung cấp một nền giáo dục luân lý và khoa học cho giới trẻ trong những trường thành phố, công cộng và hoàng vương trong Vương quốc. Việc tổ chức lại những môn học cổ điển, nhờ đó “những đề tài của các bậc tiền bối thuộc hoàng tộc chúng ta được danh tiếng vì văn hóa của họ cũng như họ không kém khôn ngoan”, xem ra là cách thích hợp nhất để đào tạo giới trẻ theo những đường nét tương tự với những tổ tiên của họ vốn “coi việc học hành, ngai vua và Thiên Chúa là một chân lý không thể chia tách.”[3] Họ thâm tín rằng tôn giáo, nền quân chủ, và học tập sẽ đóng góp vào việc uốn nắn tâm trí cõi lòng của người trẻ suốt những năm Phục Hưng. Nhưng không may, nền giáo dục ở Turin chỉ có thể đến gần được với những gia đình tốt số mà thôi.
Thực vậy, thành phố lớn này không chỉ đưa ra một khía cạnh trật tự và dân sự mà thôi. Ở đó, người nghèo đông vô kể; họ thường không nhà không cửa. Chúng ta tìm thấy [điều] được viết vào năm 1845: “Từ các thống kê do những hội bác ái soạn, chúng ta thấy rằng Turin, với 125.000 dân cư, có tới 30.000 người nghèo.” Ăn xin di chuyển từng đàn và quấy rối người qua lại. “Chúng tôi bị những kẻ ăn xin vây quanh, quấn lấy mỗi ngày; con số của họ đông đến nỗi ngay cả giả định rằng tất cả họ đều nghèo thật chứ không giả vờ, người ta cũng không thể có phương thế hay thời giờ dừng lại và giao thiệp với mọi người, và giúp đỡ tất cả được. Vì vậy chúng tôi buộc phải tiếp tục đi thẳng, không chú ý đến nước mắt của họ hay những lời gây mủi lòng của họ mà ít ra theo lý thuyết không bao giờ nên làm ngơ, cách riêng một người Kitô hữu.”[4] Những người ăn xin đông ngập đường phố và ngõ hẻm quanh thành phố đó. Bạn tìm thấy họ dưới những mái vòm, tại các cửa nhà thờ và gần những tiệm cà phê đắt tiền; nơi đây, như một người dân phàn nàn, họ không ngừng gây phiền hà những người qua lại bằng sự dai dẳng như đỉa vậy.[5]
Một số người nghèo của Turin sống ở những khu ngoại ô phát triển mau lẹ của Borgo Dora, San Donato và Vanchiglia. Nhưng nhóm đáng hổ thẹn nhất sống quanh vùng ven của Vanchiglia, trong khu vực được biết đến là Moschino. Ở đó bạn tìm thấy những người đánh cá, những kẻ chèo thuyền và thành phần khốn cùng nhất trong dân nghèo của thành phố Turin. Một người đương thời viết: “Không thể diễn đạt sự kinh tởm mà bạn cảm nhận, khi bạn đi quanh những ngõ hẻm dơ dáy, tách ra khỏi khu vực thương mại, ngu dốt về mọi thứ vệ sinh, hoặc đang khi kêu to bổn phận của ta như một bác sĩ, hoặc để thu gom các thống kê, và tôi muốn nói, những rác rưởi nhân sinh đang đứng như một lời tố cáo rằng con người thật bất công khi thấy một số người sở hữu quá nhiều, đang khi những người khác chẳng có lấy ngay cả một cục đất, không khí hay mặt trời.”[6] Moschino đối với những người trung lưu Turin, là một sưu tập của tầng lớp hạ lưu bết nhất, một hang ổ của những băng đảng, coca, đáng sợ; nguy hiểm ngày và đêm thậm chí cảnh sát cũng không thể đến gần.
Những hoàn cảnh sống nghiệt ngã này gây ra sự mất trật tự luân lý tương ứng. Ở Turin số sinh bất hợp pháp cũng như số trẻ em tử vong là rất cao, một phần tư. Đang khi trong thập niên 1830-1840, tỷ lệ là 1/12 tại Genoa, thành phố lớn thứ hai của Nhà Nước, 1/13 trong những thành phố khác và 1/40 trong toàn thể Vương quốc. Như trong các tiểu thuyết ở Pháp vào thời đó, người nghèo tìm thấy thoải mái bằng cách trú ẩn trong những nhà trọ có tiếng xấu, cổng vào của chúng thường ở dưới mặt đường, như một văn sĩ tả chân thời đó cho thấy: “Kẻ lạ mở cửa kính và thấy mình trong một phòng lớn khá dài hơn là rộng, những bức tường đen kịt vì khói, nền nhà lót bằng ván đầy những bùn là bùn, bê bết đây đó vì các khách hàng dẫm lên, và trong một làn khí hôi hám đầy những khói là khói giống y như một màn sương mù dầy đặc bên ngoài vào tối mùa đông.”[7]
Tại thành phố lớn này đang trải qua tiến trình kỹ nghệ hóa những trẻ nghèo bị ‘phạt’ bất công một cách đặc biệt. Năm 1840, một công dân phàn nàn với vị Đại Diện của thành phố: “ở mọi ngõ ngách, trên mọi giao lộ trong những mái vòm, bạn bị vây chặt do một đám trẻ đánh giầy, giành giật để bắt bất kỳ ai phải dừng lại, và tiếp tục đeo bám họ một khi họ đi qua, réo chửi họ cách láo xược, ngay cả đã xa cả chục bước.”[8] Các xưởng thợ làm tàn hại những kẻ bé nhỏ. Cùng năm đó một nhà báo cáo giác tai họa ấy “Bất kỳ ai đặt chân vào một xưởng và nhất là trong một xưởng làm lụa sẽ buồn sầu ngạc nhiên nhìn thấy đám trẻ em nhung nhúc, quen miệng chửi rủa suốt ngày, hốc hác, rách rưới và đầy bùn, đánh nhau, ăn cắp của nhau những vật chẳng đáng gì để dẫn chúng đến tội ác; và người đó sẽ phải kinh khiếp nghĩ về tương lai u ám đang chờ đợi những mái đầu xanh này, khi chỉ cần một chút chăm sóc đã đủ để cho chúng có được lối xử sự, vẻ phong nhã và đức hạnh của tuổi thơ (vì ngay cả tuổi này cũng có đức hạnh của nó).[9] Những trẻ em này sống trên đường phố. Người ta xót xa vì những việc xấu xa của chúng ở Turin: “Một trong nhiều tai họa gậm nhấm xã hội và mặc dù được những người thẩm quyền và cảnh sát quan tâm rõ ràng nhất, nó vẫn không giảm bớt, chắc chắn [đấy] là những kẻ móc túi vốn đầy ngập không chỉ đường phố và các quảng trường nhưng lan rộng ngay trong các cung điện và nhà thờ. Không một ngày nào trôi qua mà không có những lời phàn nàn về trộm cắp thuốc lá, đồng hồ, túi xách, khăn tay, vốn cần đến bàn tay nhanh nhẹn để thực hiện.”[10] Vậy, Turin đẹp đẽ đã bày ra một mặt trái tệ hại khác.
May sao, Turin cũng có một truyền thống rất vững chãi về đức bác ái. Thành phố đó có nhiều công cuộc bác ái: nhà thương, phòng khám bệnh, ký túc xá, cô nhi viện, nhà trọ hay nơi náu ẩn. Thêm vào những cơ quan bác ái cổ xưa, ngày 10 tháng Sáu năm 1837 khai trương một Mái ấm cho người nghèo, nhắm đến những người nam lẫn nữ, thuộc bất kỳ tuổi tác, từ thành phố và vùng đó. Bất kỳ ai ở đó đều nhận được một khẩu phần thường nhật là vài gram (18 ounce) bánh và hai tô súp. Khi cần cho sức khỏe, họ cũng sẽ được cung cấp chút rượu và thực đơn tốt hơn. Họ mặc đồng phục và ngủ trong những nhà ngủ lớn riêng biệt. Nếu chấp nhận làm việc, họ có quyền được hưởng nửa số tiền sinh nhai. Ngay từ đầu, số thường trú tăng nhanh tới 498 người. Vào năm 1838 Nhà Nghỉ của Đức Hạnh, được đặt tên lại là Lưu xá Bác Ái, và được cấu trúc lại như một trường kỹ thuật được công trình bái ái tư và công tài trợ. Những người tập nghề có cơ hội để có việc làm sau này trong các xưởng thợ mà ở đó họ đã học được nghề của mình. Rồi có những cơ sở tư. Trong số những công cuộc từ thiện này, có sự đóng góp bác ái của bà Barolo, vốn liên hệ đến một nơi nương náu, rifugio, cho những phụ nữ trước kia đã ở trong tù, cho các gái điếm hoàn lương và một đan viện cho những hối nhân, những người được biết đến như những Madalena. Công cuộc bác ái này phát triển nhanh chóng. Nhưng công cuộc bác ái có tầm quan trọng nhất của dân thành Turin là Ngôi nhà Nhỏ bé của Chúa Quan Phòng, (La Piccola Casa della Divina Provvidenza) được kinh sĩ Giuse Cottolengo thành lập. Năm 1832 ngài đã chuyển một nhà thương ngài đã mở ba năm trước đó, đến Valdocco dành cho những người rất nghèo; chẳng bao lâu đã phát triển và nay đã đón nhận một số những “gia đình” của các em mồ côi, những người tàn phế, những người câm-điếc, những người động kinh, những người tật nguyền về tâm trí, những gái điếm và cả một tiểu chủng viện. Năm 1840, tại trung tâm của Moschino buồn tẻ, tiếp giáp với ngoại ô của Vanchiglia, một trong những cơ sở gây chú ý hơn đã nảy sinh. Vị linh mục trẻ, cha Cocchi, đã thành lập một trung tâm cho các trẻ em bị bỏ rơi, “Nguyện xá” các Thiên Thần Hộ Thủ, được mô phỏng theo Nguyện xá Rôma của Thánh Philip Nêri.
Gia đình của Rua tại xưởng Forge
Suốt thời Khôi Phục, do một số trí thức mời gọi (Gioberti, Balbo, d’Azeglia), quân đội được cải cách và được vũ trang mạnh hơn. Thống nhất toàn nước Ý là giấc mơ, mà đối với nó Vương quốc Sardinia sẽ là động lực. Điều này đòi phải có một Nhà Nước Piedmont hùng mạnh. Ở Borgo Dora người ta thiết lập một kỹ nghệ võ khí, được gọi là Xưởng đúc súng thần công, The cannon Forge. Xưởng đó có vị tuyên úy. Nhân viên quản trị sống ở đó. Chính Gioan Tẩy Giả Rua là nhân viên quản trị đó và gia đình mà Micae sinh ra, sinh sống tại chính xưởng đúc võ khí này.
Trái nghịch với độc giả người Ý, độc giả người Pháp không đặt dấu nhấn trên chữ a trong tên họ Ruà (Ru-a) trong những tài liệu quản trị từ phần I đến thế kỷ XIX.[11] Có một sự trùng âm nào đó giữa từ ngữ này và hạn từ roi trong tiếng Pháp, có nghĩa là vua. Amadei ghi chú về nó trong cuốn tiểu sử cha Rua. Nhưng ở đây tác giả sai. Danh từ Des Rois không thuộc gốc chữ này.[12] Trong nước Pháp thuộc chế độ cũ, Ancien Regime, roi (nghĩa là vua) được phát âm là roahay thậm chí là roé, nhưng không bao giờ là roua. Vì thế, chúng ta đừng làm vấn đề ra phức tạp. Có lẽ hình thức tiếng pháp roua, chứ không phải roi, thì hợp lý hơn. Nếu dường như là thế, thì tổ tiên Ruà (Ru-a) thuộc về một dân cư nói tiếng Pháp, họ đơn giản thường được gọi là Roua, rồi chuyển sang tiếng Ý là Ruà. Những giả thuyết ấy có thể còn phù hợp hơn nếu chúng ta xét rằng tên Rouat hiện thời phổ thông ở Pháp và Canađa vùng nói tiếng Pháp. Dù sao chăng nữa đã khoảng hơn nửa thế kỷ 19, dấu nhấn ở cuối đã biến mất, trong cách dùng của tiếng Ý, và đã chuyển vào nguyên âm đầu thành nhị trùng âm. Lối phát âm trước kia nay đã hoàn toàn bị lãng quên rồi.
Một cuộc hôn nhân thứ hai khiến cho việc trình bày về gia đình của Micae Rua thêm chút ít phức tạp.[13] Cha ngài, ông Gioan Tẩy giả, có lẽ sinh năm 1786, nếu chúng ta tin giấy chứng nhận hôn phối đầu tiên nói rằng ông “khoảng 28 tuổi” (không tìm thấy những giấy chứng rửa tội và gia đình). Gioan Tẩy giả lập gia đình lần đầu ngày 25 tháng Tư năm 1814 với Catharine Grimaldi; với bà, ông được 5 người con.[14] Ba người đã chết yểu. Khoảng 1827, Catharine chết lúc 31 tuổi.[15] Đoạn Gioan Tẩy giả cưới Joan Mary Ferrero, 34 tuổi, là mẹ của Micae, và rồi bà chăm sóc hai đứa nhỏ của cuộc hôn nhân đầu tiên, Phêrô Fedele và Gioan Tẩy giả Anthony.
Micae sinh ngày 9 tháng Sáu năm 1837 và được rửa tội ngày 11 tháng Sáu năm 1837 tại nhà thờ Đức Mẹ Xuống Tuyết và Thánh Simon và Giuđa ở Turin;[16] ngài là người con thứ tư và là con út của Joan Mary. Những anh chị của Micae là Gioan Tẩy giả (sinh ngày 2 tháng Bảy năm 1829), Maria Felicity (sinh ngày 7 tháng Ba năm 1834) và Lu-y Tôma (sinh khoảng cuối 1834). Mary Felicity chết khi Micae sinh ra, nên cậu sống ở nhà với hai anh cùng cha khác mẹ là Phêrô Fedele (22 tuổi) và Gioan Tẩy giả Anthony (17t), và hai anh ruột là Gioan Tẩy giả (8t) và Lu-y Tôma (3t). Vì thế ta có thể dễ dàng hiểu tại sao Micae rất gần gũi với người cuối cùng này.
Micae và trường học tại Forge
Điều này khiến chúng ta hiểu Joan Maria đã đặc biệt chăm sóc đến nền giáo dục của đứa con út, quí tử của bà.
Micae học đọc và viết, và học giáo lý của giáo phận. Những nhà chép tiểu sử đầu tiên nói cho chúng ta rằng cậu có một trí nhớ tuyệt vời. Những bài học giáo lý vẫn in đậm nơi cõi lòng và tâm trí cậu; chúng còn đọng lại nơi cậu đến cuối đời. Trong khoảng một thế kỷ rưỡi, nhiều linh mục và giáo dân coi rẻ một cách bất công loại giáo lý mang nặng chất tín lý và luân lý này. Thực tế, nó lại là một khí cụ có thể cống hiến cho các tâm trí non trẻ, như tâm trí của cậu nhỏ Rua, một nền tảng tôn giáo vốn kéo dài vượt thời gian. Người ta học biết tin và suy nghĩ về Thiên Chúa và Đức Kitô, về Thiên Chúa phán xét tội nhân, về sự sống sau khi chết, về những nhân đức Kitô hữu chính yếu, những giới luật của Thiên Chúa và Giáo hội, về tội lỗi và các bí tích nghĩa là gì.[17] Người Kitô hữu được đào tạo theo đường lối này không cần tìm sự chắc chắn nào hơn.
Ở đây chúng tôi chỉ trích dẫn những nét giáo lý chính mà gia đình Rua đã nghiêm chỉnh nắm giữ. Những thực hành Kitô hữu hằng ngày nhắc nhớ ngài những điểm chính yếu của Kitô giáo. Buổi sáng, gồm có kinh Thờ lạy: “Lạy Chúa, con thờ lạy Chúa và yêu mến Chúa hết lòng...” tiếp theo là kinh Lạy Cha, Kính Mừng, kinh Tin kính, kinh kính Thiên Thần Hộ Thủ, rồi đọc lên những giới răn của Chúa, những điều luật của Giáo hội, các Bí tích mà sau đó là hành vi tin, cậy, mến và thống hối. Ban tối họ đọc kinh “Con thờ lạy Chúa”, kinh Lạy Cha, Kính Mừng, kinh kính Thiên Thần Hộ Thủ và hành vi thống hối.[18]
Ở Piedmont trong gia đình theo phong thái cổ xưa này, đây là cách thức mà ai đã trở thành Kitô hữu không thể không thực hành. Micae đã học giúp lễ vốn cũng cho cậu dịp tỏ ra chút ít ranh mãnh. Khi đã trở thành Bề Trên Cả, ngài sung sướng thú nhận điều này. Năm 1894, ở Cavaglia, một tỉnh lỵ thuộc Piedmont gần Biella, người ta cử hành buổi khai trương một trường học Salêdiêng. Vị linh mục già, một nhân chứng về Đấng Sáng lập mới qua đời, đón tiếp cha Rua và một nhóm khách được mời đến ăn tối nhân dịp đó. Lúc tráng miệng, cha Rua đứng lên đề nghị nâng ly chúc mừng: “Thưa cha, con không rõ cha còn nhớ một chú bé nghịch ngợm, hiếu động đã từng giúp lễ cho cha khi cha là Giám đốc Nhà thờ các Dự Tòng ở Turin và rồi sau đó đã từng uống hết rượu không. Thưa cha, chú bé có bản tính nghịch ngợm được cha đối xử rất tốt đó, và thỉnh thoảng cha còn cho ít tiền, chính là con đây và nay ở đây con chân thành xin cha tha thứ, mặc dù muộn màng đôi chút.” Anh của vị linh mục đó, người đã kể câu chuyện này, thêm rằng: “Bạn có thể tưởng tượng các thực khách vui nhộn cũng như thán phục chừng nào trước sự giản dị của ngài [cha Rua] khi ngài công khai thú nhận một điều như thế từ thuở thiếu thời. Còn vị linh mục già kia đã khóc như một đứa nhỏ.”[19]
Micae chẳng bao lâu đã sẵn sàng lãnh nhận Bí tích Thêm Sức và Thánh Thể. Theo sổ bộ giáo xứ của nhà thờ thánh Gioakim, ngài được chịu phép Thêm Sức do Tổng Giám mục Lu-y Fransoni ngày 25 tháng Tư năm 1845 lúc chưa được tám tuổi. Ngài rước lễ lần đầu cùng năm đó.[20]
Trong học kỳ hai của năm 1845, một năm nhiều biến cố đáng nhớ đối với ngài. Micae mồ côi cha. Gioan Tẩy Giả, cha của Rua chết “lúc khoảng 60 tuổi”. Những người anh ra ở riêng. Dù chồng chết, Joan Mary và các con bà vẫn ở lại Forge; nơi đây đứa con cả của bà có công ăn việc làm.
Biến cố thứ hai trong năm đó có tầm quan trọng quyết định nhất suốt một thời gian lâu dài, chính là cuộc gặp gỡ Don Bosco. Ngài [cha Rua] từng làm chứng tại tiến trình phong thánh: “Tôi biết Vị Đầy Tớ Chúa vào tháng Chín năm 1845, khi tôi được 8 tuổi.” Don Bosco được 30 tuổi. Là linh mục được bốn năm, ngài là một trong những linh mục tuyên úy cho Nhà Nương Náu của bà Barolo; tại đây, ngài được mời gọi đảm trách việc hướng dẫn cho Ospedaletto đang được xây dựng. Từ thuở niên thiếu, ngài đã có khiếu hấp dẫn trẻ em và thiếu niên, làm trò tiêu khiển và dạy dỗ chúng. Đó là đam mê của ngài và ngài rất thành công việc đó. Ngài đến Turin năm 1841; chẳng bao lâu ngài bắt đầu quy tụ và tổ chức một nhóm thiếu niên để dạy giáo lý tại một nhà nguyện nhỏ thuộc Học Viện Mục Vụ, sát kề với nhà thờ thánh Phanxicô Assisi, ở đó ngài tham dự những khóa học về Tác vụ Mục vụ (giải tội, linh hướng và giảng thuyết). Ba năm sau, ngài trở thành tuyên uý cho Nhà Nương Náu của bà Barolo, các thiếu niên đến và tìm gặp ngài tận trong phòng. Con số nhỏ nhoi ngày đầu tiên đã lớn nhanh. Hai vị tuyên úy khác giúp đỡ ngài. Bà Bá tước Barolo đã cho họ một phòng trong khu vực Ospedaletto đã hoàn tất, vốn đã được sắp đặt như một nhà nguyện dâng kính Thánh Phanxicô Salê. Các trẻ em cầu nguyện, ca hát và vui chơi; chúng lắng nghe những bài học tuyệt diệu và những câu chuyện rất hay. Mùa Thu năm 1844, tại Nhà Nương Náu, “Nguyện xá thánh Phanxicô Salê” mang lấy một hình dáng tương tự với Nguyện xá các Thiên Thần Hộ Thủ của cha Cocchi tại Vanchiglia.
Nhưng bà Bá Tước đã cảnh báo trước những vị tuyên úy về tính chất tạm bợ của việc sắp xếp công cuộc ấy. Khi Ospedaletto mở vào tháng Tám sau đó, Nguyện xá Thánh Phanxicô Salê đã phải rời bỏ ngôi nhà đó. Điều này buộc họ nhất thiết phải tìm cho được một nhà nguyện và một sân chơi khác cho thanh thiếu niên hơn là các đường phố chạy qua Nhà Nương Náu. Giữa tháng Năm và tháng Sáu, họ cố gắng gầy dựng [Nguyện xá] ở một nghĩa trang không sử dụng, Thánh Phêrô bị xiềng xích; tại đó cũng có một nhà nguyện. Nhưng giới thẩm quyền đuổi họ ra khỏi đó. Rồi họ trình bày yêu cầu lên ban quản trị thành phố; ngày 18 tháng Bảy năm 1845, thành phố cho họ sử dụng nhà thờ tại Mulini gần sông Dora vào chiều Chúa Nhật. Họ chịu đựng ở đó chỉ đến tháng Mười Hai. Những thiếu niên lập tức tràn về khu gần đó; việc này khiến những người định cư ở đó quan tâm đến vấn đề vệ sinh và an toàn của khu vực lân cận. Tất cả mọi thứ này xảy ra quanh Borgo Dora khiến nhiều người quan tâm và chú ý đến Don Bosco. Micae Rua biết đến điều đó khi Nguyện xá tạm thời gầy lên tại Mulini. Bà mẹ Rua không cho phép đứa con nhỏ của mình chung đụng với đám trẻ bụi đời: vì vậy theo mức chúng ta biết, chính một trong những bạn học của cậu đã nói về Don Bosco cho cậu và muốn cậu đi với mình đến Nhà Nương Náu. Micae lập tức bị vị linh mục hiền lành và vui tươi này thu hút.
Cuộc nổi dậy [Risorgimento] - thống nhất đất nước ở Turin
Những năm tiếp theo, sau khi Micae gặp gỡ Don Bosco, nước Ý thật náo động. Tại Ý đang thực hiện tiến trình Risorgimento. Ở Rôma, năm 1846 Giáo hoàng “tự do” là Đức Piô IX kế vị Giáo hoàng Grêgôriô XVI. Những người cởi mở hơn đã thích ngài lãnh đạo một cuộc thập tự chinh để giải phóng và thống nhất toàn Bán đảo. Cách riêng là cần phải thoát khỏi cái ách Nước Áo vốn đã làm nhục miền Lombardy-Venice. Ngày 4 tháng Ba năm 1848, dân Piedmont đặt ra cho mình một luật cơ bản: Bản Điều Lệ; nó bãi bỏ tính tuyệt đối của chế độ quân chủ. Một quốc hội được bầu chọn; tư duy tự do bắt đầu tiến tới trong Vương quốc Sardinia. Mọi công dân, kể cả những người Do Thái và Valdê, được tuyên bố là bình đẳng. Lòng ái quốc làm sôi sục nhiệt huyết khắp nơi, kể cả giữa những cấp bậc thấp hơn của hàng giáo sĩ, bắt đầu với những chủng sinh; Đức Tổng Giám mục bảo thủ Lu-y Fransoni không hài lòng điều ấy. Ngày 23 tháng Ba, Vua Charles Albert tuyên chiến với Áo để giải phóng Lombardi. Không may, ông bại trận và phải thoái ngôi ủng hộ con là Vua Emmanuel II (23 tháng Ba năm 1849). Đang khi tại Rôma, vốn đã không sẵn sàng chấp nhận một cuộc thập tự chinh quân sự theo loại này, Đức Piô IX bị buộc phải trú ẩn ở Vương quốc Naples, vì cuộc nổi dậy ấy. Cộng hòa Rôma được công bố; theo con mắt của những nhà ái quốc cực đoan hơn, Đức Giáo hoàng trở thành biểu tượng của chủ nghĩa bảo thủ ngu dân thù nghịch với cuộc Risorgmento của nước Ý.
Đang khi đó Micae Rua bắt đầu nghĩ đến đời linh mục. Bầu khí xã hội chắc chắn không có lợi cho ơn gọi, như Don Bosco quen giải thích trong lời nói đầu cho một trong những bút tích của ngài: “Năm đó (1848) một tinh thần nhẹ dạ nổi lên chống lại những dòng tu và các tu hội giáo sĩ; và từ đó chống lại hàng giáo sĩ cũng như bất kỳ thẩm quyền giáo hội nào. Sự giận dữ và coi thường tôn giáo khiến cho giới trẻ xa rời luân lý, đạo đức, và vì thế, xa rời ơn gọi đối với bậc giáo sĩ. Các hội dòng bị phân tán; linh mục bị lăng mạ, một số bị tù đày, số khác bị quản thúc tại gia: nhân loại mà nói, làm thế nào có thể nói về ơn gọi tu sĩ đây?”[21]
Micae học trường các Sư huynh
Suốt những năm phiền khổ này, Micae chưa đến Nguyện xá Don Bosco; từ năm 1846 Nguyện xá ấy đã dứt khoát chuyển qua Valdocco tại Nhà Pinardi ở đó một xưởng biến thành một nhà nguyện. Mẹ ngài không cho phép. Toàn gia đình đi lễ Chúa Nhật tại nhà nguyện của Forge. Nhưng cậu bé vẫn tiếp xúc với Don Bosco như thường. Đôi khi với anh Lu-y, cậu đến Nguyện xá thăm ngài. Nhưng tại trường, cậu có thể thấy ngài cách đặc biệt, và có lẽ cũng đã nói chuyện với ngài. Có lẽ chính Don Bosco đã hướng dẫn cậu tới trường ở ngoại ô Santa Barbara, do các Sư huynh lo về các Trường Học Kitô hữu điều hành (từ nay trở đi chúng ta gọi họ là các Sư huynh La Salle, vì trong tiếng Anh, đây là hạn từ thường được dùng để chỉ họ). Thực vậy, vị linh mục Valdocco tin tưởng vị Giám tỉnh của các Sư huynh đó. Năm 1845 ngài đề tặng cuốn sách đầu tiên của mình, Storia ecclesiastica (Lịch Sử Giáo Hội) “cho sư huynh quí mến Hervé de la Croix, Giám tỉnh của các Sư Huynh La Salle”, xin ngài chấp nhận món quà khiêm tốn này, “tác phẩm bé mọn này... có lẽ không còn là của tôi mà là của Sư huynh.” Nhà sử học của Hội dòng, Georges Rigault, sau khi trích những lời này, viết: “Gioan Bosco rất quan tâm đến khoa sư phạm của La Salle. Bề trên Giám tỉnh đã đi trước dẫn đầu trong nghiên cứu này. Ngài đã lợi dụng sự hiểu biết bẩm sinh của ngài về tâm trí trẻ trong những cuộc nói chuyện thường xuyên với ngài cũng như bằng cách đọc cuốn School handbook và Twelve Virtues of a good teacher.”[22] Điều này rất có thể đúng.
Tháng Mười 1848 Micae bắt đầu đi học tại trường Santa Barbara thuộc khu vực đó, nằm trên đường Borgo Dora n. 29; cậu đến trường đó suốt hai năm. Nếu thông tin của chúng tôi là đúng, ngài ghi danh ngay vào năm thứ hai của trường sơ cấp cao hơn. Chương trình giảng dạy cho biết cậu học “giáo lý, những quy tắc viết văn, hệ thống cân đo dùng ở Piedmont, hệ thống toán thập phân mới được thừa nhận, địa lý Á châu và Phi châu, lịch sử của các Công tước miền Savoy, từ Amadeus VII đến Charles Emmanuel II, những yếu tố của lịch sử thiên nhiên, vẽ và tập viết chữ đẹp.”[23] Rồi những khóa học này hoàn tất việc học căn bản đã được học hỏi ở những lớp sơ cấp thấp hơn.
Các Sư huynh chủ trương giáo dục ưu tiên trên kiến thức. Tại trường, Micae tinh luyện nền giáo dục nhận được ở gia đình. Các học sinh thuộc những lớp sơ cấp được mời gọi để đọc luận đề được vị sáng lập, thánh Gioan Tẩy Giả de La Salle viết ra về Những quy luật cư xử tốt đẹp và giáo dục Kitô hữu (Rules of good manners and Christian education). Trong thời của Micae, ở mọi trường của các Sư huynh, học sinh bị đối xử khắc nghiệt nếu chúng tạo ra ấn tượng là vi phạm những luật lệ này. Chúng phải tỏ lộ thái độ tốt đối với việc dạy dỗ về “nết na”. Cuốn Quy Luật đó căn dặn chúng: “Không gì làm cho thân xác ra duyên dáng hơn sự ngay thẳng của những thói quen xác đáng, nhờ đó một người trẻ tuân theo tình trạng tự nhiên của thân xác mình và sự vận chuyển của các phần thân thể.” Rồi “người trẻ cũng thiên về những khuyết điểm mà trong lãnh vực này chống lại sự nết na và ngay thẳng. Cách cư xử tốt đẹp muốn rằng ta phải ngẩng đầu thẳng và cao, không cúi bên này bên kia cũng chẳng chia trí quay ngang quay ngửa.”
Như chúng ta có thể thấy từ những tiêu đề của những chương khác nhau, cuốn sách nhỏ về “lối cư xử tốt” đầy những chi tiết nhỏ nhặt. Theo trật tự sau đây, những chi tiết này liên hệ đến đầu và mắt, tóc, mặt, trán, mũi, miệng, môi, răng và lưỡi, cách nói năng và phát biểu, ngáp, ho và khạc nhổ; làm sao giữ lưng cho thẳng, vai, cánh tay và cùi chỏ, bàn tay, ngón tay, móng tay, đầu gối, cẳng và chân. Những chuẩn mực liên hoàn của cách xử thế vốn phổ biến trong xã hội Pháp rất ngăn nắp của thế kỷ XIX ngày nay lại xem ra kỳ quặc và quá đáng. Nhưng dựa vào những chi tiết này vốn dường như quá đáng cho ai sống theo cách cá nhân chủ nghĩa của chúng ta, lại tỏ ra rất kính trọng đối với chính mình và tha nhân. Ta phải hoàn toàn làm chủ thái độ của mình nơi công cộng. “Trẻ em không bao giờ nói xen vào khi có người đang nói bằng những câu hỏi, mặc dù là những câu hỏi nghiêm chỉnh và đúng lúc. Khi một ai hỏi điều gì, chúng phải trả lời cách giản dị; và phải thêm vào ‘dạ, thưa ông’ hay ‘không phải, thưa bà’. Ta phải cấm chúng không được chằm chằm nhìn vào những người mà chúng đang nói chuyện, hay nghe lóm một ai đang nói chuyện với người khác, trong khi lại không chú ý đến điều nói cho chúng; cấm chúng cười to hay cười khẩy khi nói; không được nói về những điều họ biết tí xíu. Tắt một lời, chúng cần phải thâm tín rằng lắng nghe, nói ít và không được nói bừa bãi.”
Vốn bản tính kín đáo và chú tâm, Micae Rua không chút khó khăn hấp thụ những nguyên tắc của nền giáo dục tốt lành ấy. Nhờ chúng, như một người lớn, ngài chẳng thấy khó khăn gì khi đáp lại [những chỉ dẫn] của quy luật “xã hội tốt đẹp”.
Kỷ luật thật đanh thép trong các trường học của Sư huynh. Luận đề La guida delle delle scuole cristiane (Cuốn Cẩm nang cho các Trường Kitô hữu) của ngài, được dịch sang tiếng Ý ở Turin do Pomba Publishers năm 1834, minh họa chi tiết những quy luật. Các sư huynh được mời để đọc và đọc lại luận đề dài này. Chúng ta không biết cách thức trong đó chúng được áp dụng chi tiết ra sao tại trường Santa Barbara, mặc dù chúng ta phải cho rằng các sư huynh của thế kỷ XIX không xao nhãng những truyền thống của họ. Dù sao chăng nữa luận đề ấy như một toàn bộ giúp chúng ta hiểu khung cảnh giáo dục chính xác mà trong đó Micae lớn lên từ 11 đến 13 tuổi. Đây là một vài quy luật, vốn gây ngạc nhiên.
Im lặng trong trường: “Giáo viên sẽ làm tốt khi giúp học sinh hiểu rằng chỉ có ba dịp chúng có thể nói, khi trả bài, học giáo lý và cầu nguyện. Giáo viên cũng sẽ giữ luật này và chỉ nói vào ba dịp: 1) trong lúc đọc, khi cần phải sửa lỗi, nếu không có học sinh nào có thể làm thế; 2) trong khi dạy giáo lý; 3) trong lúc suy nghĩ và xét mình. Ngoài những trạng huống này, họ sẽ chỉ nói khi nghĩ rằng thật cần thiết và sẽ bảo đảm rằng những tình trạng như thế thật hiếm hoi. Khi đến lớp học sinh sẽ bỏ mũ ra bên cạnh, khoanh tay lại, và không lết chân trên nền hay gây ra tiếng động bằng giầy dép của mình, hầu không quấy rối sự im lặng có được trong lớp học. Đối với giáo viên thật dễ dàng để thấy rằng im lặng được tuân giữ nếu họ bảo đảm rằng học sinh luôn luôn ngồi vào chỗ của mình, ngồi thẳng, ngước phía trước và hơi hướng về giáo viên; chúng có sách vở trong tay và theo dõi việc đọc sách; phải luôn để ý đến tay của chúng; chúng không được dùng tay chân đụng chạm nhau; chúng không mượn nhau vật dụng hay liếc nhìn nhau; chân chúng phải ngay ngắn, không chạm đến giầy dép của mình; chúng không nằm thượt trên bàn khi viết hay ở trong một tư thế bất tiện nào khác.”[24]
Cuốn The School handbook có một chương dài về những phương pháp gia phạt (sửa lỗi, corrective). Và tác giả nói, đúng là như thế. Thực vậy, “gia phạt (sửa lỗi) học sinh là một trong những việc quan trọng nhất của nghệ thuật dạy học; cần phải chú tâm lợi dụng nó cách chính đáng và hiệu quả, cho cả người nhận nó lẫn người chung quanh.”[25] Hình phạt được thực thi với cây gậy hay roi da trên bàn tay xòe ra, một roi vọt (đánh ba cái, nếu cưỡng lại, đánh năm cái), hay bằng những “đền tội” thông thường gồm việc viết một trang giấy hay học thuộc lòng một bản văn. Gioan Tẩy giả de La Salle biết rằng cần phải thương xót trẻ em, nhưng lại thêm rằng: “Nếu chúng ta quan tâm quá nhiều đến sự mỏng dòn của con người, và sự thông cảm quá độ, để chúng làm điều chúng muốn, chúng ta sẽ có được những em hư hỏng, ương ngạnh, bất tuân.”[26] Nhà giáo dục đặt việc học sinh cần diễn đạt chính mình, vốn ngày nay được để ý rất nhiều, xuống hàng thứ hai. Theo ngài lối cư xử thường hằng (thói quen) của thầy giáo làm mọi sự nên dễ dãi: “Thầy giáo sẽ học để rất nồng ấm và sẵn sàng, và có một lối tiếp cận tử tế, ngay thẳng và cởi mở nhưng không chấp nhận một thái độ hoặc ti tiện hoặc quá thân mật; đối với học sinh họ nên làm mọi sự để chiếm được chúng cho Đức Giêsu Kitô và được thuyết phục rằng trong trường, người ta đạt được và duy trì được uy quyền qua sự cứng rắn, nghiêm khắc và im lặng hơn là với cú tát và thô bạo.”[27]
Căn cứ vào những tiền đề thuộc loại này, người ta có thể hiểu cảm xúc mãnh liệt Don Bosco đã tạo nên khi đến trường Santa Barbara, một linh mục đã cổ xúy những mối liên hệ thân thiện với giới trẻ. Cha Rua làm chứng điều này: “Tôi nhớ lại rằng khi Don Bosco đến dâng lễ và thường giảng vào Chúa Nhật; ngay khi ngài vào nhà nguyện, dường như một dòng điện chạy qua nhiều trẻ em. Chúng nhảy cẫng lên, bỏ chỗ và vây quanh ngài và không chịu được cho đến khi chúng hôn tay ngài. Ngài mất nhiều giờ để đi vào phòng áo. Suốt thời gian đó, các Sư huynh La Salle tốt lành cũng không thể dừng lại sự bất trật tự bề ngoài đó và để mọi sự xảy ra.”[28]
Tại trường của các Sư huynh, Micae tỏ ra là một học sinh sốt sắng, nghiêm chỉnh, cam kết và chăm chỉ: cậu thường đạt được những phiếu điểm “đáng khen”. Những phiếu điểm, mà chúng ta có, khen “cách cư xử tốt lành” và “sự chuyên chăm” ở lớp hai và ba “tiểu học”.[29] Cậu từng giữ kỷ niệm tốt đẹp về những ngày học hành. Các bài học của các Sư huynh về lối cư xử có phẩm cách trong xã hội và cuốn Guida đã từng ảnh hưởng cậu suốt đời.
Chú thích
[1] Ở đây tôi rút từ các dữ liệu trong cuốn sách Don Bosco en son temps của tôi, Turin, Società Editrice Internazionale, 1996, 132-140.
[2] Lá thư của Pier Francesco Cometti viết cho vị Đại diện của Thành phố đó, 10/5/1840, được Umberto Levra trích dẫn, L’altro volto di Torino risorgimentale, 1814-1848, Torino, Comitato di Torino dell’Istituto per la Storia del Risorgimento Italiano, 1989, 162.
[3] Royal licences with which His Majesty approved the Regulations for Schools be they municipal or public or royal. Đề ngày 23 tháng Bảy, 1822, Turin, Royal Press, 1822, 3-4.
[4] [L. Francesetti di Mezzenile], Memorie sulla necessità di avvisare ai mezzi onde isbandire la mendicità, Turin, Tip. Chirio and Mina, 1829, 3 (bản văn được trích trong Levra, L’altro volto, 80).
[5] Levra. L’altro volto, 81.
[6] Bài tường trình của Gioacchino Valerio, được trích dẫn trong Levra, L’altro volto, 165.
[7] Vittorio Bersezio, La plebe. Rômanzo sociale, part I, Turin, C. Favale and Co, 1867, 3.
[8] Lá thư của Pier Francesco Cometti gởi cho vị Đại diện, 7 tháng 12, 1840, được trích trong Levra, L’altro volto, 86.
[9] Lorenzo Valerio, Igiene e moralità degli operai di seterie, Turin, Baglione & Co., 1840, 20-21; được Claudio Felloni and Roberto Audisio trích dẫn, I giovani discoli, trong Giuseppe Bracco (ed.), Torino e don Bosco, Turin, City Historical archives, 1989, vol. 1, 100.
[10] ASCT, Vicariato, Atti criminali, vol. 114, biên bản ngày 5 tháng 2, 1846 (cf. Claudio Felloni and Roberto Audisio, I giovani discoli, trong Giuseppe Bracco (ed.), Torino e don Bosco, Torino, City Historical Archives, 1989, 102).
[11]Chẳng hạn xem danh sách viết tay của Rua trong Văn khố Trung ương Salêdiêng, FdR 2750 B10-D4.
[12]Amadei I, 3.
[13] Trong hai phần này, tôi được khởi hứng bởi Amadei hơn kém tiến bộ và đôi khi hoàn toàn phê bình, Amadei I, 4-5.
[14] Chứng chỉ hôn phối được xuất bản trong Amadei I, 4, n. 2.
[15] Đó là ngày 26 tháng Tư 1828 và ngài chỉ mới 32, theo Amadei (I, 5), nhưng Amadei quy chiếu tới giấy chứng tử của "Ruà Teresa, của Phêrô Baratelli vẫn còn sống, vợ của Gioanni, khoảng 32 tuổi, được ban các Bí tích, chết ở đó ngày 26 tháng Tư 1828 và được chôn táng ở đó ngày 27" (FdR 2750 C4). Vì vậy, ngài lẫn lộn 'Catterina Grimaldi' với 'Teresa Baratelli'. Có những gia đình Rua khác ở Turin lúc đó.
[16] Trích từ Phép Rửa trong FdR 2750D12.
[17] Xem cuốn sách Breve catechismo per li fanciulli che si dispongono alla confessione e prima comunione e per tutti quelli che hanno da imparare gli elementi della dottrina cristiana ad uso della Diocesi di Torino, Turin, Eredi Botta, 1844.
[18] Những em nội trú trong các nhà Salêdiêng xưa kia quen thuộc với điều này, một cách nào đó được làm giàu trong cuốn Companion of Youth, sách cầu nguyện được Don Bosco xuất bản năm 1847 và rồi được tái bản nhiều lần tới 1960.
[19] Giai thoại được Ceria thuật lại, Vita, 10.
[20] Theo lời khai của Angelo Amadei tại tiến trình thu thập thông tin cho việc phong Á thánh của cha Rua, FdR 4350B4.
[21] Cenno istorico sulla Congregazione di S. Francesco di Sales e relativi schiarimenti, Rome, Poliglotta, 1874, 3.
[22] G. Rigault, Histoire générale de l'Institut des Frères des Ecoles Chrétiennes, Vol. VI, Paris, Plon, 1947, 40-41.
[23] Theo A. Auffray (p. 19), ngài bàn đến một "chương trình" có lẽ được các Sư huynh ở Turin cho ngài.
[24] Jean-Baptiste de La Salle, Guida delle scuole cristiane, in Opere, Vol. III, Rôma, Città Nuova, 2000, 137-138.
[25] Guida delle scuole, 158.
[26] Guida delle scuole, 271.
[27] Guida delle scuole, 280.
[28] Trong Documenti per scrivere la storia di D. John Bosco, dell’Oratorio di S. Francesco di Sales e della Congregaz. Salesiana, Vol. III, 25 (ASC, A053), ghi chú bên lề được chép trong MB II, 316. Trong MB chứng từ sau đây miêu tả tòa giải tội của Don Bosco bị vậy chặt, đang khi những tòa giải tội của những vị giải tội khác hoàn toàn trống, cũng có thể là một trong những phóng đại của Lemoyne.
[29] Những tường trình này được sao lại trong FdR 2665A1-7.