2. Môn đệ của Don Bosco
Học Latinh với Don Bosco
Năm 13 tuổi, và đầu mùa hè 1859, Micae bắt đầu tham dự các lớp Latinh để nhận vào trường Trung học. Cậu làm điều này dưới sự hướng dẫn của Don Bosco. Don Bosco đã để mắt đến Rua vì ngài muốn làm cho cậu thành một cộng sự viên tương lai trong việc tông đồ của ngài.
Vào cuối thập niên 1840 Don Bosco đã phát triển thành một cá nhân đặc sủng, hầu như là một người-làm-phép-lạ trong mắt của những người thán phục ngài ở Turin. Báo chí Công giáo đẵ bắt đầu bàn đến ngài như một người nổi tiếng ở Turin. Một bài viết trong báo Conciliatore Torinese xác nhận rằng ngài có “một năng lực kỳ diệu” trên tâm hồn giới trẻ. “Môn đệ mới của Thánh Philip Nêri” có thể làm phép lạ.[30] Hạnh thánh Salêdiêng trong thời kỳ này nêu bật việc làm cho bánh thánh, hạt dẻ ra nhiều và cả việc phục sinh tạm thời một học sinh 15 tuổi hầu cậu ta có thể xưng thú một tội nặng trước khi chết thật sự. Dân chúng cả trong lẫn ngoài Nguyện xá có khuynh hướng gán những phép lạ cho ngài, ngay cả khi ngài chối mình đã làm những việc đó.
Don Bosco cần những cộng sự viên, cách riêng từ bây giờ, bên cạnh Nguyện xá như người ta gọi thế, ngài đã thiết lập một trung tâm tiếp nhận nhỏ. Các thiếu niên ngụ lại đó rồi đi làm việc hoặc đi học trong thành phố. Suốt ba năm ngài đã tìm trong chính khung cảnh mà các thiếu niên của ngài đã xuất thân từ đó hầu tìm được những người sẵn sàng theo ngài. Ngài chú tâm rất nhiều đến chúng, dạy dỗ và cố gắng hướng dẫn chúng tới những mục tiêu loại biệt của chính mình, như tác vụ mục vụ đối với các thiếu niên nghèo và bị bỏ rơi. Nhưng xảy ra nhiều thất vọng. Những thành viên mới, kẻ này tiếp sau người nọ, những người ngài đã từng kỳ vọng, lại bỏ ngài mà đi.
Chính lúc đó Micae Rua đến Nguyện xá. Trong những ngày nghỉ hè năm 1850, ngài bắt đầu các lớp Latinh cùng với hai người trẻ khác. Giáo sư của họ, Felix Reviglia, là một trong những người bạn của họ nhưng tấn tới hơn trong việc học hành. Sau hai tuần, Don Bosco lượng giá sự tiến bộ của họ. Nhà viết tiểu sử đầu tiên, Francesia, thì minh bạch: Micae thật “xao nhãng”. Phán đoán này làm kinh ngạc những ai biết ngài. Xét cho cùng, thật dễ hiểu. Trong trường của các Sư huynh, ngài đã quen với việc giảng dạy có phương pháp, được tổ chức hoàn hảo, theo những lớp học có lớp lang, thế nên ngài chỉ có thể cảm thấy bị mất phương hướng do những bài học được một người bạn không phải là chuyên viên, dù đầy thiện chí, truyền đạt. Nhưng ngay khi ngài ý thức rằng Don Bosco không hạnh phúc về điều đó, ngài liền sắn tay áo lên, như nhà tiểu sử cho biết, và chẳng bao lâu, với nỗ lực của mình, vượt qua hai bạn kia.[31]
Don Bosco dần dần khai tâm Rua vào đời sống mà Don Bosco muốn cho cậu. Cầu nguyện và vui tươi chiếm vai trò trung tâm. Micae bắt đầu thời kỳ mới này bằng cách tham dự cuộc Tĩnh Tâm được tổ chức cho các thiếu niên Nguyện xá tại tiểu chủng viện ở Giaveno, vào cuối tháng Chín, 1850. Vị thánh đem khoảng 100 thiếu niên tới đó, được liên kết với hơn 20 thiếu niên từ làng này. Cuộc tĩnh tâm theo một phiên bản được đơn giản hóa của những cuộc tĩnh tâm theo thánh Ignatio, mà Don Bosco đã biết rõ. Nguyện ngắm ban sáng được cha phó xứ Innocent Arduino từ Giaveno giúp, còn cha Felix Giorda lo những bài dạy dỗ ban sáng và ban chiều. Những bài giảng, cầu nguyện, sách thiêng, làm đầy những ngày của những người tham dự. Robert Murialdo, Giám đốc của Nguyện xá các Thiên Thần Hộ Thủ, đến giúp giải tội. Vào thời đó, ta không thể nghĩ tới cuộc tĩnh tâm nào mà không có sám hối và xưng tội.[32]
Sự thủ tâm của những người tham dự thật chân thành. Các vị giảng phòng thực thi trách vụ của mình tốt đẹp. Ngày 12 tháng Chín Don Bosco mãn nguyện nhìn thấy rằng vào ngày đó khi rời nhà nguyện, không có thiếu niên nào đi giải trí vốn đã được hoạch định vào giữa 4 và 5 giờ chiều. Chúng đều thích ở lại trong “phòng suy niệm.”[33] Micae thường thích nói cách thức ngài đã học từ Don Bosco vào dịp đó về “việc dọn mình chết lành” và tầm quan trọng của việc thường xuyên và cẩn thận thực hành nó.
Một vài ngày sau, nhà giáo dục thánh thiện đó mời một nhóm nhỏ gồm những thiếu niên Nguyện xá tốt nhất giữa chúng là thiếu niên Rua, để qua một tuần tại Becchi. Ngài yêu thích rất nhiều sườn đồi nho nhỏ, phủ đầy cây nho và cây ăn trái đây đó trong các cánh đồng và được các cây lớn che nắng dọc theo các sườn đồi. Nó mang ngài về lại những kỷ niệm thời niên thiếu. Một nhà nguyện tách với sườn đồi của nhà anh Giuse, và được dâng kính Đức Mẹ Mân Côi, cho phép ngài cử hành Thánh Lễ ở đó. Trong những cuộc đi chơi quanh khu vực ấy, các nông dân cho trẻ nho và trái cây. Rua thường quen với đời sống đơn điệu và đóng kín của thành phố, vui thích không khí trong lành mát mẻ của miền quê. Ngài trở lại được sảng khoái và yêu mến người cha thiêng liêng của mình hơn nữa.
Những lớp trung học
Đoạn Micae vào trung học. Vào thời gian đó những lớp trung học, được gọi là ‘văn phạm’ gồm ba năm. Theo Francesia, vào cuối những ngày lễ năm 1850, “Don Bosco, người muốn các học sinh của mình tham dự một khóa học thông thường; ngài nói về nó cho một linh mục tốt lành đang giúp tại Nguyện xá và điều hành một trường tư dạy Latinh. Đó là cha Phêrô Merla, từ Rivara; ngài rất nhiệt thành giúp các học sinh sắc bén học hành. Don Bosco trao phó học sinh của mình cho ngài, và chúng có thể xong hai khóa học đầu tiên về tiếng Latinh rất tốt đẹp với ngài.”[34]
Đầu niên khóa 1851-1852, Micae Rua bắt đầu theo học với Giuse Charles Bonzanino, ở đường Guardinfanti, 19. Sau một tháng, tháng Mười 1851, cậu đạt được điểm “xuất sắc” ở Latinh, và được phép đi vào năm thứ ba của các lớp văn phạm. Trường của Bonzanino không giống chút nào với trường của các Sư huynh, nhưng ít nhất ngài không phí giờ. Được biết rõ nhưng với một trí tưởng phong phú, Augustinô Affray cho ta một bản miêu tả cực kỳ sinh động về vị thầy đó:
“Cha Bonzanini này có một nhân cách lớn lao. Dạy học như nằm trong máu ngài; ngài dành trọn xác hồn để dạy học. Những thành công của ngài, vốn kiên định, có thể được giải thích bằng việc dạy học rất phẩm chất: rõ ràng, có phương pháp, thực tiễn. Một cách bản năng kinh nghiệm lâu dài của ngài khiến ngài quy chiếu tới những yếu tố cốt thiết, ngài giải đáp các vấn đề chỉ bằng những nguyên tắc; ngài biết cách phú vào trong những lớp học một cách nào đó sự khổ hạnh lẫn nhiệt tình cùng sự thông minh... Ngài sống gần nhà thờ thánh Phanxicô Assisi, trong cùng một nhà mà Silvio Pellico đã ở sau khi ra khỏi tù, đã viết cuốn Le mie prigioni. Mỗi sáng dưới những mái vòm của tòa nhà ấy, những nhóm thiếu niên dồn về, cách riêng trong những lớp cao hơn; chúng tách thành ba khóa Latinh và Hy lạp. Ngài điều hành cả ba lớp chung. Một số em học bài đang khi một số khác nghe giảng bài và ngược lại. Cùng buổi sáng nếu bạn thích bạn có thể tham dự vào một (lớp) giải thích về Cornelius Nepote, Xêda hay Sallust, Phaidros, Ovid hay Virgil. Không có bức tường, thể lý hay luân lý, chia tách lớp học. Thầy giáo chỉ yêu cầu hai điều: chú ý và làm bài đầy đủ và học các bài như chúng buộc. Còn mọi sự khác, hoàn toàn tự do. Phương pháp này mang lợi ích cho học sinh tốt. Những người có một vài khoảng trống trong việc học hành có thể làm đầy chúng, bằng cách dự thêm một khóa căn bản hơn. Những người có tinh thần can đảm và với những khả năng tri thức, có thể tiếp tục tới khóa học cao hơn. Bonzanino có những học sinh bắt đầu với lớp năm trong tháng Mười, tiếp tục tới lớp bốn vào mùa Phục sinh và kết thúc năm ở lớp ba. Sáng thứ bẩy, hoàn toàn dành để làm lại bài luận để quy cho những vị trí [được chuyển theo sự xuất sắc] cho tuần đó, bày ra một quang cảnh hiếu học: những học sinh học 'gạo' vội vã hoàn tất những trách vụ trong khóa học của mình vốn cho họ sự xa xỉ là thêm vào trong lớp cao hơn. Thiếu niên Micae thu lợi diệu kỳ từ bầu khí kích thích này. Một trong những bạn của ngài, Francesia - một Salêdiêng giầu tưởng tượng mà tôi cho rằng là nguồn chính của thông tin này - nói rằng Rua, khi ở trong lớp thứ ba, đã lấy những lớp tiếp theo sau hai khóa trước để có thể kiện cường kiến thức của mình về những cổ ngữ.”[35]
Micae tỏa sáng trong học hành. Theo Francesia, và nhân chứng sắc sảo, dù ở giữa những học sinh rất thông minh, thì chẳng mấy chốc ngài chiếm chỗ nhất tại đó.[36]
Cùng chính Francesia đó nói về một trò nghịch ngợm mà Micae là nạn nhân vô tội. Vào thời đó tại Piedmont vào thứ Năm tuần III mùa chay, có một thói tục là tổ chức một trò tinh quái vốn bao gồm việc chuyển tới cho một kẻ không may nào đó một câu tục ngữ thật sự; không biết bị gài bẫy, nạn nhân chắc chắn sẽ bị mắc lừa. Năm 1852, những học sinh của Bonzanino quyết định gởi câu tục ngữ cho thầy giáo. Rua vốn đã nghi ngờ mưu mẹo đó, tìm cách can ngăn các bạn nhưng không thành công. Sáng thứ năm đó, khi Rua đi vào lớp sau những người khác từ Nguyện xá, một người bạn nói với ngài: “Bạn vẫn khỏe mạnh vì vậy bạn cho thể đưa lá thư này từ Don Bosco cho thầy giáo.” Rua cầm lấy và trao lá thư. Ngay khi thầy giáo nghe lá thư đến từ ai, ngài mở ra đọc và đó lại một câu rất tục. Ngài đứng phắt dậy, giận dữ với Micae, nói rằng ngài không chưa hề từng kỳ vọng một sự xấc láo như thế lại đến từ một trong những thiếu niên của Don Bosco, và thậm chí càng ít hơn nữa, từ Micae. Sau này, khi hiểu ra nạn nhân thật sự là Micae Rua, thầy giáo mới dịu lại. Đó chính là ngày áp lễ thánh Giuse, quan thầy của Bonzanino. Ban tối đó, Don Bosco sai các thiếu niên của mình đến chúc ngài một lễ quan thầy hạnh phúc. Nhưng Rua tách mình và không dám để mình được chú ý. Thầy giáo đến với cậu và nói: “Đừng buồn con, đó là lỗi của cha. Cha không hiểu rằng câu tục ngữ đó muốn nói cho con, chứ không phải cho cha.” Cha Rua không bao giờ quên biến cố này. “Đó là một thử thách lớn”. Mãi năm 1909 ngài mới giãi bày cho Francesia, người đã nhắc nhớ ngài về chuyện đó, không phải vì ngài đã kinh nghiệm sự bẽ mặt, cho bằng vì sự kiện đó mà người ta nghĩ ngài đã chơi khăm một giáo sư yêu quí.[37]
Micae nổi bật tại Nguyện xá của Don Bosco, vốn đang hoạt động cực kỳ sung mãn. Chúng ta cần nhắc nhớ mình rằng trung tâm trẻ này đã trở thành một công cuộc thí điểm. Khoảng cuối 1847, Tổng Giám mục Fransoni được thông tin trong một lời xin rằng cha Gioan Bosco và Borel, can dự đến việc hướng dẫn thiêng liêng tại Nguyện xá của thánh Phanxicô Salê, đã mở một Nguyện xá mới giữa viale dei Platani và viale del Re và xin để ủy nhiệm cha phó tại Nữ Vương các Thiên Thần đến ban phép lành cho nhà nguyện. Nguyện xá mới, được đặt dưới sự che chở của thánh Lui Gonzaga, được định vị trong khu ngoại thành của ngoại ô Porta Nuova. Theo sau một biến cố không may đã xảy ra cho cha Cocchi, khi 1849 kết thúc với việc đóng cửa Nguyện xá các Thiên Thần Hộ Thủ ở Vanchiglia, Tổng Giám mục cũng đã trao cho Don Bosco chịu trách nhiệm cho Nguyện xá đầu tiên này tại Turin. Trong khung cảnh giáo sĩ này, một số người đã không quá hạnh phúc vì những trách nhiệm mới thêm vào này. Don Bosco bị quở trách vì quá khoe khoang. Ghen tuông đã đầu độc các mối liên hệ. Những lời phàn nàn này chỉ chấm dứt sau khi một sắc lệnh từ chính Tổng Giám mục ban hành. Từ Lyon, ngày 31 tháng Ba 1852, Tổng Giám mục Fransoni, bị lưu đầy bên Pháp, đã chỉ định Don Bosco là “giám đốc và người thủ lãnh thiêng liêng” của Nguyện xá Thánh Phanxicô Salê; các Nguyện xá Thiên Thần Hộ Thủ và thánh Lu-y Gonzaga được coi là “nối kết và phụ thuộc vào đó.”[38]
Nhà gắn liền với Nguyện xá Thánh Phanxicô Salê, dù nghèo, chứng kiến con số những người ở trong, (tức) những thiếu niên thường bị lãng quên vốn bị buộc phải kiếm việc làm ở một địa điểm xây dựng nào đó, gia tăng. Nhà nguyện tại mái ấm Pinardi đã trở thành quá nhỏ cho tất cả những thiếu niên này. Tự nhiên, Don Bosco quyết định xây một nhà thờ thật sự và thích hợp, dâng kính Thánh Phanxicô Salê, và được làm phép ngày 21 tháng Sáu 1852. Đang khi đó ngài cũng xây một tòa nhà mới bên cạnh tòa nhà cũ.
Micae vẫn sống ở gia đình, nhưng thường dành thời giờ rảnh tại Nguyện xá. Đang khi đó, ngài đang lớn lên. Là một nhà quan sát bẩm sinh, ngài nhanh chóng hiểu những ý hướng của Don Bosco và khi có thể, ngài giúp giữ trật tự và kỷ luật nào đó giữa những em nội trú và ngoại trú. Ăn mặc chỉnh tề, lịch sự, và với một sự nghiêm chỉnh nào đó quanh ngài, căn cứ vào Rules for good education and civility của thánh Gioan Tẩy giả de La Salle, vào tuổi của mình, ngài đáng được mọi người kính trọng. Gioan Cagliero đã để lại cho chúng ta một khóe nhìn đẹp đẽ nào đó về Micae vào thời đó giữa những bạn hữu của ngài, một khóe nhìn có lẽ được Auffray làm giầu mà nhờ đó tôi có được trích dẫn này:
“Chúng tôi đã có ngài như một giám thị đi đi về về đến trường. Tôi thú thực là chúng tôi rất trái ngược với ngài. Chúng tôi càng nhẹ dạ và ồn ào, hầu như ương ngạnh, thì ngài lại càng điềm tĩnh, kín đáo và chăm chỉ. Chúng tôi không luôn luôn nghe ngài, nhưng ngài khiến chúng tôi ngạc nhiên nhiều trong lớp hoặc trong học hành cũng như trong giờ giải trí, với những câu chuyện thú vị cũng như lòng mộ đạo ngoại thường của ngài. Sáng Chúa Nhật, tôi có thể thấy ngài đứng quan sát gần suối nước. Don Bosco giải tội trước lễ, và Rua bảo đảm rằng không một hối nhân nào đã được xá giải lại không hiệp lễ vì sự cẩu thả, bằng cách đến uống nước từ vòi nước. [hãy nhớ rằng đây là thời của việc giữ chay Thánh Thể rất nhiệm nhặt.] Suốt thánh lễ, sự chú tâm của ngài khích lệ chúng tôi cầu nguyện. Ngài chặn chúng tôi khỏi tán gẫu, và sau khi hiệp lễ, nếu chúng tôi chia trí và quay ngang quay ngửa, ngài kêu gọi chúng ta trở lại bổn phận của mình, thì thào nhỏ nhẹ: “Hãy tạ ơn Chúa đi!” Trong các câu chuyện của chúng tôi ngài không ngừng ca ngợi Don Bosco và ngài không ngừng khích lệ chúng tôi tỏ lòng yêu mến Don Bosco bằng sự vâng phục gương mẫu. Ngài có tài ứng biến tuyệt diệu, không bao giờ chịu đựng bất kỳ cuộc nói chuyện đáng ngờ nào giữa những thiếu niên lao động đến từ bên ngoài hay từ những người mà chỉ mới sinh sống với Don Bosco; và thậm chí hơn nữa giữa những học sinh của các giáo sư Bonzanino hay cha Picco, mà dường như đã đi tiếp vào bậc giáo sĩ.”[39]
Những bạn hữu thời đó của ngài, nay đã trưởng thành, nhìn nhận rằng không ai sánh được với Rua trong việc chăm chú thi hành những trách vụ của mình. Tự nhiên khi Don Bosco, trong một huấn đức, xin những người tình nguyện đọc mỗi ngày Bẩy niềm vui của Đức Mẹ, thì Micae Rua là một trong mười hai người đã sẵn sàng (5 tháng Sáu 1852).
Micae Rua mặc áo giáo sĩ
Những ngày nghỉ năm 1852 thật quyết định đối với Micae. Lúc 15 tuổi ngài đã tỏ ra trưởng thành thật sự. Như ngài đã làm trong năm 1850, vào tháng Chín, ngài tham dự với khoảng 50 bạn hữu, trong cuộc tĩnh tâm do Don Bosco tổ chức cho các thiếu niên tại tiểu chủng viện ở Giaveno. Khi về, ngài rời gia đình ở Forge và là một người nội trú tại nhà gắn với Nguyện xá. Cuối cùng, trong những ngày tại Becchi, nay trở thành truyền thống cho nhóm thiếu niên từ Nguyện xá, Don Bosco đã xin ngài mặc áo thâm chùng. Không có nghi thức chuẩn bị. Giờ đây thiếu niên này đã nhân đôi sự cam kết của mình nhờ quan sát vị thầy thiêng liêng của mình. Đối với ngài những ngày bên Don Bosco đã có cùng một giá trị như bài nguyện gẫm. Tại tiến trình phong thánh, ngài đã cung khai như sau: “Quan sát Don Bosco ngay cả trong những hành vi nhỏ nhất của ngài tạo nhiều ấn tượng trên tôi hơn là đọc và suy gẫm bất kỳ sách đạo đức nào.”[40]
Nghi thức mặc áo dòng của ngài và người bạn ngài là Giuse Rocchietti diễn ra là Giuse Rocchietti, xảy ra vào ngày 3 tháng Mười 1852, lễ Mẹ Mân Côi, trong ngôi nhà nguyện nhỏ gần bên nhà của anh Giuse Bosco. Cha xứ tại Castelnuovo, cha Cinzano, chủ sự. Ngài làm phép các áo chùng thâm cho hai thiếu niên. Đoạn cha Cinzano giúp Rocchietti, người lớn tuổi hơn trong hai người, mặc áo chùng thâm, còn cha Gioan Tẩy giả Bertagna giúp cho Micae. Lúc cuối đời Don Rua vẫn gợi nhắc điều Don Bosco đã nói với mình vào dịp đó: “Rua thân yêu của cha, nay con khởi sự một cuộc đời mới. Con bắt đầu hành trình tiến về đất hứa, nhưng con vẫn phải vượt qua Biển Đỏ và sa mạc. Nếu con giúp cha, chúng ta sẽ cùng nhau vượt qua và sẽ tới đích.” Khi giải thích suy tư này, Cha Ceria đã viết rằng Don Bosco áp dụng câu nói của sách Công Vụ cho môn đệ của mình: “Chúng ta phải chịu nhiều gian khổ mới được vào Nước Thiên Chúa” (Acts 14, 22).[41]
Việc Rua trở lại Nguyện xá với chiếc áo chùng thâm tạo nên một xúc động mạnh: theo những nhà tiểu sử sơ khai, ngài dường như “một thiên thần”. Có lẽ đúng. Dù sao chăng nữa chiếc áo thâm chùng vốn thích hợp với ngài, lại xem ra tốt cho ngài và thêm một phong cách đẹp cho lối tiếp cận bình thản của ngài và phẩm giá tự nhiên của tác phong ngài. Không cần phải nói, rõ ràng ngài mặc áo đó với sự kính trọng.
Địa vị như một tư giáo đem ngài đến gần Don Bosco hơn. Cuối cùng sau nhiều ngập ngừng, ngài quyết định hỏi ngài lý lẽ về cái cử chỉ mà ngài đã làm khi gặp cậu tại trường của các Sư Huynh. Ngài thường cho các thiếu niên khác một ảnh tượng, đang khi đối với Rua, ngài lại chìa tay trái ra và dùng tay phải làm như thể cắt đôi ra và nói: “Micae bé nhỏ, lấy đi, lấy đi.” Những lời này và hành động này có nghĩa gì? “Rua, con xem: Don Bosco muốn nói cho con rằng một ngày kia, ngài sẽ chia đôi với con đấy. Sau này, con sẽ hiểu hơn mà.”[42]
Để hoàn tất học đệ nhị cấp Micae tới trường của cha Mattheu Picco, tọa lạc trên đường Fornelletti, gần nhà thờ thánh Augustinô. Nó là một trường quí tộc, nhưng cha Picco, bạn của Don Bosco, đã nhận các thiếu niên của ngài vào học miễn phí. Rua, học sinh hoàn hảo, chỉ dùng một năm để hoàn tất (1852-1853) các khóa học về nhân văn (Latinh và Hy lạp) và hùng biện. Ngài thấy dễ chịu trong khung cảnh đó. Tại đây, ngài có thể thiết lập những mối giao tiếp mới vốn sẽ rất quí cho ngài trong tương lai. Các lớp trung học phổ thông kết thúc với bài thi gọi là licenza. Luôn luôn như vậy, Micae học hành xuất chúng. Một trong những người thi, Đaminh Cappellina, người đã có được một danh tiếng trong thế giới văn chương miền Piedmont nói cho thầy giáo đó: “hãy cho phép con chỉ ra một học trò xứng đáng. Người đó không thể không tạo được sự nghiêp sáng chói!”[43]
Niên học này được ghi dấu bằng ba biến cố. Chiều tối ngày 1 tháng Mười Hai 1852, Nguyện xá trở nên không ổn bởi vì các tường của tòa nhà đang xây dựng bỗng sụp đổ xuống. Giữa đêm, mẹ Don Bosco nghe một tiếng kêu răng rắc và báo động ngay. Khoảng 50 thiếu niên đang ngủ trong nhà đó. Chúng tất cả chạy ào ra sân, dưới các cây và rồi hướng về nhà nguyện. Rua là một trong số đó. May thay, không ai bị thương. Thiệt hại thật đáng kể, nhưng chỉ vật chất thôi.
Biến cố thứ hai có ý nghĩa lịch sử. Tháng Hai 1853, Giám mục Ivrea, Lu-y Moreno, và Don Bosco khởi sự một sưu tập bình dân là Catholic Readings, nó tạo nên sự nổi bật thậm chí lớn hơn cả công cuộc tại Valdocco.
Biến cố thứ ba tác động đến Don Rua và gia đình ngài: ngày 29 tháng Ba 1853, người anh cả cùng cha khác mẹ là Gioan qua đời. Cái chết này tác động mạnh đến ngài: “Chưa bao giờ tôi thấy bạn tôi ưu phiền hơn lần này! Tôi biết trời bắt đầu sang xuân, nhưng mưa nhiều, và đó là một ngày rất buồn. Chúng tôi chu toàn bổn phận học đường; thấy ngài thật đau khổ biết bao, tôi không thể kiềm giữ mà không hỏi ngài: - chuyện gì xảy ra khiến cậu trông buồn thảm thế?
Ngước mắt lên trời, ngài thở dài thốt lên: - Anh tớ chết rồi!
Tôi có thể nói gì để an ủi ngài? Chúng tôi ở trong phòng áo của Nguyện xá ngày lễ, ngài rời khỏi phòng học, đi vào nhà thờ cầu nguyện và cầu nguyện lâu giờ trong đó.”[44]
Cái chết này đã tác động đến gia đình Rua. Mẹ của Micae, nay còn một mình, rời Forge đến Nguyện xá thánh Phanxicô Salê, trong nhà Bellezza. Nay với thời gian trên đôi tay mình, bà sống trong phòng giặt giũ của Don Bosco với mẹ ngài, Magarita, mà từ 1846 đã chăm lo vật chất của Nguyện xá. Do vậy, những mối dây giữa công cuộc của Don Bosco và Micae được kiện cường.
Chú thích
[30] Cf. Il Conciliatore Torinese, Saturday 7 April 1849, 2 (Bài này được Laurence Gastaldi ký nhận). Ở đây tôi quy chiếu đến cuốn sách Don Bosco en son temps của tôi, 281-286.
[31] Francesia, 18-19.
[32] Những dấu liên quan đến những cuộc tĩnh tâm được Don Bosco tổ chức trong P. Stella, Don Bosco nella storia della religiosità cattolica, Vol. II: Mentalità religiosa e spiritualità, Zürich, Pas-Verlag, 1969, 336-337.
[33] Thư của G. Bosco gởi cho G. Borel, Giaveno, 12 tháng Chín, 1850, in Epistolario I, 111-112.
[34] Francesia, 20.
[35] Auffray, 26-27.
[36] Francesia, 21-22.
[37] Francesia, 22-25, được thích ứng trong, Vita, 18-19.
[38] Tài liệu được sao chép lại trong MB IV, 178-179.
[39] Theo A. Auffray, 31-32, được xác quyết bởi chứng từ của J. Cagliero ở tiến trình phong thánh, Summarium super dubio, 1933, 51-52. (Summarium này được thấy như phần của Positio, 1935).
[40] Ceria, Vita, 22.
[41] Ceria, Vita, 22. Đây là phiên bản Salêdiêng về việc mặc áo vốn dường như đúng đối với tôi. Nhưng như sử gia Salêdiêng Aldo Giraudo đã bảo tôi, chúng ta cần biết rằng "sự ghi danh chính thức của các tư giáo tại nhà của Tổng Giám mục ở Turin, suốt 1819-1876 chỉ ra rằng "Micae Rua, con của Gioan và Ferrero Joan Mary, sinh 9 tháng Sáu năm 1837, được mặc áo giáo sĩ ở Turin bởi cha Gioan Bosco vào ngày 16 tháng 12, 1853" (Văn khố Tổng Giám mục Turin 12.12.3: Registrum clericorum 1808-1847 [but: 1819-1876], rubr. R, 1853). Theo cá nhân, tôi đoán rằng ngày 16.12 1853, Don Bosco, mà đã không chính thức thông tin cho Curia vào tháng Mười năm 1852, đã chỉ khuyên sự quản trị địa phận rằng ngài đã trao ban áo giáo sĩ cho thanh niên Rua. Và rồi nơi chốn và ngày rõ ràng của tài liệu quản trị.
[42] Ceria, Vita, 23.
[43] Francesia, 35.
[44] Francesia, 28-29.