1. NỮ TU ANGELA VALLESE
Tại vùng đất sự sống được đâm rễ
Bây giờ, chúng ta hãy cùng nhau quan sát từng người một trong số những nhà truyền giáo mới trong cuộc xuất quân lần đầu này, xem họ đã vất vả như thế nào để nhận biết về con người, chủng tộc, khí hậu và phong tục, loại ngôn ngữ và cách diễn tả mang - tính văn hóa rất khác biệt với những gì đã được khắc ghi trong máu huyết của họ.
Người đầu tiên đáp ứng cho lời mời gọi chúng ta là nữ tu Angela Vallese17. Chị là người Monferrato, cũng như Don Bosco và Mẹ Mazzarello. Chị chào đời ở Lu vào ngày 8 tháng 1, tháng lạnh lẽo nhất trong năm 1854. Đây cũng là năm hồng ân với việc tuyên bố tín điều Mẹ Vô Nhiễm.
Lu, một trong năm thị xã ở Ý có tên cực ngắn18, cách Alessandria và Asti khoảng 20 cây số, cách Torino và Genova khoảng 100 cây số. Ngày nay, Lu có số dân không đến một ngàn; còn thời đó, dân số chiếm khoảng ba ngàn. Đây cũng là quê hương của Don Filippo Rinaldi.
Vallese thuộc gia đình nghèo, đông con nhưng giàu đức tin và nhân bản. Người cha là Lorenzo, làm nghề trồng trọt tại trang trại nhỏ của ông và là một người trực phòng thánh đầy nhiệt thành của giáo xứ. Người mẹ là bà Maria Maddalena Demartini. Cũng như chồng, đời sống bà cắm rễ sâu trong đức tin Ki-tô hữu và bà luôn tìm cách chuyển trao đức tin ấy cho con cái.
Họ có tất cả 11 người con; tuy nhiên, bốn trong số những người con ấy gồm hai gái và hai trai đã chết ngay khi lọt lòng mẹ hoặc chỉ sống một vài ngày. Angela Maria Maddalena, người sẽ trở thành nữ tu Angela của chúng ta trong tương lai, là con thứ năm trong số 11 người. Những chị gái vẫn còn sống của Angela là Anna Maria Elisabetta (Isabella) và Teresa Maria; các em gái là Maria Domenica, Laura Maria Luigia, Laura Maria, Bibiana Carolina.
Laura Maria Luigia, sinh năm 1862, cũng như Angela, là nhà truyền giáo tại châu Mỹ, chết năm 1893 lúc 33 tuổi19.
Về những ơn gọi này, người ta kể lại câu chuyện liên quan đến ơn gọi của chị Angela là người đầu tiên rời khỏi gia đình như sau: Ông bố Laurenzo, khi phải đối diện với những khó khăn mà một số bạn bè và họ hàng thân thích nêu ra, đã trả lời cách cương quyết rằng: “Khi tôi lên mười bảy tuổi, tôi đã làm điều mà tôi muốn. Những đứa con của tôi cũng phải được tự do chọn lựa cho chính mình như vậy”.
Khoảng năm 7, 8 tuổi, Angela nhìn thấy hai vị truyền giáo thuộc dòng Truyền Giảng Tin Mừng đến làng của mình và sự hiện diện của họ đã nhen lên những giấc mơ trong lòng em. Angela bắt đầu mơ về những vùng đất xa xôi, nơi có những người ngoại giáo, nơi mà nước rửa tội đổ trên đầu của trẻ em và người lớn tựa như những cơn sóng của ơn cứu độ sáng ngời.
Cha mẹ hạnh phúc khi ghi tên cho cô con gái vào “Hội Thánh Nhi” (Opera Santa Infanzia). Angela cảm thấy hạnh phúc như được bay bổng lên trời khi được phân công đứng ở cửa nhà thờ để thu tiền dâng cúng cho các nhà truyền giáo. Ánh mắt truyền cảm và nụ cười duyên dáng đã là một lời thuyết phục toát ra tâm hồn của cô, và những người giáo dân đã luôn rộng tay đáp lại mong muốn ấy bằng việc mở rộng hầu bao. Tại gia đình, Angela cũng có một ống tiền nhỏ màu nâu, dường như cô đã nói với ống tiền ấy rằng: “Các bạn hãy trở nên bông hoa nhỏ cho ta nhé, để các bạn có thể gặp gỡ các nhà truyền giáo và giúp nhiều người trở thành Ki-tô hữu”.
Một ngày nọ, khi giao tiền lạc quyên truyền giáo cho cha xứ, Angela nói: “Con ước muốn Thiên Chúa sẽ cứu lấy các linh hồn nhiều như những đồng tiền này”.
Năm lên mười tuổi, Angela đi làm cho tiệm may, cô học nghề rất nhanh. Tình cờ, cô vào nhà của một vài quý bà giàu có. Angela thực sự choáng ngợp khi nhìn thấy biết bao những vật dụng đẹp đẽ và hào nhoáng, nhưng cô chưa bao giờ cảm thấy buồn vì sự nghèo nàn của gia đình. Trái lại, cô còn cảm nhận sâu xa giá trị của một đời sống đơn sơ, và tìm cách xa tránh mọi biểu hiện của thói ta đây.
Năm Angela lên 18 tuổi, một thanh niên ưu tú đến gặp cha cô để xin cưới cô làm vợ. Tuy nhiên, Angela trả lời với cha rằng điều này không thể được vì đã từ rất lâu, cô quyết định thuộc về một mình Thiên Chúa. Và thế là ông Lorenzo nói lên câu nói đơn sơ đầy khôn ngoan của mình: “những đứa con của tôi cần phải được tự do quyết định cho riêng mình”.
Ở Lu, mọi người đều biết đến Don Bosco. Khi lên 8 tuổi, cô đã biết đến chuyến đi dạo của ngài với các thiếu niên và cô vẫn còn nhắc mãi đến sự kiện đó. Như thế, khi biết ngài đã cùng với Maria Mazzarello thành lập cộng đoàn FMA ở Mornese, cô gái trẻ này chắc chắn đã reo lên: “Đó là chỗ của tôi. Tôi cảm thấy Thiên Chúa muốn tôi ở đó”20.
Năm 1875, Angela lên 21 tuổi, cô đến Mornese, sau khi vượt qua không ít khó khăn về mặt kinh tế. Chị gái Teresa đảm bảo với em mình rằng chị ấy sẽ làm tất cả những gì có thể để kiếm được món tiền tiết kiệm nhỏ mà Angela sẽ không thể đóng góp cho gia đình được nữa. Nếu cần, chị sẽ làm cả công việc của một hầu gái.
Ngày 29.08, Angela đã được chị Teresa đưa đến Borgo San Martino, nơi mà các nữ tu mới đến cư trú được ít lâu. Bề trên nhà là Sr. Felicina Mazzarello đã đón Angela vào nhà.
Tiếp theo là một chuyến hành trình nhỏ trên chiếc xe lửa kêu xình xịch đầy huyên náo đi mãi đến Serravalle Scrivia. Sau đó mọi người lên xe ngựa đến Gavi và cuối cùng là đi bộ.
Cuộc gặp gỡ thiêng liêng giữa Angela và Main diễn ra cách tự nhiên: Ngay lập tức, cả hai: Người này lẫn người kia đều nhận ra rằng trọn đời sống họ chỉ có một tên gọi: Đó là tên Giê-su. Phải dành cho Ngài tất cả, luôn luôn và với bất cứ giá nào. Cũng không cần phải kể ra những nhân đức như khiêm nhường, tự hiến, nụ cười thân thiện, v.v... vì với chọn lựa ưu tiên ấy, những điều này trở nên một tổng thể duy nhất. Tất cả là tinh hoa của một chọn lựa dành trọn cho Ngài, của một “hôn ước tình yêu” đích thật và cá vị.
Thiếu nữ trẻ Angela tin vào điều này, cô ước muốn và dâng hiến cuộc sống của chính mình cho điều này.
Và đây, những giai đoạn đào luyện của cô trôi qua thật nhanh chóng. Ngày 15.11.1875 (ngày tiếp sau chuyến khởi hành của những nhà truyền giáo Sa-lê-diêng đầu tiên đến Tân Thế Giới), Angela vào thỉnh viện. Ngày 24.05.1876, chị trở thành tập sinh. Ngày 29.08 cùng năm, chính xác là 12 tháng kể từ khi đặt chân vào Tu hội, Angela tuyên khấn 3 năm. Ngay lập tức sau khi khấn, như ta đọc thấy trong tiểu sử đầu tiên, chị Angela được gửi đến Torino vài tháng, tại một ngôi nhà vừa mới mở (ngày 29.05) trong vai trò người trợ giúp Nguyện xá. Điều này cho phép chị hấp thụ cách trực tiếp và gần hơn với tinh thần mà Don Bosco sống và ghi khắc nơi các con cái ngài.21
Như thế, trong cả ba cộng đoàn FMA đã được thành lập (Mornese, Borgo San Martino và Torino Valdocco), mọi người cùng sống, làm việc và bước đi với nhau mỗi ngày trên nẻo đường đã được ghi dấu bởi Thánh ý Thiên Chúa. Và những giấc mơ táo bạo dần được gieo trồng và vun xới.
Sau đó, như chúng ta đã biết, ngày 14.11.1877, chiếc tàu thủy lớn khởi hành đến những vùng đất thật xa xôi....
Khi trình bày “đơn xin viết tay” như Don Bosco đề ra, chi Angela đã nhút nhát viết những lời sau: “Nếu con có thể phục vụ một điều gì đó...”.
Chị sẵn sàng ngồi ngay cả trong một góc khuất nhỏ bé nào đó, miễn là được đến những vùng đất xa xôi còn đang chờ đợi lời loan báo Tin Mừng, nếu Chúa muốn. Trái lại, ngay từ lúc khởi hành, chính chị được đặt trở thành người dẫn đầu cả nhóm. Dù sao đi nữa, chị biết rõ trong mỗi cộng thể FMA hiện tại và tương lai, “Bề trên đích thực là Đức Maria”.
Tại vùng đất đã thấy trước tựa như giấc mơ tình yêu
Trên chiếc tàu thủy chứa 700 hành khách, chị Angela bị say sóng rồi lại tỉnh táo, điều này cứ xảy ra như thế trong mọi ngày của cuộc hải trình. Vào những lúc thuận tiện, chị bắt đầu phục vụ những người sống cạnh bên. Chị lau dọn, khâu vá, ủi đồ, cố gắng dạy giáo lý cho các trẻ em, và khi nào có thể thì dạy giáo lý cả cho cha mẹ các em nữa. Chiếc tàu ấy đã trở nên “mảnh đất truyền giáo” bởi những hành khách trên đó còn quá yếu về đời sống đức tin.
Chiếc tàu càng ngày càng lùi về phía những vùng đất phương nam, cho đến 35° vĩ tuyến nam. Tại đây, con tàu tiến vào sông Rio de la Plata, đây là một cửa sông lớn có hình một cái phễu, ước lượng rằng phần nhỏ hơn cả của nó là 48m bề ngang, rồi mở ra tới 220 km ở phần rộng hơn cả tại cửa sông.
Tại đây có một bến tàu lớn ở Montevideo, nơi mà những nhà truyền giáo của Mornese đã đến ngày 12.12. Tuy nhiên, trước đó, cuộc hành trình đã phải tạm ngừng vì lý do đáng lo ngại. Những hành khách của Savoie gồm khoảng 40 người bị giữ lại độ một tuần lễ, tại hòn đảo nhỏ không bóng người mang tên Flores nằm ở phía bên ngoài cảng.
Tại sao lại xảy ra sự việc bất lợi này? Bởi trước đó chiếc tàu này đã dừng lại ở Rio de Janeiro là nơi bệnh sốt vàng da đang hoành hành và đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng.
Cuối cùng, mọi người cũng gặp lại nhau trong đất liền. Các chị phải cư ngụ tạm trong một đan viện. Đúng là như thế đó bởi hiện tại họ đã có đất, nhưng nhà cửa thì sao? Các chị không hề có nhà ở, trái lại, các Salêdiêng đã có nhà vì họ đã có một lưu xá ở Villa Colón.”22 Lưu xá ấy mang tên Pio IX.
Các nữ tu FMA đã phải kiên nhẫn chịu đựng hoàn cảnh này; họ được cư trú một thời gian khá lâu tại nhà của các nữ tu dòng Thăm Viếng, trong khi chờ đợi một tổ ấm sẵn sàng dành cho họ.
Một lá thư mà Sr. Giovanna Borgna đại diện cả nhóm viết cho Mẹ Mazzarello vào ngày 18.12, được mở đầu như sau: “Ở đây, sau khi ra khỏi nơi lưu đày [thời gian cách ly trong hòn đảo Flores], chúng con đã vào trong lồng thánh của các đan sĩ Sa-lê-diêng và chúng con sẽ ở lại đó cho đến khi họ làm xong ngôi nhà cho chúng con...” 23
Cuối cùng, ngày 03.02 năm sau, vẫn tại Villa Colón, sáu chị em truyền giáo có thể bước vào trong ngôi nhà nhỏ mơ ước, mang tên Mẹ Phù Hộ. Ngôi nhà này sẽ luôn mãi tự hào vì đã là ngôi nhà đầu tiên của Hội dòng trong toàn vùng châu Mỹ.
Công trình xây dựng thuộc về “một nữ ân nhân tên là Jackson”, điều này sẽ được ghi chép cách cẩn thận trong Hồi sử: “Một ngôi nhà thật nhỏ, thật nghèo nàn, nhưng lại giàu có với một nhà nguyện xinh xắn, trong đó có Chúa Giê-su Thánh thể ngự trị ngay lập tức khi các chị em hiện diện”24.
Don Luigi Lasagna đã ở lại để trợ giúp các chị em, ngài là giám đốc của “Lưu xá Pio”. Ngài đã đưa các nữ tu vào trong nhà. Có Chúa Giê-su trong ngôi nhà này, nhưng với Ngài còn có cả Đức Maria nữa. Đó là tranh vẽ Đức Mẹ có mái tóc đen, dày, bồng bềnh gợn sóng; “Chúa Giê-su” mà Mẹ ôm bên cạnh trái tim là một hài nhi nhỏ bé có đôi tay rộng mở hết cỡ và khuôn mặt tươi tắn mỉm cười với niềm vui phát xuất từ bên trong.
Tất nhiên, chúng ta đang nói đến bức tranh... “bị đánh cắp”: Bức tranh bị Don Cagliero lấy và sau đó, lại được Don Bosco chúc lành.
Sr. Angela viết cho tên trộm Don Cagliero: “Bức tranh này (giá mà cha được nhìn thấy) đang ở đây, trong nhà nguyện của chúng con. Nhà nguyện nhỏ đến nỗi bức tranh che kín hầu hết bức tường”25.
Nhưng trong ngôi nhà đầu tiên ấy, sáu chị em có là những nhà truyền giáo thực sự không?
Thực tế, họ làm việc quần quật trong nhà giặt và nhà ủi của lưu xá Salêdiêng! Đúng thế, họ cũng khởi xướng nguyện xá ngày lễ, dẫu cho Nguyện xá ấy rất nghèo nàn. Hai nữ tu là Giovanna Borgna và Angela Denegri biết nói tiếng Tây Ban Nha, được đề cử làm giáo viên của trường học, tuy nhiên công việc chính của họ lại là công việc chân tay.
“Này con đây, lạy Cha, xin hãy sai con”. Đến đâu? Không quan trọng. Với chức vụ gì? Không quan trọng. Chỉ quan trọng một điều là ở lại trong sự hiệp nhất với Ngài, sẵn sàng trước dấu chỉ tình yêu của Ngài.”26
Các nhà truyền giáo đã sẵn sàng, và rồi, vào 05.1878, họ mở cửa đón thỉnh sinh đầu tiên người Uruguay tên là Laura Rodríguez. Cô sinh tại Montevideo. Năm ấy Laura được 20 tuổi. Và 46 năm sau, khi nằm trên giường hấp hối, chị nói với một nữ tu rằng tất cả mọi công cuộc và mọi kỷ luật của đời sống tu sĩ không có giá trị gì cả nếu không được song hành bởi “điểm vàng sáng chói của tình yêu Thiên Chúa”.27
---o0o---
Và thế là một trang mới đã lật qua. Ngày 02.01.1879, mười sơ truyền giáo của cộng đoàn Mornese đã khởi hành từ cảng Genova. Trưởng đoàn là nữ tu Maddalena Martini28. Chị sẽ là giám tỉnh (hay kinh lý viên) trong những cộng đoàn được thành lập ở Uruguay”29
Chính Maria Domenica đã thông báo điều này với sr Angela: “Bây giờ, chị em sẽ có sr. Maddalena làm giám tỉnh, hãy luôn thông tri cho chị ấy về những gì các con làm và tình hình của các chị em. Các con hãy năng bàn hỏi với chị ấy trực tiếp qua thư từ. Mẹ cũng rất mong chờ tin tức của các con nữa, hãy thường xuyên viết thư cho Mẹ. Hãy luôn cầu nguyện cho Mẹ; hãy thường xuyên đi vào trong Trái Tim Chúa Giê- su, Mẹ cũng sẽ vào đó và như thế chúng ta sẽ có thể thường xuyên ở gần nhau và nói với nhau nhiều điều”30.
Một vài chị em mới đến có thể bắt đầu sống ở ngôi nhà mới tại Las Piedras ngay lập tức, không quá xa Montavideo, hướng về phía bắc. Sr. Angela đảm nhận nhiệm vụ dẫn đường và bắt đầu một nhịp sống chạy qua chạy lại liên tục giữa hai nhà. Sr. Giovanna Borgna tạm thời đảm trách nhiệm vụ phó nhà. Ngày khai mở cộng đoàn là 13.04.1879. Những công cuộc nhanh chóng được mở ra là trường học, khánh lễ viện và giáo lý. Có hai nữ tu khác cùng ở với sr. Giovanna Borgna.31
Sau khoảng bảy tháng, sr. Angela đã cầm bút viết cho Don Bosco như sau:
“Con giống như một chú gà con bị cột trong mớ bòng bong. Cha hãy tưởng tượng rằng con phải quán xuyến cả hai nhà, một nhà ở Villa Colón và một nhà ở Las Piedras, mà con lại không có khả năng để coi sóc dù chỉ một nhà. Bởi thế, con xin cha hãy nhớ cầu nguyện cho con nhé.
Con xin cha hãy gửi đến cho chúng con những chị em mạnh khỏe và thánh thiện khác, trong số đó, có ai đó gánh vác thánh giá của con, để thay vì con phải ra lệnh thì con sẽ chỉ vâng phục thôi [ ... ]. Nhưng cha hãy làm tất cả theo thánh ý Thiên Chúa và ý muốn của các bề trên của con”[32].
Tiến sâu hơn vào những sứ mệnh lớn lao
Thánh ý Thiên Chúa đòi nơi chị một bước nhảy vọt mạnh mẽ hơn. Ngày 03.01.1880, Sr. Angela lên đường, khởi hành đến Buenos Aires.
Chuyến đi không dài lắm, người ta chỉ phải đi ngược dòng sông Rio de la Plata. Không cần quá nhiều ngày, khoảng vài tiếng đồng hồ là đủ, có một chút say sóng hoặc chẳng có gì xảy ra cả. Nhà Almagro đã mở cách đây vài tháng đang chờ đợi chị và hai chị em khác: Đó là Sr. Giovanna Borgna và Sr. Angela Cassulo.33
Thực tế là Buenos Aires chỉ là một trạm dừng. Sau đó, mọi người sẽ đi Patagonia.
Nơi dừng chân thực sự sẽ là Carmen de Patagones: Cách hàng ngàn km về phía nam của Buenos Aires, trên bờ phía Bắc của sông Rio Negro theo hướng đổ ra biển, trực diện với thành phố Viedma ở trên bờ đối diện.
Ngày 20.01.1880, Hồi sử Salêdiêng viết về việc các nữ tu FMA đã đến Patagonia.34
Vào ngày 14.01, chị nữ tu Angela đã khấn trọn đời trong chính ngày chị khởi hành đến Buenos Aires, trong tay Cha Giám tỉnh Francesco Bodrato, người mà chị đã biết từ khi còn ở Mornese.35
Ngày 30.04, một lá thư của chị được gửi từ Carmen de Patagones đến Mornese, theo địa chỉ của cha Lemoyne. Lá thư cũng được viết nhân danh những “người con nghèo hèn của Patagonia” khác, và chị nói: “Thiên Chúa thương chúng con nhiều lắm, khi ban cho chúng con nhiều cơ hội để hy sinh, ngài cũng ban sức mạnh và sự an ủi để chúng con thực hiện được những lao nhọc ấy”. Sau đó, lá thư kể lại những kinh nghiệm mới của họ. Chị em đã có thể chuẩn bị cho hàng loạt những người lớn Rước lễ lần đầu và cho một nhóm thiếu nữ thổ dân Rửa tội. Các em vui vẻ lui tới khánh lễ viện mới khai sinh cách thường xuyên. Rồi các chị em sẽ sớm hướng họ đến các công cuộc khác nữa.
Ngày 06.10, một bản tóm kết sắc bén về hoạt động tông đồ được kể trong lá thư gửi cho Don Bosco. Sr. Angela và các chị em khác đều rất ước muốn cứu trợ những bé gái thổ dân da đỏ trong mọi phương diện. Các em xuất hiện với vẻ tội nghiệp, thiếu thốn mọi sự, nhưng trên hết các em thiếu một nền giáo dục có hệ thống và nâng cao. Cần phải giúp chúng bằng mọi giá. Vì vậy, các chị ước muốn các nhà truyền giáo đến trợ giúp, kể cả những chị em truyền giáo mới đến.
Hầu hết các thiếu nữ công giáo được học giáo lý vỡ lòng. Các em theo học với một ý hướng tốt lành và các phụ nữ thổ dân trung niên luôn quan tâm dõi theo chúng. Sau này tất cả những điều này “làm nên bao điều tốt lành”, và cho cả những người lớn nữa”36
Giữa những người di dân ngoại quốc còn có những người chạy trốn khỏi quê hương bởi họ cần phải xóa đi những dấu tích nguy hiểm của mình. Ta đang bàn đến số người không mấy lương thiện. Do vậy, cần phải có một công cuộc để tiên liệu và bảo vệ những người trẻ cùng các gia đình nhập cư này. Các Sa-lê-diêng và cả những nữ tu truyền giáo FMA rất trẻ đã cống hiến mọi sức lực mà họ có thể. Các chị không chỉ khám phá ra một thế giới ngầm chưa từng biết đến trước đây, mà còn củng cố vững mạnh hơn lý tưởng làm tỏa sáng Tin Mừng.
Những lá thư của sr. Angela, được gởi cách đặc biệt cho Don Bosco, liên tiếp nhau cho đến tháng 07.1887, với những tin tức luôn tràn đầy nhiệt tình tông đồ và sức ấm của tình gia đình.
Những điều kiện vệ sinh của con người sống tại đây thật kinh khủng; họ phải chịu đựng sức tàn phá của các bệnh dịch như thương hàn, đậu mùa, bạch hầu. Đây là một khía cạnh khác đòi hỏi nơi các chị sự can đảm, trí tuệ và khả năng sáng tạo. Thế là tất cả cùng xắn tay áo lên và bắt tay vào công việc.
Rồi còn có các băng đảng được trang bị vũ khí; các thực dân da trắng siết chặt vòng kìm kẹp với dân bản xứ, đến nỗi họ phải thốt lên rằng: Họ sẽ chẳng bao giờ trở thành Ki-tô hữu nếu người Ki-tô hữu lại xấu xa như vậy.
Thế là ngày qua ngày, các nữ tu truyền giáo không chỉ mở rộng tầm nhìn mà còn nối dài bước chân để được tiếp xúc gần gũi nhất với người dân: Các thực dân Châu Âu, các thổ dân dần dần giảm bớt sự hoài nghi, và những cựu nô lệ châu Phi đã được tuyên bố trở nên “tự do”37. Trớ trêu thay, lúc này họ lại rơi vào tình trạng nghèo đói và kiệt quệ mới.
Rốt cuộc, tại Patagones, đã mọc lên hai công trình còn tạm thời, đó là lưu xá “San José de los Indios” do các Salêdiêng trông coi và lưu xá “Santa María de las Indias” do các FMA quản lý.
De los Indios/De las Indias. Chẳng lẽ hai biệt hiệu này không là tiếng reo mừng của một thắng lợi vừa chớm nở của các nhà truyền giáo hay sao?
Sau đó ít lâu, năm 1884, tại Viedma (thành phố cũng có tên gọi “Mercedes de Patagones), phía bờ bên kia của con sông, có lưu xá nam “San Francesco di Sales” và lưu xá nữ “Maria Ausiliatrice” được trang bị đầy đủ hơn, chúng được khởi sự khi công cuộc của hai lưu xá trước đó vừa kết thúc. Trong cuốn Hồi sử (cũng có thể ở một chỗ khác), Sr. Angela viết: “Thật là một ngày đáng nhớ! Chúng tôi đã hưởng niềm vui mừng được tham dự vào việc làm phép cho lưu xá mới, nơi mà biết bao công việc và ngay cả những phần thưởng từ trời đang chờ đón chúng tôi”38.
Lá thư chị viết cho Don Cagliero trong dịp mở cơ sở tiếp theo ngày 14.05.1884.39 Cộng đoàn sẽ được mở vào ngày 01.06.
Ban đầu, tất cả diễn tiến tốt đẹp, nhưng sau đó, do sự đảo lộn về chính trị và tình trạng bài trừ tôn giáo, những khó khăn lớn nảy sinh như Sr. Angela đã hết sức lưu ý trong lá thư ngày 12.01.1885 gửi cho Don Bosco: “Con kể cho cha rằng đã xảy ra một cuộc chiến chống tôn giáo, và các thiếu nữ trở nên nguội lạnh hơn nhiều trong việc phục vụ Thiên Chúa. Chúng con cần đến những lời cầu nguyện tha thiết của cha” 40
Những lời cầu xin này mang lại hiệu quả tốt đẹp bởi vì chỉ sau đó ít lâu, các sư đã trở thành các bà mẹ của 200 bé gái mồ côi người thổ dân. Trong khi đó, các điểm hiện diện tại trường học và khánh lễ viện của các thiếu nữ di dân phát triển lớn mạnh và tất cả đều mang lại niềm an ủi lớn lao.
Một biến cố khác: Don Giovanni Cagliero từ Ý trở lại đây không còn như trước nữa, nhưng trong tư cách một Giám Quản Tông Tòa của Đức Thánh Cha tại Patagonia ở phía bắc và vùng trung tâm. Ngài đã nhận chức Giám mục ở Torino tại Đền thờ Đức Maria Phù Hộ ngày 07.12.1884, và bây giờ, ngài đã sẵn sàng bắt đầu cho một sứ vụ tông đồ mới mẻ và rộng lớn hơn.
Bên cạnh ngài còm có một nhà truyền giáo vĩ đại khác, đó là: Đức cha Giuse Fagnano,41 với cùng một sắc lệnh từ Tòa Thánh (16.11.1883), ngài được bổ nhiệm làm Phủ Doãn Tông Tòa của phía nam Patagonia, quần đảo Malvine và tất cả các vùng đảo trải dài cho đến eo biển Magellano.
Như vậy, các nữ tu truyền giáo cũng thoáng thấy rằng chuyến đi tiếp theo của họ sẽ tiến sâu xuống phía nam, hướng về phía vùng Đất Lửa đầy mong ước. Trong lá thư sr. Angela viết cho Don Bosco vào một ngày mà ngài gần như không thể đứng thẳng để đọc thư. Đó là ngày 31.01.1887. Chỉ còn thiếu ba trăm sáu mươi lăm ngày nữa, Đấng Sáng Lập thánh thiện sẽ về trời cao.
Chị viết:
“...Ngày 25, Đức cha Fagnano đến từ Vùng Đất Lửa cùng với bốn thiếu nữ bản địa. Giá mà cha nhìn thấy các Chúng nằm dài ra đất; chúng muốn ngủ ở ngoài sân... Trong những ngày đầu tiên, chúng con không thể làm cho chúng hiểu bất cứ điều gì, chúng con cũng chẳng hiểu chúng muốn gì nữa. Hiện giờ các em đã hiểu đôi chút... Con nghĩ rằng các em sẽ sớm học được tất cả mọi thứ cần thiết; và chúng con sẽ chờ xem liệu năm 1891 chúng con có thể chuẩn bị vài em để đưa về Ý để gặp Don Bosco, người cha rất đáng mến của chúng con, vị ân nhân vĩ đại của Patagonia [...]. Về điều này, thưa cha đáng kính, chắc cha chưa biết rằng Đức cha Fagnano đã nói với chúng con rằng khi nào ngài trở về Vùng Đất Lửa, ngài sẽ đem theo cả các nữ tu không? Chúng con nài xin cha hãy đồng ý gửi chúng con đi, bởi vì chúng thực sự rất ước muốn đi đến đó, dẫu phải trả giá bằng bất cử hy sinh nào”[42].
Các thiếu nữ Vùng Đất Lửa thuộc dân tộc Onas. Có lẽ các em đã được sống sót khi ngôi làng bị tiêu hủy, mồ côi và đơn độc. Các em hoàn toàn bị rối loạn trong một thế giới mà các em thực sự không tài nào hiểu được. Chúng sợ hãi tất cả, nhất là những không gian đóng kín. Với chúng, thế giới luôn luôn chỉ là một thảo nguyên được bao phủ bởi những cây cổ thụ đặc biệt, do sức kháng cự của chúng trước cái lạnh lẽo và cơn gió tàn nhẫn. Tuy nhiên, có vài người đã từng yêu thương, bao bọc các em; và những người này cũng đã bị giết hết.
Sắp sửa xảy ra một điều gì đó hoàn toàn bất ngờ. Một em lớn tuổi nhất trong số này, hơn kém 12 tuổi đã được Don Fagnano đặt tên là Luisa khi cứu sống em. Chỉ ít lâu sau em sẽ vượt đại đương đến Roma và Torino, gặp Don Bosco và được Đức Thánh Cha Leo XIII chúc lành. Vâng, thời điểm của một cuộc trở lại mang tính lịch sử đã gióng lên: Đối với Đức Cha Cagliero và đối với sr. Angela Vallese.
Luisa cũng có một tên họ. Đức Cha Fagnano đã đặt cho em tên họ Cabo Peña, ngài đã gọi tên em chính xác là: Luisa Peña.
Và đây là chuyến vượt đại dương. Hành trình hướng về nước Ý kéo dài từ cuối tháng 09 đến ngày 06.12.1887. Thật là hạnh phúc khi trở về để tìm gặp biết bao nhiêu người thân thương và diện kiến Đức Thánh Cha, nhưng cũng có một sự chờ đợi đầy bối rối đang dằn vặt mọi trái tim: Ai cũng biết rằng Don Bosco đang đau nặng; liệu ngài có thể chờ đợi được chăng?
Vâng, Don Bosco đã chờ. Sau khi diễn ra cuộc gặp gỡ giữa các nhà truyền giáo Mỹ châu và ngài vẫn còn sống thêm khoảng hai tháng nữa. Tuy nhiên lúc này ngài đã rất yếu mệt và đau đớn.
Với một sự xúc động sâu xa, ngài lắng nghe một câu với khoảng ba mươi từ mà Luisa nói với ngài bằng tiếng Ý để cám ơn ngài vì đã gửi các linh mục và nữ tu truyền giáo đến đó, trong những vùng đất phương Nam, với các núi băng khổng lồ nằm hầu hết ở vùng biên giới.
Sau đó, họ đến Roma. Trong một lá thư gửi cho cha mẹ vào ngày 08.04.1888, sr. Angela nói rằng chị đã có một “sự may mắn tuyệt vời” là nhìn thấy Đức Thánh Cha ba lần. Chị đã giới thiệu Luisa cho ngài và Luisa đã được ngài đón tiếp với một tình phụ tử bao la, cả khi em không kìm chế được một chút run rẩy khi nhìn thấy mọi sự. Em được đưa vào một thế giới quá khác biệt so với khoảng không gian trải dài một màu xanh rờn hoặc phủ đầy tuyết trắng của quê hương em. Còn ở đó, trong những cung điện Vatican, em đang đứng trước một người đàn ông 80 tuổi, da trắng và cả trang phục cũng trắng y như vậy.
Sau đó, khoảng một tháng, họ đến Nizza, nơi mà Ban Cố Vấn Trung Ương của FMA đã đặt trụ sở mới.
Tại đó, sr. Angela nhận bài sai mới. Chị phải đi xa hơn nữa về phía nam: Từ vĩ tuyến 40° đến vĩ tuyến 50%, và từ 130 vòng cực nam, chị phải đến Punta Arenas trong những vùng đất thuộc Magellano với vai trò của một nhà truyền giáo và nhà thám hiểm.
Chính chị gửi những tin tức của chuyến hành trình trong một lá thư khác về cho cha mẹ. Chuyến khởi hành vào ngày 30.10.1888 tại Torino. Ngày 03.11, tại Bordeaux, chị lên chiếc tàu thủy lớn tên là “John Elder”, vốn mang chút hơi hướm của tàu Anh, trông như một tòa nhà vĩ đại. Trong khoảng 3 đến 4 ngày đầu tiên, chị bị say sóng, nhưng sau đó mọi sự tốt đẹp hơn. “Con đã được may mắn rước lễ mọi ngày trong suốt chuyến hành trình, ngoại trừ hai ngày đầu tiên”.
Tàu dừng lại ba lần ở Bồ Đào Nha và ba lần ở Nam Mỹ. Tại bến cảng lớn ở Rio de Janeiro, một anh em Salêdiêng vùng Lu đã đến thăm cả đoàn ở trên tàu. Ngược lại, mọi người chẳng gặp được Sr. Luigia, bởi vì tàu không dừng lại ở Buenos Aires.
Sau đó, tàu đến Montevideo. “Ở đây, con được may mán nhìn lại ngôi nhà đầu tiên của chúng con. Chúng con đã gặp tất cả các chị em và được hưởng một niềm an ủi lớn lao khổ dùng bữa trưa chung với nhau. Vào buổi chiều hôm đó, chúng con đã khởi hành từ Montevideo và không còn dừng lại ở bê cứ nơi đâu cho đến khi đến nơi”.
Năm ngày tiếp theo, tất cả lênh đênh trên biển và rồi tàu cập bến ở Puntarenas. Mọi người đến nơi vào ngày 03.12, lúc 16g00.
“Chúng con bước xuống đất liền và ngay lập tức chúng con vào nhà nguyện nhỏ của cộng đoàn. Mọi sự được sắp xếp khá tươm tất bởi đã có hai Salêdiêng đang chờ chúng con... Ngôi nhà nhỏ của chúng con thật là xinh xắn. Nhà làm bằng gỗ, tuy thế, bức tường của mọi căn phòng được dán bằng giấy hoa... Chúng con sẽ chờ xem còn điều gì khác nữa khi dấn thân vào sứ mệnh...”.[43]
Cùng đi với sr. Vallese, còn có bốn chị em khác: Luisa Ruffino, Arcangela Marmo, Luisa Nicola và Rosa Massabrio. Cuộc thám hiểm (gồm 10 Sa-lê-diêng và 5 FMA) do Đức Cha Fagnano dẫn đầu, ngài là tổng lãnh thiên thần, người mà Sr. Angela và các nữ tu có một niềm tin tưởng và tình con thảo thật lớn lao.
Tháng 06.1888, Đức Cha trở về Ý lần đầu tiên, sau 13 năm vô cùng vất vả với sứ mệnh truyền giáo tại Patagonia. Cuối chuyến hành trình, ngài viết lại trong hồi ký, thật là một tấn bi kịch: Bầu trời ngày một tối đen. Gió giật làm lắc lư con tàu, cơn sốt đột ngột tái phát và bên cạnh đó những cơn sóng nước dâng cao như ngọn núi”44.
Ngôi nhà bằng gỗ được dành tặng cho các nữ tu truyền giáo. Ngày nọ, sau một buổi hoàng hôn dài dằng dặc của mùa hè tại phương nam, họ nghĩ rằng mình có thể nghỉ ngơi một chút, dẫu cho bốn trong số năm chị em phải ngủ trên nền nhà; thực ra, chỉ có một chiếc ghế bố nhỏ và chẳng ai biết s Angela sẽ tặng nó cho người nào, chắc chắn là cho người chị 1 yếu ớt nhất nhóm.
Mọi người ngủ thiếp đi, nhưng rồi, ban đêm, một tiếng chuông bất thình lình và khó chịu đã đánh thức tất cả. Ở đó, cách xa một chút, xảy ra một trận hỏa hoạn. Một nhà kho chứa gỗ và căn hộ gần đó bị tiêu hủy thành tro bụi. May mắn làm sao, cơn gió đã dịu đi. Và còn may mắn hơn nữa, không có ai bị thiệt mạng.
Từ sóng nước quỷ quái cho đến ngọn lửa đầy hung tợn, láo xược và đe dọa hủy diệt. Ai cũng cảm thấy cần phải yêu thương nhau hơn trong sự can trường, với một niềm tin tưởng son sắt, không lay chuyển vào Thiên Chúa.
Sr. Angela và các chị em đã làm như thế đấy. Ngay lập tức, họ đặt tên cho ngôi nhà là nhà Mẹ Phù Hộ, và những đôi bắt đầu vào việ ngay. Tuy nhiên, không chỉ có đôi tay mà hơn hết là chính con tim. Bất cứ công việc gì cũng mang ẩn duy nhất của tình yêu.
Đã có việc giặt, ủi, nấu ăn cho các anh em Sa-lê-diêng đến trước họ và cho cả các thiếu niên vùng bản địa. Đồng thời, mọi người cũng nhìn ra xung quanh để tiếp xúc, rộng mở cho những tương quan mới đầy nhân bản và thân thiện, để có thể làm lan tỏa thứ ánh sáng nhẹ nhàng và đầy uy lực của Tin Mừng.
Và rồi, đã xảy ra một kinh nghiệm truyền giáo đầy khó khăn nơi biên cương của lịch sử. Đức Cha Fagnano đã được chính phủ Cile “cho vay không lấy lãi” những vùng lãnh thổ của đảo Dawson, thuộc về vịnh Magellano, 100 km về phía nam của Puntarenas trong vòng 20 năm45.
Tại thời điểm đó, một sứ mệnh có thể được quan phòng từ trước, hoặc ít nhất là được coi như thế, là dấn thân chăm sóc những người dân bản địa trong những cuộc xung đột từ nội bộ hoặc do những áp lực đáng nghi ngờ của chính quyền Cile. Đức Cha Fagnano đã tốn nhiều sức lực và tiền bạc để khai phá một vùng duyên hải rộng lớn. Ngài cho xây dựng khoảng một trăm căn hộ, chuyển đến nhiều gia súc, áo quần và nhiều thứ khác nữa. Sau đó, vào tháng 02.1889, ngài gửi đến hai vị truyền giáo Salêdiêng để định cư tại đây.
Trái lại, các nữ tu đến đó vào ngày 20.06.1890. Có tất cả hai chị em: Sr. Bề trên Luigia Ruffino và người duy nhất "đến trực tiếp”, tập sinh người Uruguay, Sr. Filomena Michetti mới chỉ 16 tuổi!46 Sứ mệnh truyền giáo này được ; tên Tổng Lãnh Thiên Thần Raffael.
Lúc bấy giờ, không ai có thể lường trước được rằng chỉ trong vòng vài năm sau đó, những người dân da đỏ ở đây sẽ chết hàng loạt do bệnh thương hàn, sốt ban đỏ, họ lao, tất cả những thứ bệnh khiến cho cơ thể của họ không có khả năng đề kháng. Như vậy, năm 1911, khi hợp đồng thỏa thuận với chính phủ đã hết hiệu lực, sứ mệnh này cũng bị hủy bỏ và một số ít người da đỏ còn sống sót chuyển đi định cư ở nơi khác.
Sr. Angela không đến sống tại Dawson, nhưng hơn một lần, chị đến đây trong các dịp thăm viếng trong trách nhiệm bề trên. Sr. đã quan sát, chia sẻ và cùng với các chị em khác chị miệt mài tìm kiếm điều tốt nhất để thực hiện. Mỗi lần đến cùng với hành lý của mình, chị luôn đổi khác do cơn say sóng kinh khủng. Quả thật, chị trông xác xơ tựa như một tấm giẻ vậy.
Người ta kể lại rằng, một lần nọ, tại eo biển Magellano, một cơn giông bão rất kinh khủng nổi lên. Các hành khách kêu gào, họ không biết làm cách nào để không bị những cơn sóng cuốn phăng đi. Sr. Angela im lặng, cầu nguyện và tìm cách đứng tựa lưng vào vách ngăn. Chị đứng như thế hàng giờ đồng hồ, ngay cả khi vị thuyền trưởng khôn ngoan đã cố gắng giấu con tàu vào một vịnh nhỏ suốt cả đêm, tại đó sức cuốn mãnh liệt của nước và gió giảm đi đôi chút.
Cuối cùng, chị cũng tới nơi. Chị thích nghi với tất cả, mỉm cười trước sự tiếp đón nồng hậu của các chị em và mọi người xung quanh, trong số đó có những phụ nữ da đỏ không ý tứ đã luôn đòi hỏi sự quan tâm chú ý. Buổi tối, chị muốn ngủ dưới đất để không phải chiếm lấy giường ngủ của bất cứ ai.
Lần đầu tiên, chị Angela phải chịu đựng chuyến hành trình từ Patagones đến Dawson vào tháng 01.1890, trong một lần đi do thám trước khi gửi các nữ tu đến đó. Cần phải chuẩn bị tất cả mọi sự. Trong lá thư viết gởi cho em gái Teresa, chị viết: “Mọi người đã cưỡi ngựa lên núi họ nhận thấy đất đai thực sự hoang vu, không một ngôi nhà, không có vườn tược, và rồi, những người thổ dân, với làn da đỏ au [thậm chí chỉ được che kín một nửa: Các “hang” của họ nằm ở trên bãi biển...47
Sau đó, chị cũng đến đó trong một vài lần khác để đồng hành với các chị em, để ở lại với họ, để lắng nghe, quan sát, giúp đỡ, tìm kiếm giải pháp cho những vấn đề nảy sinh.
Người ta nhớ lại một vài sự kiện. Sr. Angela và các chị em ngồi trên lưng ngựa, chạy lòng vòng trên triền núi, trong rừng rậm... như trong một chuyến dạo chơi thám hiểm với mục đích tông đồ. Họ không kiếm tìm các kho tàng từ quặng mỏ, nhưng họ tìm những khu định cư nhỏ bé của người da đỏ mà chưa ai tiếp cận được.
Các chị em đã tìm thấy họ ở phía dưới, hướng về phía biển. Thấy các chị, những người này bỏ chạy và bỗng chốc, họ biến mất không để lại dấu vết. Họ sợ là do bởi chưa bao giờ nhìn thấy những người phụ nữ như thế.
Những người này có phải là các phụ nữ không? Sao mà trông họ giống các con chim cánh cụt thế! Tất cả mặc y phục màu đen được tô điểm bởi màu trắng. Họ còn được bao bọc giữa lớp khăn choàng cổ và áo khoác để tự bảo vệ khỏi cái rét cắt da cắt thịt. Ngược lại, những người da đỏ hầu như chẳng cảm thấy gì. Nữ tu Angela nói về những người da đỏ như sau: “Họ ăn mặc giống các thánh Gioan Tẩy Giả vậy!”. Chỉ có lớp da lạc đà vát qua thân, hầu như toàn bộ cơ thể đều để trần.
Và rồi mọi người cũng trao đổi với nhau được một chút bằng các cử chỉ, và những người da đỏ yên tâm rằng những khuôn mặt tươi cười kia, những đôi mắt ngời sáng lòng tốt kia biết đọc hiểu con người của họ. Tuy nhiên, họ luôn trong tư thế chuẩn bị sẵn sàng chạy trốn.
Một lần nọ, một thổ dân nào đó đã biết Đức Cha Fagnano và có thể với mục đích làm cho Đức Cha hiểu, người ấy đã nói thế này: “Đó có phải là một giống loại chim cánh cụt mới không?”. “Không phải đâu, đó là những bà mẹ tốt bụng đấy”.
Từ lúc đó, các phụ nữ trở nên tin tưởng hơn. Họ cầm tay và dẫn các nữ tu vào lều của họ: “Một chiếc lều quây tròn, bên trong chỉ thấy sự nghèo nàn và một đàn chó”. Những con chó thật quý giá đối với một dân tộc chuyên nghề săn bắt.
Thứ ngôn ngữ được bộc lộ qua quà tặng mà Sr. Angela; theo cũng thật dễ hiểu: Chăn ấm, quần áo bằng vải. Ban đầu, những người phụ nữ bản địa cảm thấy ít nhiều lạ lẫm, nhưng sau đó họ hài lòng bởi sự mềm mại của các trang phục vốn khác hẳn với những tấm da lạc đà. Cả một vài loại thức ăn, hoặc những thứ đồ vật trông có vẻ buồn cười với họ.
Sr. Angela đón nhận tất cả những đồ vật này tại Patagones, nơi mà những người thực dân tỏ ra rộng rãi, hào phóng. Nhiều người trong số những người phụ nữ đó đã tham gia vào các hội kính Đức Maria hoặc Hội Trái Tim Chúa Giê-su.
Sr. Angela đã học thuộc tên của những người bạn da đỏ. Khi nghe chị gọi tên một cách thân thiện như thê, họ bắt đầu cảm thấy tin tưởng và cho phép các chị tiếp cận sát gần hơn. Còn các nữ tu thì sao? Khi chị bề trên của họ ở đó, dường như mọi vất vả lao nhọc tan biến mất. Trong những dịp ấy, chính sr. Angela đảm nhận thật nhiều bổn phận, chẳng hạn như làm cho những người phụ nữ bản địa ý thức rằng cần phải tắm rửa. Dần dần, họ đã biết tắm rửa sạch sẽ. Ban đầu họ bộc lộ một chút sợ sệt và sau đó họ trở nên ngạc nhiên về ma thuật của cục xà bông. (Người ta kể rằng một vài người đàn ông trong số họ có lẽ đã ăn cả xà bông nữa! Họ ăn với sự thích thú và khoái chí!).
Sau đó, Sr. Angela chuyển sang việc bắt chấy rận. Đó là một loại côn trùng cắn rất đau và ngứa mà người ta dễ dàng tìm thấy trong những mái tóc không bao giờ gọi và cũng không bao giờ được những chiếc răng lược chải qua. Có lẽ chị cũng đã có biện pháp dự phòng để những ký sinh trùng khủng khiếp này không đổi chỗ ở, không chuyển sang định cư trên đầu của chính các nữ tu truyền giáo!
Cuối cùng, Sr. Angela trở lại Puntarenas, nơi mà chị âm thầm chuẩn bị cho những cuộc xuất chinh truyền giáo mới, bằng cách hết sức chú ý tới những dấu hiệu của Đấng Quan Phòng chỉ đường. Người ta nói rằng: khi không khí trở nên trong lành tinh khiết như pha lê, từ nơi cánh cửa sổ, sr. Angela phóng tầm nhìn về phía bóng hình xa xôi của hòn đảo Dawson, ước mơ rằng một ngày nào đó các nữ tu sẽ đến cư ngụ. Tuy nhiên, chỉ là một khoảnh khắc thoáng qua, bởi những nhu cầu thiết yếu của mảnh đất, nơi mà chị đang đứng đã nài ép và thúc bách chị ngày một mạnh mẽ hơn bất cứ một giấc mơ tưởng tượng xa xôi nào đó. Tuy vậy, lời cầu nguyện luôn mang trên mình đôi cánh để tung bay.
Sau ba năm đến Dawson, năm 1893, theo ngôn ngữ của của thời ấy, người ta đã gọi sr Angela là “mẹ Angela”. Đúng vậy, bởi chị được bổ nhiệm làm “Kinh lý viên” của vùng đất đang phát triển, tức là Á tỉnh Chi-lê.
Chị phải đến Santiago, nơi mà Đức Cha Fagnano đang đợi. Ngài đang có dự định củng cố sứ mệnh Sa-lê-diêng bằng cách đưa đến đây nhiều nữ tu quý giá.
Thế là một ngôi nhà mới mang danh hiệu Mẹ Phù Hộ mọc lên, trong “Giáo xứ Thánh Michele”. Sau đó ít lâu, ở phía Bắc, một cộng đoàn mới được thành lập mang tên “Thánh Teresa Nhỏ” trong thành phố Talca. Ngay ở trong thành phố Santiago, một trụ sở mới48 lại được mở ra, ở đó có một tập sinh FMA mang đầy những hy vọng mới cho tương lai.
Năm 1894, mẹ Angela trở về Puntarenas. Vùng lãnh thổ của “Á tỉnh Chi-lê” đã được mở rộng. Vì thế các chị cần phải suy nghĩ đến thời gian và cả về những phương tiện giao thông liên lạc nữa. Thế là mẹ Angela quyết định tách Á tỉnh làm hai:
“Á tỉnh Magellano” và Á tỉnh Thánh Michelle.
Nhiều cơ sở được thành lập sau đó: Một cơ sở truyền giáo ở vùng tên là Candelaria tại Capo Peña (1895)49, một cơ sở khác ở Dawson-Punta San Valentino (1898), cách cử điểm truyền giáo San Raffaele năm tiếng đồng hồ đi ngựa và được đặt tên là Chúa Ki-tô Mục Tử Nhân Lành. Giáo điểm này được dành để cưu mang không ít thiếu nữ bị bỏ rơi trong những hoàn cảnh nguy hiểm, họ là những người con gái của rất nhiều thực dân đang ngập tràn tại Puntarenas.
Những cơ sở mới tiếp tục được thành lập sau đó tại Rio Gallegos (1901) và tại Santa Cruz (1904) trên bờ biển thuộc Agentina. Năm 1904, cô nhi viện “Gia đình Thánh Gia” mọc lên ở Puntarenas.
Danh sách này vẫn chưa kết thúc. Năm 1907, mẹ Angela khởi sự một sứ mệnh mới ở nơi rất xa xôi: Sứ mệnh tại Port Stanley trong quần đảo Malvine và năm sau, một cơ sở mới ở Porvenir, gần như đối diện với Puntarenas, phía bên kia vịnh Magellano. Chỉ còn sáu năm nữa, mẹ Angela sẽ khởi hành về Nhà Cha, nơi mà tất cả là Ân sủng và Bình an.
---o0o---
Bây giờ, chúng ta sẽ cùng mô tả vài nét nhẹ nhàng để làm cho bức tranh vừa phác họa được sống động hơn.
Ngày 01.09.1895, từ Puntarenas, một lá thư được gửi đến Don Rua.
Sr. Angela đã đến kinh lý Candelaria trong vòng một tuần lễ. Các nữ tu được gửi tới (Luigi Ruffino, Rosa Massobrio, Rosa Gutierres) đến cư ngụ tại đó từ ngày 03.04 rồi. Đức Cha Fagnano đã cùng đồng hành với các chị em trong hành trình này.
Chuyến đi từ Puntarenas đến Vùng Đất Lửa thật là kinh khủng, do những cơn sóng gầm thét đe dọa như muốn nuốt chửng con tàu.
Sr. Angela mang theo lực lượng tiếp viện (Sr. Catarina Dabbene và sr. Massimina Bellester). Tuy nhiên, còn rất nhiều sự nghi ngờ và bối rối từ phía những người dân da đỏ: Họ sợ rằng những phụ nữ da trắng này sẽ ăn cắp con cái của họ, thế là tất cả họ đều lo chạy trốn. Không phải là họ không có lý đâu. Những người da đỏ này đã đau khổ quá nhiều vì những cuộc vây ráp và giết chóc hàng loạt do những “người da trắng khác”. Làm sao họ có thể tin tưởng ngay lập tức? Thế là mẹ Angela cố gắng làm cho họ cảm nhận được sự chia sẻ, tình bạn, ý muốn làm điều tốt cách vô điều kiện của mẹ.
Sau đó, tại Candelaria, bất thình lình người ta nghe thấy tiếng gầm rú của một con quái vật ăn thịt người. Sự việc xảy ra vào buổi chiều ngày 12.12.1896; tất cả công cuộc truyền giáo với tòa nhà bằng gỗ đã bị tiêu hủy trong vòng chưa đầy một tiếng đồng hồ bởi một cuộc hỏa hoạn bất thường. Tạ ơn Chúa vì không có những thiệt hại về nhân mạng.50
Dù sao đi chăng nữa, các nhà truyền giáo nam nữ vẫn không rút lui trước những thảm họa to lớn. Không những thế, họ còn dần dần gầy dựng lại công cuộc, trong một tình trạng tốt đẹp hơn với những tiêu chuẩn phù hợp hơn.
Sau cuộc hỏa hoạn, khi có ai đó hỏi rằng các chị em có muốn trở về Puntarenas không, các nữ tu truyền giáo trả lời rằng “không”. Họ sẽ không bao giờ rời bỏ nơi mà Chúa Giê-su đã trao phó cho họ. Các nữ tu sẵn sàng ngủ trên nền đất trống, trong hai căn phòng nhỏ đã bị tiêu hủy một nửa và không còn mái che. Họ đã làm như thế, với những nỗ lực cải thiện vô cùng ít ỏi mà người ta có thể cung cấp, ngay cả khi nhiệt độ giảm nhiều dưới mức 0°C. Thường thường vào buổi sáng khi thức dậy, các tấm chăn đắp của các chị đã bị đóng băng.
Và sr. Angela đang ở Puntarenas, trong khi nỗ lực huy động để gửi đến những sự tiếp ứng cấp bách hơn cả, chị đã viết cho các chị em như sau: “Chị em hãy can đảm và luôn tin tưởng! Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi chúng ta... Mẹ Maria Phù Hộ là Mẹ của chúng ta, chúng ta hãy tăng gấp đôi niềm tín thác nơi Mẹ. Biết đâu Mẹ sẽ mang đến cho chúng ta thật nhiều phép lạ trong hoàn cảnh này nếu chúng ta biết chịu đựng, kiên nhẫn và quảng đại”.51
Thực tế, hầu như ngay lập tức, hoạt động loan báo Tin Mừng và thăng tiến nhân quyền phát triển nhanh chóng hơn và được cộng tác cách mạnh mẽ hơn.
Tuy nhiên, tại nơi ấy người ta rất dễ chết. Có nhiều trẻ mồ côi và cần phải suy nghĩ đến chúng. Do vậy mẹ Angela muốn có nhà “Mục Tử Nhân Lành” được mở ở Dawson, cách điểm truyền giáo San Raffaele năm tiếng đồng hồ đi ngựa.
Năm 1897 từ Puntarenas, khi mẹ đến đó thì cuộc sống của mẹ như mành cân treo sợi tóc bởi một trận bão lần thứ “n” ở bờ biển kéo dài trọn cả một đêm. Nhưng trận bão đó hầu như không là gì so với vụ đắm tàu mà mẹ trải qua không lâu sau đó, trong một chuyến đi đến Candelaria. Mẹ bị treo lơ lửng giữa khoảng không khí được mở ra trong những vực thẳm đen ngòm trên mặt biển. Và mẹ được những thủy thủ cứu sống theo cách mà người ta chỉ có thể khẳng định là phép lạ.
---o0o---
Chuyến hành trình đó đến Candelaria do một nhu cầu cấp thiết: Mẹ Angela phải trở về Ý để tham dự Tổng Tu Nghị thứ IV, và mẹ không thể trở về bao lâu chưa gặp những người con đầy can trường của mình. Mẹ khởi hành ngày 12.04 và chúng ta không biết nó sẽ như thế nào. Có lẽ mọi sự đều tốt đẹp, chúng ta hy vọng thế...
Tổng Tu Nghị diễn ra ở Nizza vào tháng 9 và mẹ Angela là một trong những nhân chứng quý giá hơn cả. Rồi khi năm mới bắt đầu, mẹ trở về Puntarenas. Một điểm truyền giáo mới được thành lập (1901) ở Rio Gallegos, một điểm thuộc bờ biển Argentina nằm ở vĩ tuyến 510 nam, cách Buenos Aires hơn 2000 km. Thật là tự hào để nói đến một vài điểm đặc trưng ở đây: Nhiệt độ vào mùa đông giảm rất nhiều dưới mức 0°C, gió thổi điên cuồng, gầm gào, rít lên liên hồi.
Tuy thế, có vài trăm thực dân cư ngụ ở đó, chủ yếu là người Anh, bởi vì tại sông Gallegos, người ta có thể “đánh bắt” vàng”.52 Sau đó ít lâu (1904), điểm truyền giáo tại Puerto Santa Xrux khởi sự, với cô nhi viện Santa Famiglie: Một địa điểm tương tự tại Puntarenas được đặt cùng tên gọi trong cùng một năm.
Sau đó, mẹ Angela tiếp tục một hành trình mới trở về Ý để tham dự Tổng Tu Nghị V (1905). Mẹ phải chịu đựng một căn bệnh về hô hấp, và nó không những không thuyên giảm mà ngày càng trở nên nặng hơn.
Và rồi mẹ trở lại Puntarenas với một khối đá nặng trĩu trong lòng: Bắt đầu việc tách rời Tu Hội Sa-lê-diêng và Tu Hội FMA về khía cạnh pháp lý và quản trị. Giáo hội đã qui định điều đó, cũng thật là đúng đắn nếu sự việc diễn tiến như vậy. Tuy nhiên, con tim đau khổ như bị xé nát từng mảnh.
Mẹ Angela thường xuyên lặp lại: “Đã nhiều năm tôi trong trách nhiệm bề trên, nhưng tôi chưa bao giờ làm theo ý riêng của tôi”. Bây giờ, mẹ đã hơn 50 tuổi và sức khỏe thể lý hầu như kiệt quệ; nhưng mẹ làm tất cả để không phải lắng nghe những yêu sách của cơ thể mình.
Mẹ lại có một chuyến hành trình khác đến Ý trong năm 1907 vì Tổng Tu Nghị ngoại thường: Nhu cầu cần phải sắp xếp các vùng lãnh thổ được sinh ra nhanh như lốc xoáy tại những nơi khác nhau trên thế giới. Các tu nghị viên phải định ra qui chế cho các Tỉnh dòng. Và mẹ Angela trở lại với trách nhiệm “Giám tỉnh”: Hơn lúc nào hết, mẹ được mời gọi để dấn thân phục vụ. Phục vụ với tất cả sức mạnh mà mẹ còn có thể chặt bóp được trong chính bản thân mình. Phục vụ các chị em để họ có thể sống ơn gọi trở nên các thiên thần của sự Tin mừng hóa với niềm vui, giữa muôn vàn lao nhọc lớn las Phục vụ mọi người, bất kể màu da và những nét văn hóa đặc trưng riêng biệt.
Trong lúc ấy, những cứ điểm truyền giáo khác còn trong vòng bí mật: Một cứ điểm trên quần đảo Malvine, cách bờ biển Patagones khoảng 300 hải lý (1907), một cứ điểm ở Porvenir trong Vùng Đất Lửa trên bờ biển đối diện, tương đối gần eo biển, cứ điểm nay đang trực thuộc Puntarenas. Trong vùng đó, có khoảng vài trăm thực dân sinh sống, hầu hết là người tin lành. Những người này, sau giấc mơ về những bộ sưu tập lấp lánh những hạt vàng tinh ròng, họ đã phải trở lại nông trại với việc chăn nuôi gia súc. Với lớp người đầy chán nản và thất đảm này, các Salêdiêng và FMA phải vô cùng nỗ mang; đến cho họ nhựa sống mới.
Mẹ Angela, dầu đau thắt người vì những cơn ho khủng khiếp, vẫn tiếp tục đến thăm viếng những địa điểm truyền giáo mới mà bây giờ tất cả đang được cải thiện dưới mọi khía cạnh. Mỗi lần đi đến những nơi đó, mẹ phải đối đầu với những dòng nước đầy nguy hiểm trong vùng này. Trong đó có cuộc chạm trán với các dòng hải lưu chảy ngược ra biển theo những vũ điệu đe dọa gây chết người với những cơn mưa như trút. Hơn một lần, chiếc khăn tay của mẹ đã phải hứng những giọt máu trào ra từ miệng.
Đức Cha Fagnano với lệnh truyền kiên quyết bắt buộc mẹ phải giảm bớt đôi chút nhịp độ làm việc mới có thể làm cho mẹ vâng phục.
Tiếng gọi cuối cùng của tình yêu
Năm 1911, Sr. Angela đồng hành với Mẹ Phó Tổng Quyền, mẹ Enrichetta Sorbone đi khắp Tỉnh dòng, dù cố che dấu mọi tình trạng sức khỏe của mình, nhưng mẹ cảm thấy cách sâu xa rằng những chuyến viếng thăm này tại các cộng đoàn khác nhau có thể là một lời chào vĩnh biệt.
Tuy thế, có nhiều các công cuộc hứa hẹn một tương lai rực rỡ. Tất cả đã vượt qua hàng ngàn khó khăn: một biển bao la những khó khăn, một đại dương rộng lớn... Có cả những tập sinh sẵn sàng tiến sâu hơn vào những nẻo đường mới của đời sống Salêdiêng.
Mẹ Angela đã xin Thiên Chúa một ơn: Có khoảng "hơn kém một năm" để không gánh vác những bổn phận cấp bách của công cuộc, để có thể chuẩn bị mình cho cuộc gặp gỡ với Ngài trong cầu nguyện. Và Thiên Chúa ban cho mẹ một khoảng thời gian mà chỉ có Ngài mới biết đo lường cho đủ, một thời gian sống cách xa Puntarenas, xa Patagonia, xa Argentina và xa Châu Mỹ.
Thiên Chúa ban tặng và đòi hỏi: không phải Ngài muốn yêu cầu một sự trả giá nào nhưng vì muốn đong đầy những sự chúc lành cách hào phóng hơn cả cho những người con trung tín của Ngài.
Thế là mẹ Angela lại một lần nữa chuẩn bị va ly và còn một lần nữa, ngày 20.07.1913, mẹ lên tàu đi đến nước Ý. Lần này, tiếng gọi đến từ Tổng Tu Nghị VII.
Mẹ tham dự Tổng Tu Nghị, nhưng không còn trở lại phía bờ bên kia của Đại Tây Dương nữa. Mẹ ở lại Nizza, bây giờ, mẹ phải chịu những thử thách nặng nề tàn nhẫn khác. Mẹ không còn chút năng lượng nào. Mẹ bị xuất huyết do việc ho ra máu. Mặc dù mẹ cố gắng không để ý đến căn bệnh và cố gắng để phục vụ trong một vài công việc, chẳng hạn như phơi nắng những tấm drap trải giường to và nặng vừa mới giặt xong. Thậm chí, một vài lần, mọi người phải lên tiếng trách cứ mẹ vì điều đó.
Và rồi, vào mùa hè năm sau, mẹ được chuyển đến Intra, bên bờ hồ Maggiore, nơi mà khí hậu dễ chịu hơn. Tuy vậy, mẹ chỉ ở đó một khoảng thời gian rất ngắn, chưa đến 20 ngày, bởi sức khỏe của mẹ không còn chút gì có thể bám víu vào được nữa.
Ngày 12.08.1914, để đáp ứng nguyện vọng của mẹ, mọi người đưa mẹ trở về Nizza cách hết sức cẩn thận. Ngày 16 tháng 8, một cơn viêm phổi cấp tính đã kéo mẹ ra khỏi đời sống dương thế và đưa tiễn mẹ vào Thiên đàng. Nơi đó, vẫn còn có đại dương, nhưng là đại dương của hạnh phúc.
Và Chúa Giê-su đã nói với mẹ: “Hãy đến đây, hỡi tôi tớ tốt lành và trung tín. Ta đã là một người thổ dân của vùng đất lửa và con đã yêu mến, bảo vệ và phục vụ Ta...”
Chú thích
17 x. FMA [CAPETTI Giselda], Aprendo il solco... Me Angela Vallese nhà truyền giáo đầu tiên của thánh Giovanni Bosco, Torino, LLC.E.-R. Berruti 1949; FAGIOLO D'ATTILIA Miela, Angela della Terra del Fuoco. Piniera delle prime missionarie salesiane, Milano, Edizioni Paoline 2002.
18 Những thị trấn khác là: Ne (tỉnh genova), Re (tỉnh Verbano/Cusio/Ossola), Ro (tỉnh Ferrara), Vo’ (tỉnh Padova).
19 x. FMA, Sr. Vallese Luigia, in Cenni biografici delle Figlie di Maria Ausiliatrice defunte nel 50 quinquennio dell'Istituto (1893-1897), Torino, Tu POCO C40ội FMA 1923, 19-23.
20 Sau đó, các FMA đã mở một cộng đoàn ở Lu vào khoảng cuối nam 1876.
21 Về việc cư trú này ở Torino, x. FMA [CAPETTI Giselda[, Aprendo il solco...45
22 Vùng phía bắc của Montevideo, bây giờ, đã được sát nhập vào thành phố
23 VALLESE Angela, Là non ci separeremo mai Pìu. Những lá thư của nữ tu FMA truyền giáo đầu tiên của Patagonia và của Vùng Đất Lửa, Roma, Tu hội FMA 2014, 10. Cách diễn tả “đan sĩ Salidieng” ám chỉ đến các nữ tu dòng Thăm Viếng được thành lập bởi thánh Francesco di Sales.
24 Hồi sử II. MINELLONO Antonio viết: “Ngôi nhà, được ông Enrico Fynn dâng tặng, chật hẹp không đủ chỗ và có nguy cơ bị sập vì không được xây dựng kiên cố. Bà Elena Jackson tài trợ 700 lia để sửa chữa lại ngôi nhà, nhưng tiếc thay vẫn chẳng khắc phục được gì. Cần phải có một ngôi nhà khác. Tạm thời, ông Carlo Uriate chuẩn bị sẵn một biệt thự cho các nữ tu, có cả khuôn viên và vườn rau. Tất cả chuyển đến đó ở. Tuy nhiên, chỉ ít thời gian sau ông Carlo phải bán căn nhà đó vì vỡ nợ. Don Lasagna, con người không biết mỏi mệt, đã tìm được đủ số tiền cần thiết như một phép lạ để mua lại căn nhà ấy. Và bà Elena Jackson là người đầu tiên dâng tặng một số tiền lớn. Trong năm 1885, căn nhà đã được nới rộng ra...” (Sr Teresa Gedda FMA, Alba, Scuola Tipografica Editrice 1926,47).
25 VALLESE, Là non ci separeremo mai più 19.
26 Trích từ một lá thư Sr.Angela gửi cho cha mẹ (02.1878):”Chúng con làm những hi sinh nhỏ bé vì tình yêu dành cho Chúa Giê-su... Cần phải giành lấy Thiên Đàng và phương thế tốt đẹp hơn cả là chấp nhận những thánh giá với lòng nhẫn nại” (Là non ci separeremo mai più 16).
27 Là non ci separeremo mai più 21.
28 Beinasco (Torino) 1849 – Buenos Aires 1883. Chị là giám tỉnh đầu tiên của FMA tại châu Mỹ La Tinh. Chị làm việc trong thời điểm xảy ra các cuộc cách mạng, chiến tranh và phong trào chống giáo sĩ nổi lên. Mặc dù vậy, chị vẫn làm cho các công cuộc và cộng thể trổ sinh hoa trái.
29 X., Sour Martini Maddalena, in Cenni biografici delle FMA defunte nel 20 decennio dell'Istituto (1883-1893), Torino, Tip.Società Editrice Iternazionale 1920, 6-15
30 POSADA Maria Ester - COSTA Anna - CAVAGLIA Piera, La sapienza della vita. Lettere di Maria Domenica Mazzarello, Roma, Tu Hội FMA 2004, lá thư 17,2 (12.1878). Sau này sẽ viết tắt Lettere MM, số của lá thư và đoạn văn trích dẫn sẽ được viết liền sau đó.
31 Sr. Angela Cassulo và sr. Caterina Mugues de 1809/20240862 mới khấn dòng tại Carmen de Patagones ngày 24.05.1882, nhưng sẽ rời bỏ Tu Hội năm 1899.
32 Villa Colón, 20.10.1879, trong VALLESE, Là non ci separeremo mai più 22.
33 Sự kiện này được thuật lại trong Cronaca của nhà Buenos Aires Almagro, nói đến chuyến khởi hành của bốn nữ tu, có thêm tên của Sr. Caterina Fino, chị đã có mặt trong cuộc xuất chinh thứ hai.
34 x. Cronistoria 147-148.
35 Francesco Bodrato (1823-1880) là thày giáo của Mornese. Ông góa vợ và sống với hai con trai, ông gởi chúng cho Don Bosco và sau đó, trở thành một Salêdiêng. Năm 1869, ông thụ phong linh mục, là tổng quản lý của Tu hội và khởi hành đến Argentina năm 1876, trong vai trò trưởng đoàn của chuyến viễn chinh truyền giáo lần thứ hai. Ngài trở thành Giám tỉnh của các cộng đoàn tại Nam Mỹ (X. BODRATO Francesco, Epistolario. Introduzione, testo critico e note a cura di Brenno Casali, Roma, LAS 1995, 12-29).
36 x. VALLESE, là non ci separeremo mai più 28. Tại đây có viết câu này: “Giá như cha nhìn thấy biết bao điều các chị em phải làm và những Sa-lê-diêng đang làm! Trên hết, cha Fagnano đáng kính dường như là một vị tử đạo giữa những lao nhọc và chúng con lo rằng ngài sẽ chết vì lao nhọc”.
37 Chợ buôn người bị bãi bỏ trên Hiến pháp trong năm 1812 nhưng vẫn còn duy trì những hình thức khác nhau của sự áp bức chủng tộc.
38 Cuộc xây dựng mới được trao phó cho chị phụ trách, sr. Giovanna Borgna. Còn về những lời mà sr. Angela Vallese đã viết, người ta không tìm thấy trong các Hồi sử nhà của Viedma 1884-1885, X. FMA [CAPETTI Giselda], Aprendo il solco... 104.
39 VALLESE, Là non ci separeremo mai più 51. Sr. Giovanna Borgna và hai chị em mới đến: Sr. Margherita Cantavena và Sr. Anna Balduzzi lên đường thành lập cộng đoàn mới. Chị phụ trách “chạy qua chạy lại” bổ nhân sự tổng cộng là bốn người.
40 VALLESE, Là non ci separeremo mai più 53.
41 Giuse Fagnano (1844-1916). Ngài khởi hành từ Torino trong chuyến truyền giáo đầu tiên của Sa-lê-diêng đi thẳng đến Argentina, năm 1875, được gửi đến San Nicolás de los Arroyos, vùng đất mà Don Bosco đã xem như một tiền đồn để từ đó, đi đến các dân tộc bản xứ của Patagonia. Ngài phải vượt qua những khó khăn vô cùng lớn lao (sức khỏe, kinh tế, chính trị và ngay cả bị một số anh em hiểu lầm). Khi ngài khỏi bệnh thương hàn, năng 1880, Don Bosco gửi ngài đến Carmen de Patagones, một địa bàn tiên phong khác để xâm nhập vào những lãnh thổ dân bản xứ, tuy nhiên, trong nhữngnăm này, phần lớn người dân bản xứ từ vùng đồng bằng cho đến dãy núi Andes bị diệt trừ và bị đẩy bật ra ngoài.
42 VALLESE, là non ci separeremo mai più 64-65.
43 VALLESE, là non ci separeremo mai più 76.
44 Chúng tôi chiêm ngưỡng tất cả sự đảo lộn của thiên nhiên với nỗi hãi sợ, nhưng cũng với một niềm vui. Mọi người cười nói và đùa giỡn liên tục. Không hề có một khoảnh khắc của sự âu sầu phiền muộn. Cả khi phải tắm nước lạnh, chúng tôi cũng không hoảng hốt vì biết rằng mình đang thi hànhthánh ý Thiên Chúa. Tôi biết cả các nữ tu cũng đã làm như thế [...]. Ngày 03.12, chúng tôi nhìn thấy đất liền không xa ở bên trái và cả bên phải mạn thuyền, nhưng hoang vu, khô cằn, không một bóng cây, không một ngọn cỏ. Một cơn gió bấc mạnh làm chúng tôi run lên vì lạnh [...]. Cuối cùng, Puntarenas đây rồi! Thành phố nhỏ này nằm ở phía dưới chân của một sườn đồi cạnh bên bờ biển. Cách xa khoảng vài km, một dãy gồm các ngọn núi cao được phủ bởi các cánh rừng nguyên sinh rậm rạp bao bọc lấy thành phố này. Các ngôi nhà ở đây nửa màu trắng, nửa được tổ vẽ bằng nhiều màu sắc và được sắp xếp thứ tự trên các con đường rộng rãi, thẳng băng” (Bolletino Salesiano, marzo 1889).
45 Đảo Dawson, năm trong vịnh Harris, có bề mặt diện tích khoảng 1.290 km. Vì một chút hiếu kỳ, người ta thấy rằng trong khoảng thời gian rất gần đây, khoảng năm 2002, dân số ở đây khoảng 301 người.
46 Người dân bản địa gọi tập sinh với biệt danh “Tescus Hascua”, dịch ra ngôn ngữ của họ nghĩa là “cô bé da trắng”. Sr. tuyên khấn trọn đời trước năm 17 tuổi. Bởi thế, Sr. là một dung mạo truyền giáo tuyệt vời. X.SECCO Michelina, Sr. Michetti Filomena, in Facciamo memoria. Cenni biografici delle FMA defunte nel 1960, Roma, Istituto FMA 2000, 281-291.
47 VALLESE, Là non ci separeremo mai più 91. Ở đây, người ta nói đến“hoang mạc” (hay thảo nguyên). Trong những văn bản khác, lại là “cây cối um tùm”. Chắc chắn rằng sự khác biệt này hệ tại ở những vị trí địa lý mà người ta nhìn thấy nơi mảnh đất này. Thực tế, đảo Dawson có những khu rừng cây tùng bách rộng lớn có khả năng chịu đựng khí hậu lạnh. Không phải ngẫu nhiên mà Đức Cha Fagnano đã phải “phá rừng” và lấy loại gỗ thích hợp cho việc xây dựng để lập làng mạc.
48 Từ Elenco Generale dell'Istituto FMA, "Luru xá Maria Ausiliatrice" khai sinh năm 1894.
49 Tên gọi“Candelaria” bắt nguồn từ một lời khấn mà Don Giuse Fagnano dâng lên để tỏ lòng tri ân Đức Maria Rất Thánh vì kinh nghiệm được sự bảo vệ của Mẹ ngày 02.02.1889. Đó là một cuộc chạy trốn khỏi sự tấn công nguy hiểm của một con bò rừng rượt đuổi cách rất hung hăng phía sau cha giám đốc của cứ điểm truyền giáo “Tổng Lãnh Thiên Thần Raffael”, tại đảo Dawson, cha Antonio Ferrero, trong khi cha đang vận chuyển lương thực và súc vật đến Punta Arenas để thành lập một điểm truyền giáo mới. Don Ferrero đã kêu cầu Đức Maria và ngài được cứu sống. Bởi thế, ngài nghĩ đến việc đặt tên cho cứ điểm truyền giáo là Nostra Signora della Candelaria, để ghi nho sự kiện này (x. BORGATELLO Maggiorino, Patagonia delle missioni salesiane. Spine, fiori e frutti, Torino, Societa' Editrice internazionale 1929, 248; FERNÁNDEZ Ana Maria (a cura di), Con letra de mujer. La Crónica de Hijas de Maria Auxiliadore en la Misión Nuestra Senora de la Candelaria (Tierra del Fuego). Periodo de los orígnes 1895-1919, Buenos Aires, Ediciones Don Bosco Argentina, 2014).
50 Người ta đọc thấy trong Cronaca của nhà Candelaria rằng cộng đoàn như ở trong “sa mạc”, không có bất kỳ một phương tiện sinh sống nào, lại bị bao quanh bởi một đám người dân da đỏ đói khát đang kêu xin bánh ăn và quần áo, bánh vật chất và bánh tinh thần, và các chị em không thể đáp ứng cho họ những thứ đó, "Nếu Đấng Quan Phòng không giúp đỡ, tất cả sẽ chết đói và chết rét vào mùa đông" (X. Cronaca 1896, in AGFMA 15 (895) 4, quaderno n.2).
51 Lá thư trích dẫn trong ngoặc kép được lấy ra từ FMA ICAPETTI Giselda], Aprendo il solco 193, nhưng bản gốc không còn được tìm thấy.
52 Ngày nay, những cư dân khoảng một trăm ngàn người và thành phố là thủ phủ của tỉnh Santa Cruz.