FMA Logo

2. NỮ TU GIOVANNA BORGNA



Cha mẹ của chị là những người Ý di dân ở Agentina. Tên cha là Antonio và tên mẹ là Antonia... Họ có liên hệ gì với nhau không mà tên của họ mang tính cách cặp đôi thế?

Cặp vợ chồng đó gặp nhau tại Ý hay tại Argentina? Chúng ta không biết được chuyện này. Nhưng chúng ta biết rằng tại Agentina, ở Buenos Aires, các con cái của họ được sinh ra: Giovanna năm 186053, Emilia (sau đó cũng trở thành FMA) vào năm 1862 và Giacinta, con gái út, mà chúng ta không biết ngày sinh.

Sau khi người cha qua đời, gia đình trở lại Ý và sống gần ông bà nội ở vùng Piemonte. Ba cô con gái được nhận vào Lưu xá Mornese ngày 16.12.1874. Đặc biệt, Giacinta được chính mẹ Mazzarello dõi theo đồng hành ngay lập tức với tình âu yếm đặc biệt54. Riêng bà Antonia, chúng ta biết sau này đã trở lại Buenos Aires.

Chính nữ tu Giovanna đã thông tri điều này khi chị và Emilia vào nhà Mornese trong một ghi chép gửi cho Tổng Thư Ký là mẹ Clelia Genghini.

Trong bản ghi chép đó, chị Giovanna còn ghi lại dấu ấn thời gian cách chính xác với một sự quan tâm đặc biệt, không bị chi phối bởi chút cảm xúc nào: “Ơn gọi đã chụp bắt tôi lúc 9g sáng ngày 10.10.1875, và lúc 18g cùng ngày, tôi đã ở trong nhóm thỉnh sinh”.

Xin các bạn vui lòng đọc những lời này cách chậm rãi: Ơn gọi “chụp bắt tôi”. Ơn gọi không đến từ Giovanna nhưng đến từ Thiên Chúa và Thiên Chúa đã lao vào cuộc đời chúng ta khi nào và như thế nào Ngài thấy là thích hợp. Điều gì đã từng xảy ra cho Saolo trên đường đi Damas?

Chắc chắn rồi, Giovanna đã không chống đối như Saolo. Chị đã ở trong, giữa vòng vây của Thiên Chúa. Tuy nhiên chính ơn gọi đã chộp bắt lấy chị. Thực tế, ơn gọi lại là “một điều khác”.

Người mẹ, từ nơi xa đã gửi đến sự chúc lành của mình.

Một thời gian khá lâu trước đó lúc Giovanna vừa mới lên 10 tuổi, vào một buổi sáng khi cả gia đình còn sống chung thì từ cửa sổ nhà, trong khi dịu dàng chải đầu cho Giovanna, bà Antonia đã nhìn thấy một nhóm nhỏ các nữ tu nói với bà “về niềm hạnh phúc mà chắc chắn rằng người ta chỉ tìm thấy trong đời tu”; và cô con gái đã nghe thấy điều đó. Phải chăng hạt giống đó đã nổ tung ra trong canh giờ nổi tiếng ấy, trong ngày đáng nhớ xảy ra tại Mornese?

Ở Mornese, Giovanna gặp được những con người thành tâm, chân thực trong quyết định hiến dâng cho Thiên Chúa và cho tha nhân, đặc biệt người trẻ. Chị tìm thấy sự hy sinh lớn lao và niềm vui sâu xa. Chắc chắn rằng chị cũng gặp một chuỗi những giới hạn của con người; nhưng tất cả đều là sự quan phòng cần thiết cho tiến trình trưởng thành của một người nữ thánh hiến.

Người ta ngay lập tức trao cho chị những cuốn sách của khóa học lấy bằng giáo viên tiểu học mà chị phải theo ở Mondovì. Việc học này diễn ra thật nhanh. Tuy nhiên, không mẹ của hề hời hợt chút nào. Người ta có thể suy ra rằng cha chị đã chăm sóc khía cạnh đào luyện văn hóa cho chị, đưa chị đạt đến mục đích.

Sau đó, trong một thời gian, chị đã dạy học ở Mornese và đã để lại những kỷ niệm tốt đẹp nơi các học trò lúc bấy giờ.

Sr. Angelica Sorbone đã nói về Giovanna như sau, “cô gái nhỏ” của một “tổ ấm vốn tất cả dành cho Thiên Chúa và cho Don Bosco”. “Chị đã là cô giáo với những bùa mê của tôi và tôi không bao giờ có thể quên được sự kiên nhẫn, sự chủ ý và quan tâm của chị đối với chúng tôi. Chị luôn luôn mỉm cười rất dễ thương”55.

Ngày 03.09.1877, Sr. Giovanna trở thành FMA. Chị vừa mới bước qua tuổi 17 được một vài tháng. Và ngày 09.11 chị khởi hành trong chuyến truyền giáo đến Mỹ Châu.

Thực ra, chị không hề nghĩ đến điều này, Cha Cagliero bấy giờ đang hiện diện ở Ý, ngài đã hỏi chị có sẵn sàng để lên đường hay không, chị đã trả lời ngay lập tức: “Vâng. Xin gửi con đến bất cứ nơi nào”.

Mẹ Mazzarello có chút bối rối do thấy vẻ gầy gò mảnh khảnh của chị. Tuy nhiên, Mẹ biết rằng mình có thể tin tưởng vào nhân cách mạnh mẽ của chị. Tuy nhiên, cần phải chăm sóc chị với thức ăn bổ dưỡng hơn một chút, và không ai ngoài Don Rua đã chu cấp cho điều này. Khi nhìn thấy ở Torino, các nữ tu sinh viên đã hao mòn bởi những vất vả mà họ phải gánh chịu, Don Rua đã thực hiện những can thiệp cần thiết.

Như vậy, vào ngày lịch sử 14.11.1877, Sr. Giovanna đã khởi hành không chỉ đến một nơi mang tên Tân Thế Giới, mà là đến một thế giới mà với chị, tất cả đều mới mẻ.

Nhưng chúng ta đã biết, một vài ngày trước đó chị đã ở Roma trong buổi tiếp kiến với Đức Thánh Cha Pio IX. Người ta đã trao cho chị trách nhiệm đọc một bài ngắn, nhưng sau đó Cha Cagliero khi nhìn thấy Đức Thánh Cha đã mệt, ngài làm hiệu cho chị không đọc nữa. Sau này, chị đã bình luận về sự kiện: “Tôi thật là một kẻ đại ngốc đến nỗi đã không giữ lại tờ giấy đó”.

Như chúng ta đã thấy, sau cuộc hành trình, các nữ tu truyền giáo trẻ vẫn chưa có một nơi trú ngụ cố định... Họ phải nghỉ ngơi ở một đan viện, Sr. Giovanna luôn sống động và hài hước, chị cũng đã tạo được một chút niềm vui tiêu khiển. Trong hồi ký của chị, người ta đọc thấy:

“Chúng tôi là những cô cháu gái và cũng có cả những người mẹ, người dì dễ mến tốt lành nữa. Chúng tôi, giống như những đứa cháu nhanh nhảu và thiếu kinh nghiệm, chúng tôi biết cách quan tâm lo lắng đến những người dì thân thương của mình”.

Những mối lo lắng bắt đầu xuất hiện. Lo lắng đầu tiên là dành cho Sr. Teresa Gedda. Cơn đau đầu của chị như món quà được gửi đến từ cơn nắng chói suốt chuyến đi đến hòn đảo Flores nổi tiếng, trên một chiếc thuyền nhỏ. Mối lo lắng mang theo từ thứ hai, từ những đôi giày cứng mà chúng tôi Mornese. Chúng chẳng thích hợp bao nhiêu so với bước chân thiên thần của các chị nữ tu dòng Thăm Viếng. Mối lo thứ ba chính là ngôn ngữ, các chị đã phải bật cười vì cách phát âm sai khiến cho câu nói mang một ý nghĩa khác hẳn. Tóm lại, chúng tôi là những nữ tu nghèo hèn, vui tươi chẳng khác gì những con chim sẻ nhỏ được lãnh nhận Thánh Thể mỗi ngày với nhiệt tình trẻ trung. Nhưng việc rước lễ ấy lại tạo nên sự ngưỡng mộ đầy suy tư nghiêm túc cho những nữ tu dòng Thăm Viếng đáng mến, dẫu rằng họ vẫn còn chưa có thói quen rước lễ mỗi ngày.

May thay trong những ngày lễ, một trong các linh mục Sa-lê-diêng đã đến cất đi những ngáng trở và gỡ bỏ hết những dấu vết của sự dè dặt giữa chúng tôi, cho cả các nữ đan sĩ Thăm viếng đạo đức thánh thiện của Thánh Phanxico Sale nữa...!

Những cuộc viếng thăm thành phố xinh đẹp này cũng không làm cho chúng tôi ngừng nghĩ về vùng đất truyền giáo đang hướng đến! Dầu sao đi nữa, như Don Bosco đã nói, nếu chúng tôi không ngay lập tức trở thành những nhà truyền giáo giữa những người man rợ của vùng Pampa hoặc Patagonia, chúng tôi sẽ bắt đầu để củng cố vương quốc Thiên Chúa giữa những người tín hữu; để làm cho vương quốc ấy sống động nơi những người đã rời bỏ đời sống đức tin; để mở rộng vương quốc đó giữa những người dân địa phương vẫn còn chưa biết Ngài” 56

Rất cần lưu ý rằng trước đó ít lâu, một lá thư từ đảo Flores đề ngày 04.12.1877 đã được gửi đến cho Mẹ Mazzarello. Cần lưu ý đến lá thư đó bởi vì Sr. Giovanna không chỉ cống hiến những tin tức thú vị mà còn kể lại với một cách thức trẻ trung và tự nhiên.

Trong tờ giấy nhỏ này, trước hết người viết gửi lời xin lỗi vì đã không báo tin sớm hơn, do chị bị say sóng.

Tuy nhiên, chị nói: “Chuyến hành trình đã trôi qua trong niềm hạnh phúc vô cùng, hơn mọi lời diễn tả”57

“Niềm hạnh phúc khôn cùng” không hời hợt ở vẻ bên ngoài, nhưng trên hết, tất cả bắt nguồn từ đời sống thiêng liêng. Các chị em đã không bao giờ thiếu Thánh lễ và Hiệp thông sâu xa với Chúa Giê-su.

Mọi người đã có vài giờ đồng hồ vào buổi sáng để làm việc chân tay trên boong tàu, nhưng... “người thì chóng mặt”, “người khác lại nôn mửa”. “Nhiều lần chúng tôi đã dâng hiến công việc cho Thiên Chúa, và rồi tất cả đi ngủ”.

“Chuyện này xảy ra trong vòng 10 hoặc 12 ngày, chúng tôi bắt đầu làm việc cách nghiêm túc và cũng đã hoàn thành được sáu cặp đế lót giày,58 [thỉnh thoảng] Sr. Denegri và Sr. Giovanna lại lấy giờ để học tiếng Tây Ban Nha với cuốn ngữ pháp luôn đặt dưới gối kê đầu”.

Tuy vậy, các nữ tu cũng đã dạy nhiều bài giáo lý cho khoảng 20 trẻ em hoặc có khi hơn số đó, ở trên tàu Savoie.

Vào buổi chiều tối, “Cha giám đốc bắt đầu thổi harmonica và hát hò cùng với các chủng sinh những bài hát như “Người lính thủy thủ”, “Đứa bé mồ côi”, “Thợ cao ông khói”. v.v... Chúng tôi hát bài “Con muốn được tình yêu đốt cháy”, “Kêu cầu Mẹ Maria”, và một vài lần, chúng tôi hát bài “Mẹ là Ngôi Sao Biển” với giai điệu mới mà một phụ nữ người Tây Ban Nha đã dạy cho chúng tôi”.

Thỉnh thoảng [cũng có] người nhóm Tam điểm, một bác sĩ người Do Thái, và [một vài] người Tin lành đến với chúng tôi nữa. Tuy vậy, tạ ơn Chúa, chúng tôi không gặp một khó khăn nào đặc biệt cả”.

Sau đó, lá thư được tiếp tục với một vài nét phác họa về mặt địa lý: Vùng địa phương tên là Flores (nghĩa là Hoa) cách xa Montevideo khoảng hai đến ba tiếng đồng hồ, được tạo thành bởi ba cụm đảo nhỏ nằm rất gần nhau. Tại hòn đảo nơi mà những nhà truyền giáo cư ngụ, ngoài cái tên gọi thì chẳng có lấy một bông hoa nào nữa, nhưng bù lại, ốc sên và rắn nước không hề thiếu. Một trong những hòn đảo khác lại đầy rẫy những thỏ và chim hải âu và cũng không có loài giống trâu bò mà “thời gian cách ly của cơn sốt da vàng” chúng đã bị giết chết bằng súng, khi tại Montevideo “người ta không thể tìm được lương thực do các cơn gió mạnh không cho phép các thuyền ghé qua đảo”.59

Sau đó các nữ tu FMA cũng đã sở hữu được một ngôi nhà dành riêng cho mình, cho dù là nghèo nàn.

Và Sr. Giovanna thì sao? Chị đã làm gì?

Chị biết tiếng Tây Ban Nha tốt hơn nhiều so với các chị em khác, bởi thế, chính chị dạy học cho một nhóm trẻ nữ nghèo. Chúng không là trẻ nghèo về vật chất cho bằng cái nghèo về thiêng liêng và giáo dục, như Don Bosco ám chỉ.

Tuy nhiên, cũng thật vất vả khi phải làm việc quần quật giữa những cái chậu gỗ trong nhà giặt, hoặc với đống quần áo cần phải gấp gọn. Rồi sắp xếp kéo, kim, chỉ... Các chị làm việc cả cho những khách bên ngoài, họ chờ đợi nhiều giờ đồng hồ và đôi lúc kéo dài mãi đến lúc mặt trời gần ló rạng.

---o0o---

Năm 1879, sau hai năm sống tại Uruguay, Sr. Giovanna chuyển đến cộng đoàn mới ở Las Piedras. Họ trao cho chị bổn phận làm phó nhà tại cộng đoàn có Bề trên là Angela Vallese. qua đi lại giữa Chị Vallese lúc này đã bắt đầu thời kỳ phải đi các nhà.

Mẹ Mazzarello viết cho chị:

“Này con, Sr. Giovanna thân mến, con đã đảm nhận vai trò phó nhà, vậy con hãy hết sức chú tâm để nêu gương sáng và làm mọi sự cách cẩn trọng, chỉ với mục đích duy nhất là làm vui lòng Thiên Chúa”.60

Đúng thế, chị Giovanna mong muốn tất cả các điều Mẹ Mazzarello nói, nhưng chị mới có 19 tuổi; và chị cũng đã gặp cả một biển khó khăn bên ngoài do đòi hỏi của việc điều hành, cùng với những điều khác. Chúng ta không biết rõ hoàn cảnh nội bộ giữa chị và hai chị em khác trong cộng đoàn thế nào. Tuy nhiên, chị Angela bề trên cảm thấy cần phải nói chuyện này với Mẹ Mazzarello. Và chị Bề trên đã nhận được câu trả lời như sau:

“Mẹ tiếc là nhà mới mở tại Las Piedras không được tiến triển tốt đẹp cho lắm. Chị Giovanna còn quá trẻ, chưa đủ chín chắn để thay mặt cho bề trên. Thế nhưng, con đừng sợ hãi, hãy tự thuyết phục mình rằng các khuyết điểm sẽ luôn có, điều cần là phải sửa chữa và phục hồi tất cả những gì có thể, nhưng hãy thực hiện với sự bình tĩnh và phó thác điều còn lại nơi bàn tay Thiên Chúa. Con cũng đừng quá quan tâm đến những điều nhỏ nhặt, bởi nhiều lần do đặt nặng những điều nhỏ mọn, người ta lại bỏ qua những điều to lớn. Mẹ nói thế không có nghĩa là coi thường những thiếu sót nhỏ bé, Mẹ không có ý nói thế đâu. Con hãy luôn sửa dạy, cảnh cáo, nhưng trong lòng thông cảm và dùng tình bác ái với hết mọi người. Cần nhìn ra và học biết những tính khí tự nhiên, đồng thời biết xử sự để đạt được sự thành công tốt đẹp, cần khơi dậy sự tín nhiệm”61

Từ chính chị Giovanna chúng ta biết rõ một sự kiện, đó là chị mời viên thanh tra ra khỏi cửa. Chị không đóng sầm cửa trước mũi ông, nhưng chị không cho phép ông đến thăm viếng ngôi trường nhỏ mà chị điều hành. Làm điều này chị không hề sai: Bởi theo luật địa phương, các trường tư thục là trường tự trị. Tuy nhiên biến cố này đã tạo nên một sự xích mích khá nguy hiểm. Câu chuyện này động đến cả vị Tổng thống nước Cộng Hòa, sự may mắn đã nghiêng về phía chị Giovanna. Chính tay chị đã viết lá thư này và trực tiếp gửi cho Don Bosco.62

Từ Nizza, Mẹ Maria Domenica Mazzarello cũng có can thiệp vào sự kiện này. Ngày 20.10.1879, một cách tế nhị, Mẹ đã viết thư khích lệ chị Giovanna như sau: “Mẹ thật rất vui khi nhận được lá thư thân thương của con và Mẹ hài lòng về những tin tốt đẹp mà con viết cho Mẹ. Mẹ được biết là các con đã Tĩnh tâm, hãy chúc tụng Thiên Chúa vì Ngài đã ban cho các con một hồng ân kỳ diệu như vậy. Mẹ được an ủi rất nhiều, vì số đông các thiếu nữ đã xưng tội và Hiệp lê, như thế, mọi sự tiến triển thật tốt đẹp. Con không được thất đảm khi nghe thấy thế gian nói xấu về các con và các giáo viên của các con, hay về nhà trường hoặc về các tu sĩ, các linh mục, hay về người này người nọ... Nếu thế gian nói như thế, điều cho thấy chúng ta ở về phía Thiên Chúa, ma quỉ giận dữ với chúng ta và chúng ta lại càng phải can đảm hơn nữa [...]. Chị Giovanna thân yêu, con hãy nói cho Mẹ nghe một chút, con luôn vui tươi chứ? Con có khiêm nhường không? và với chị em con đối xử thế nào? Có dịu dàng và bác ái không?”.

Mẹ đòi hỏi chị phải “trở nên gương sáng” cho tất cả chị em: “Con phải nên mẫu gương nhân đức trong mọi sự... Mẹ nói lên điều này hoàn toàn không để trách cứ con đâu, trái lại, Mẹ biết con đã làm tất cả những gì có thể để các việc được trôi chảy tốt đẹp. Nhưng Mẹ nhắc con điều này vì nó rất hệ trọng, đối với Mẹ”63

Tuy nhiên, đối với sr. Giovanna, giữa muôn vàn khó khăn cũng có cả niềm vui. Chị đã chia sẻ niềm vui ấy với Don Bosco trong lá thư đã được trích dẫn khi nói về một số thành công trong việc tông đồ của cộng đoàn: “Thiên Chúa đến chúc lành cho những vất vả nghèo nàn của chúng con mỗi ngày, Ngài cũng đã gửi đến cho chúng con nhiều thiếu nữ. Đây là một trong những niềm an ủi lớn lao hơn cả trong trái tim của con và của các chị em. Con chắc chắn với cha rằng các thiếu nữ là niềm vui sướng của chúng con, mặc dù một vài em cũng làm cho chúng con phải nếm trải những ngụm đắng nho nhỏ.

Nhìn chung, các em cũng quí mến chúng con nhiều lắm, và khi tan trường hay kết thúc công việc, thay vì về nhà, các em muốn ở lại với chúng con... và con chẳng cảm thấy gì bất đồng với chúng. Cứ thế hàng tiếng đồng hồ trôi nhanh như một làn gió thoảng!

[Cha hỏi con rằng các em làm gì sau khi tan trường?]. Con xin thưa với cha rằng... tất cả đều làm việc: Em thì may vá, em thì đan len, em thì kết lưới, những em khác lại dệt cửi v.v... và các em luôn cùng nhau lần chuỗi mân côi]”64

Và đã đến cái giờ mà chị Giovanna đã hằng thao thức chờ đợi: Thời khắc sứ mệnh của chị là giờ mà Don Bosco đã luôn mơ nghĩ đến. Một cuộc khởi hành đến những vùng đất xa xăm. Khoảng cuối năm 1879 chị đến Carmen de Patagones cùng với Sr. Angela Vallese và hai người chị em khác là Sr. Angela Cassulo và Sr. Caterina Fino.

Chúng ta đã biết về tiểu sử của vị truyền giáo này rồi. Sr. Giovanna vừa mới tròn 20 tuổi sau khi đến vùng phía dưới ít lâu, chị đã nhận chìm mình trong vùng đất ấy với trọn niềm nhiệt huyết hăng nồng. Chị đã trở thành một giáo lý viên tuyệt vời.

Chị biết rõ Patagonia như trong lòng bàn tay, chị cũng am hiểu những nguồn lực và cả những vấn đề lớn của nó. Các thổ dân Araucani, những người da đen, những nô lệ thời xưa đã phải chịu đựng cảnh bị loại trừ, không thể gia nhập vào xã hội dù dưới hình thức nào. Những thực dân có xuất xứ khác nhau và có cảm thức về luân lý khác nhau đã được rửa tội, nhưng rồi lại trở về tình trạng cũ, và nhiều lần họ giống như tấm bảng bị xóa sạch về tất cả những gì liên nhận biết về Ki-tô giáo. quan ( đến những

Những tháng đầu tiên vô cùng khắc nghiệt và nặng nề, nhưng chị Giovanna đã sở hữu được nghị lực thép của nhà thám hiểm và của các tông đồ của Thiên Chúa. Sự hăng say tỏa sáng trong tất cả mọi hoạt động của chị.

Có rất nhiều trẻ em và thanh thiếu niên. Cần phải rộng mở cho họ những cánh cửa tương lai, và sr. Giovanna đã trở nên tất cả cho họ. Chị dạy học trong trường “Santa Maria de los Indios" vừa mới mở, nhưng trên hết chị xin được dạy giáo lý cho các trẻ em và người lớn. Những người đã được rửa tội, cần phải bước đi trên hành trình đức tin cho đến khi được tham dự vào Bàn Tiệc Thánh Thể, nhiều người khác cũng cần phải được loan báo Tin Mừng để họ có thể lãnh nhận hồng ân Thánh Tẩy.

Năm 1884, Sr. Giovanna được mời gọi làm một bước nhảy vọt khác: Từ bờ bên này sang tận bờ bên kia của sông Rio Negro. Ở Viedma, thành phố nằm rất gần cửa sông, hầu như là đối diện với Patagones. Thời gian đầu, chị được trao trách nhiệm phó nhà, nhưng kể từ năm 1886 chị đảm nhận vai trò giám đốc cộng thể. Bây giờ, chị đã tròn 26 tuổi.

Ngay lập tức chị hiểu ngay đây là một trách nhiệm vô cùng khó khăn và chị đã trọn vẹn dâng hiến. Sự dâng hiến này là mãi mãi.

Trong một chứng từ được Michelina Secco trích dẫn, chúng ta có thể đọc những lời vốn được viết khá lâu sau cái chết của đương sự, nhưng đó là những lời kể chân thật, về giây phút đầu tiên trong trách nhiệm bề trên của chị: “Người ta chẳng bao giờ nói cho hết được nhiệt huyết của Mẹ Giovanna, bởi người ta chỉ có thể so nó với một ngọn lửa thắp sáng và đốt cháy tất cả những gì ở gần. Tại mọi nơi, mọi lúc, dường như mẹ chẳng có một mối bận tâm nào khác hơn là làm lợi ích cho các linh hồn... Mẹ đã là tất cả thay cho cha Bosco và cho mẹ Mazzarello, tất cả cho Hội Dòng”65.

Thời gian ban đầu tại Viedma, đôi lúc việc nhiều đến mức “ngập đầu ngập cổ”, bắt đầu từ việc lượm củi trong một cánh rừng cách xa đến vài ki-lô-mét “dưới những cơn gió giật buốt giá vào mùa đông và sự tra tấn của cơn khát trong mùa hè”66

Chúng ta vẫn còn chưa nói gì đến công việc tông đồ: Giữa những người thổ dân, thực dân, với bao nhu cầu lớn nhỏ mọi bề, vừa vật chất vừa tinh thần.

Sr. Giovanna có mặt ở khắp mọi nơi: Trong trường học, tại những túp lều rung rinh như muốn sập xuống ngay lập tức, bên cạnh những người bị bệnh truyền nhiễm. Chẳng ai biết được có bao nhiêu tiếng đồng hồ trong ngày sống của chị.

Có sự thúc đẩy và khích lệ từ phía Đức Cha Cagliero, một con người lúc nào cũng hăng hái như đám lửa bừng cháy. Tuy nhiên, đó là sự thúc bách được đón nhận cách vui sướng, một sự nâng đỡ, một sự hiệp thông sâu xa vốn làm cho người khác vượt lên trên bất cứ một lao nhọc hay thiếu thốn nào.

Giữa nhiều công cuộc, cha muốn thành lập một bệnh viện mang tên “Thánh Giuse”, cùng lúc với phần còn lại của sứ mệnh Sa-lê-diêng. Với Sr. Giovanna và các chị em khác, đây quả là một lĩnh vực ưu biệt để dâng hiến chính bản thân.

Các con cái của Don Bosco đã đi tìm những người đau ốm, nếu gặp người bệnh, họ lập tức mang người bệnh trên cánh tay. Chính Don Bosco cũng đã khẳng định với thanh thiếu niên của Ngài rằng, nếu các em ra đi phục vụ, chỉ vì tin yêu, họ sẽ được bình an vô sự khỏi những bệnh dịch của thời đó và được bảo đảm trong thành phố của ngài.

 Năm 1892, nhân dịp dự Tổng Tu Nghị III, Sr. Giovanna trở về Ý trong một thời gian ngắn67. Trên thực tế, năm 1887 Sr. Angela Vallese đã phải tập trung mọi năng lực vào vùng đất Patagonia phía Nam, bởi như chúng ta đã biết là cần phải lập một “Á tỉnh” mới trong những phần khác nhau của miền này. Như thế. Sr. Giovanna đã được bà rung nh trên Á tỉnh của Patagonia phía Bắc và vùng Trung lần, và tài năm 1903, chị đảm nhận trách Giám Tỉnh.

Những chuyển đi nhiều vô số kể thông qua một nhưng tiện giao thông kinh khủng, một loại xe nga thề hàng rồi được gọi là "nhà tù của thảo nguyên là các nhà TNT hình dung ra một điều gì đó thì hay đi nhiều chi nhất cù đây, chứng từ của một trong những nhà truyền gia của những ta, cha Pietro Orsi, ngài đã viết mà và ghi cái ngàn và Patagonia, trong một lá thư gửi cho Don Micaen Rua68.

Như vậy, một số cơ sở mới đã được thành lập: tại Pringles năm 1889, General ConesaRio Negro và General Roca, năm 1891, Rawson (Chubut) năm 1893, Firtín Mercedes năm 1896, Junín de los Angeles tại Néuquen năm 1899, và sau đó, tại General Ache thuộc chính giữa La Pampa năm 1900.

Sr. Giovanna đã có thể nối kết với mẹ Catarina Daghero tại Nizza trong thời gian chị là Bề trên Á tỉnh. Và điều này đã thực sự xảy ra trong vùng đất mà chị đã được gửi đến để phục vụ Tin Mừng của sự sống.

Trong những năm 1895-1897, mẹ Caterina Daghero cũng thường lên xuống khắp Châu Mỹ La Tinh để thăm viếng những FMA, con cái của ngài. Mẹ vẫn thường nói với các bề trên khác: “Cần phải nhìn bằng mắt, chạm bằng tay”.

Và ở đó, mẹ đã nhìn và đụng chạm với chính đôi tay của mình69.

Sr. Giovanna đã đón Mẹ Bề trên Tổng quyền khi Mẹ xuống tàu tại Viedma và đưa mẹ đến những cứ điểm khác nhau của vùng đất mà chị làm việc.

Trong nhật ký hành trình của Mẹ Daghero, cộng đoàn ở Viedma gần giống một “chiếc tàu No-e”, chứa đầy “các nữ tu, tập sinh, người bệnh, trẻ mồ côi, trẻ vị thành niên gặp nguy cơ, thậm chí, có cả những nữ tù nhân bị quản thúc tại gia, hơn nữa, có khoảng 100 trẻ nữ học tiểu học dạng ngoại trú”70

Sau này Mẹ Daghero có cơ hội nhận biết cách sâu hơn về chị Giovanna, một nữ tu không chỉ vui tươi và hồn nhiên mà còn có khả năng hy sinh quảng đại đến mức anh hùng. Về điều này, cha Giovanni Cagliero đưa ra một sự đánh giá quý báu trong lá thư khi viết về chị nữ tu Giovanna như sau: “Chị có một niềm tin tưởng lớn lao nơi Thiên Chúa, nơi Mẹ Bề Trên Tổng quyền mà chị rất mến phục, và cả nơi người già nua ký tên cuối bức thư này và hằng luôn coi chị là một người thánh thiện, khôn ngoan, bình tĩnh và rất năng động trong công việc”71.

Ở đây có cả một bài viết của mẹ Daghero dành với các người con ở nơi xa với một sự khôn ngoan tin tưởng. Mẹ viết cho Sr. Giovanna ngày 22.01.1894: “[...]. Khi mẹ đến cộng đoàn của con, mẹ nhận thấy có nhiều điều cần phải tạ ơn Thiên Chúa. Người ta hiểu ra rằng luôn có đó những đau khổ: Chúng là những chiếc đồng hồ có nhiệm vụ giúp chúng thế sao? [...] Tiếc là có nhiều tính khí không chỉ khó chịu mà ta tỉnh thức và xửng dáng trong đức kiên nhẫn, không phải là còn vô cùng khó chịu nữa, những cá tính mà chỉ suy nghĩ của điều đó lại sẽ giúp chúng ta rất nhiều trong việc giành lấy chúng thôi cũng đủ trói buộc con tim. Tuy vậy, chính những Thiên đàng. Đối với họ, chúng ta phải tăng gấp đôi đức ả, tình thương mến và sự bền bỉ. Vượt qua những phiên muộn mà họ gây ra cho ta, chúng ta hãy nghĩ đến những đau khổ mà họ tạo ra cho chính bản thân họ và bây giờ chúng ta sẽ quên mình là bề trên để không còn nhớ điều gì khác ngoài việc giúp đỡ của người mẹ, với cánh cửa của thương xót, kiên nhẫn, gần gũi những con tim để chuyện trò, thuyết phục trong cuộc chinh phạt của tình mến. Khi đó, điều gì là cần thiết? Một ánh nhìn về Chúa Giê-su chịu đóng đinh sẽ gia tăng sức mạnh cho chúng ta để để tiến về phía trước”.72

---o0o---

Năm 1905, khi Sr. Giovanna đã 45 tuổi thì chị cũng đã trở về Ý một lần nữa để tham dự Tổng Tu Nghị lần thứ năm diễn ra tại Nizza. Tại đây đã xảy ra một sự kiện mà trái tim của nhà truyền giáo của chúng ta chưa bao giờ nghĩ tới.

Mẹ Caterina Daghero nghĩ rằng đã đến lúc không nên gửi sr. Giovanna đến Patagonia nữa. Chị đã ròng rã hai mươi tám năm trong đời truyền giáo! Chị đã trải qua mọi sự trên lưỡi sắc nhọn của hiểm nguy, trong sự liên tục mở rộng các cuộc mạo hiểm hầu như luôn đương đầu sự mù tối, và chị luôn được soi sáng trong niềm tin vào Đức Giê-su, sự phó thác vào Mẹ Maria Phù Hộ, trong sự nhanh nhẹn đầy tình con thảo của đức vâng phục!

          Với chị bây giờ là một trạm dừng. Một trạm dừng thực sự tại nước Ý.

           Nhưng nó không phải là một sự từ bỏ! Ngược lại, nó tựa như một công. hiến cần thiết để tái tạo cho một cú bật kế tiếp.

          Sr. Giovanna phải phục hồi nguồn năng lượng, ngay cả khi chuyện này đòi chị trả giá bằng sự thống khô chẳng khác gì đặt chị vào nơi “mơ hồ” đầy những thắc mắc.

          Sau đó, năm 1907 có một chuyến truyền giáo mới xuất phát: nhưng không, phải đến vùng đất Patagonia nữa. Chuyên đi này phải được hiên dâng trên bàn thờ trong một của lễ tự hiến khác. Một lần nữa Sr. Giovanna lại bước chân lên chiếc cầu thang nhỏ của tàu thủy.   Một lần nữa, chị lại rẽ biển trên lần nước đầy sóng gió và biến động của Đại Tây Dươnẽ: Tuy nhiên, đến cuối chuyến hải trình dài vô tận và đầy bất ngờ này chị đã có mặt tại Ecuador, nơi mà các Sa-lê-diêng đã đặt chân đến ba ngày trước khi Don Bosco qua đời và họ đã xin sự hiện diện ngay lập tức của các nữ tu.”73

          Từ vùng đất băng giá đến vùng đất nóng như thiêu đốt nhưng sr. Giovanna luôn giữ trong mình chiêc khăn tay của Don Bosco, biểu tượng của một sự hoàn toàn sẵn sàng vâng phục. Quả thật, chị gìn giữ chiếc khăn ấy giữa những thứ quí giá hơn cả của mình, nhưng trên hết, chị gìn giữ nó trong trái tim.

          Ba FMA đầu tiên (hai chị người Ý là sr. Teresa Tapparello và sr. Rosa Devalle cùng với sr. Vittoria Orighuela người Peru) từ Peru đã đến Ecuador vào ngày 30.11.1902. Họ đã bắt đầu công việc tại Gualaquiza, thăm viếng những trung tâm của người thổ dân Shuar và chuyên tâm vào việc phục vụ công việc nội trợ tại nhà của các cha Sa-lê-diêng74.

Cuối mùa thu năm 1907, các chị em không còn những cuộc tiếp xúc với các bề trên thượng cấp. Tuy nhiên, tại thời điểm ấy, trong cảnh nghèo nàn với những nợ nần ngập tràn, mọi người cảm nhận thực sự nhu cầu gặp gỡ, gần gũi một ai đó như đại diện cho mối dây liên hệ thiết yếu mang tính pháp lý, tình mẫu tử và rõ ràng với Trung Ương của Hội dòng.

Và các chị em đã tìm thấy con người sống động, quảng đại, đầy nhiệt tâm và thông cảm ấy nơi Sr. Giovanna Borgna.

Một trong những ngoài dự kiến mà chị Isabel Cortés nhớ được đó là hình ảnh chị Giovanna đang khóc. Tuy nhiên ngay sau đó chị thấy sr. Giovanna khởi hành đến Quito. Tại đây, với phong cách lịch sự nhưng dứt khoát, chị gõ cửa nhà của những vị lãnh đạo Hội Tam Điểm vốn chẳng có cảm tình với những tấm khăn trùm đầu đen và mảnh vải xếp nếp màu trắng.

Chị cũng đã lên đường đến thủ đô sau khi đã cùng các chị em làm một tuần cửu nhật “chắp vá”: đọc Kinh Tin Kính ba mươi ba lần, “mọi người quì với bàn tay đặt dưới đầu gối".

Và rồi chị trở về với số tiền thu góp được gần như một phép lạ...

Sr. Giovanna ở tại Ecuador cho đến năm 1914: là Bề trên ở Cuenca và đồng thời là kinh lý viên của các cộng đoàn dần dần được hình thành trong vùng: Sigsig năm 1908, Guayaquil năm 1911, Chunchil năm 1912. Trái lại, vào năm 1911 đã phải đóng cửa nhà đầu tiên thuộc vùng Guayaquiza, bởi điều kiện hoang vắng và bất ổn mà chị em không thể vượt qua được. Không thể chấp nhận được tình trạng các nữ tu phải sống trong những hoàn cảnh như vậy.

Á tỉnh được hợp lại bởi bốn nhà. Việc đi từ nhà này sang nhà khác của Á tỉnh này thực sự là một chiến tích oai hùng. Những con đường mòn khi ẩn khi hiện ở giữa rừng rậm. hiểm đến từ Nhưng không chỉ thế, còn có những mối các loài bò sát, các loại bọ bay hoặc lúc nhúc đầy trên mặt đất vốn chẳng thân thiện gì mấy. Có khi các chị còn bị bùn lấm lên đến tóc, đôi lần họ cũng phải đối đầu với vấn đề không biết nghỉ đêm ở đâu.

Một lần nọ, chị Giovanna bị ngã ngựa và một cánh tay bị gãy. Nhưng chị chẳng làm được gì ngoài việc tiếp tục cầm cương mà đi tiếp, bởi dừng lại nơi ấy khác nào tự sát. Theo lời kể của Sr. Isabel Cortés thì chị đã đến Cuenca, nhưng dường như chị chỉ có thể gắng gượng được với chút hơi tàn...75” Và sau đó, chị lại bị một cú ngã ngựa khác. Lần này chị bị gãy xương xườn. Tuy bị bầm tím toàn thân nhưng sr. Giovanna vẫn mim cười nhẹ nhàng, dù không thể ngăn dòng nước mắt tuôn tràn trên khuôn mặt.

Năm 1914, Á tỉnh Ecuador được hợp nhất với Á tỉnh Peru để tạo thành một Tỉnh dòng thực sự, với sự điều hành của Giám tỉnh là sư. Decima Rocca. Lúc này, Sr. Giovanna đến Peru, chị làm giám đốc đầu tiên tại Callao và sau đó tại Cusco.

Năm 1917, Sr. Giovanna nhận một bài sai mới đòi hỏi chị phải cố gắng hơn rất nhiều, đó là mở một bệnh viện đặc biệt dành cho các bệnh nhân bị bệnh truyền nhiễm tại Lima (trong một địa phương mà thời bấy giờ, có tên là Guia). Chị ở đó trong suốt hai mươi tám năm cuối đời, trong hai giai đoạn khác nhau: Là giám đốc và là một thiên thần luôn bảo vệ và ủi an.

Mẹ Angelica Sorbone, là Giám tỉnh tại Peru trong khoảng thời gian ban đầu của những năm 1930, nói với chúng ta rằng vào thời điểm đó Sr. Giovanna có lẽ được nhận định như là một bề trên quá tỉ mỉ. Và Sr. Giovanna đã trả lời trước chất vấn của mẹ Angelica như sau: “Vâng, con xin lắng nghe những nhận định của mẹ tuy nhiều lần không chính xác, nhưng trong lúc ấy con nghĩ đến chặng đầu tiên của Đàng Thánh Giá, và con lặp đi lặp lại với chính mình rằng: “Chúa Giêsu đã im lặng”. Điều này đã nâng đỡ con nhiều lắm”.

Các bệnh nhân rất yêu mến Sr. Giovanna. Chị tiếp tục gõ cửa các nhà cầm quyền hầu cho số phận của các bệnh nhân được cải thiện bằng những cách thức khác nhau.

Sức khỏe của chị dần suy tàn, đến một lúc đôi mắt của chị gần như bị mù và chị đùa giỡn bằng cách gọi tên họ của mình và nói: “Đúng rồi, tôi là borgna”: Thì ra thô ngữ mà chị đã học ở Mornese, borgna nghĩa là “mù lòa”.

Chị Giovanna phải chịu một cuộc phẫu thuật, tuy nhiên vẫn không giải quyết được vấn đề của chị. Chúng ta không nắm rõ câu chuyện, tuy nhiên chắc chắn ngành phẫu thuật về mắt trong những năm ‘30 thực sự không giống nhưng chúng ta đang hưởng dùng hiện nay, trong ngàn năm thứ ba này.

Khi đã 80 tuổi, Sr. Giovanna viết cho Mẹ Bề Trên Tổng Quyền Luisa Vaschetti: “Con bình an và không còn mơ ước nào khác ngoài việc cứu rỗi nhiều linh hồn. Con không muốn lên Thiên đàng một mình: Con ước muốn đưa dẫn thật nhiều linh hồn đến cho Chúa Giêsu “

Trong những năm cuối cùng trên dương thế, Sr. Giovanna chỉ giới hạn di chuyển giữa chiếc giường và ghế bành. Tuy vậy, chị vẫn không đánh mất sự bình an vốn có. Ngay cả nhiệt tình tông đồ cũng khiến chị muốn cống hiến tất cả cho mọi người. Có lúc chị diễn tả ước muốn dâng hiến ngay cả những hoạt động của mình, cách đặc biệt là dậy giáo lý là điều chị vốn yêu thích nhất. Chị nói với một y tá: “Em đừng sợ hãi gì. Tất cả rồi sẽ qua. Thiên Chúa là Cha tốt lành vô cùng”.

Ngày cuối đời, Sr. Giovanna còn đến bác sĩ để khám mắt. Nhưng ngay chiều hôm ấy chị bị lẫn lộn giữa buổi tối và ban sáng. Chị nghĩ rằng đã đến giờ Thánh lễ ban sáng, nhưng lúc này cũng là giờ của sự hiệp thông: Một sự hiệp thông đời đời với Chúa Giêsu.

Chị kêu cầu Giê-su, Maria, Giuse và tắt thở cách êm ái. với nụ cười trên khuôn mặt. Đó là ngày 21.12.1945. Sr. Giovanna gần 86 tuổi.

Trước đó rất lâu, khi chị còn đang hăng nồng sức trẻ của tuổi 19, Mẹ Mazzarello đã viết cho chị vào ngày 01.01.1879 rằng: “Mẹ hài lòng khi nghe biết con có thiện chí nên thánh. Nhưng con nên nhớ là việc bắt đầu thôi thì chưa đủ, cần tiếp tục, cần chiến đấu luôn, mỗi ngày... Hãy can đảm lên Giovanna thân yêu của Mẹ, con hãy làm thế nào để luôn là mẫu gương của nhân đức, của khiêm nhường, của bác ái và của vâng phục, và bởi Thiên Chúa nhìn vào cõi lòng, nên điều cần thiết là những nhân đức này phải được thực hành với chính cõi lòng hơn là bằng những hành vi bên ngoài... Con hãy luôn vui tươi, thật tốt lành, làm việc với hết tâm hồn và tất cả vì Chúa Giêsu....76

Sự tươi trẻ thể lý không còn nữa. Thay vào đó, sự trẻ trung thiêng liêng của chị được nên vẹn toàn, đặc biệt khi tiếp cận với những người nghèo, với những người đau khổ và được bừng lên trong ánh sáng.


Chú thích

53 Emilia khấn dòng tại Mornese khi chưa tròn 16 tuổi và khởi hành truyền giáo đến Châu Mỹ năm 1879, sau chị gái Giovanna hai năm. Chị là Bề trên Á tỉnh của các nhà tại Uruguay, Paraguay và là Giám tỉnh của Brazil, Sr. qua đời tại Lorena (Brazil) năm 1939 (X. SECCO Michelina, Suor Borgna Emilia, in Facciamo memoria. Cenni biografici delle FMA defunte nel 1939, Roma, Istituto FMA 1994, 93-107.

54 X. Lettere MM 28, 4. Giacinta là thỉnh sinh, nhưng chết ở Mongardino ngày 18.05.1893 sau một cơn bệnh đau đớn ở cột sống đã làm cho cô bị liệt (x. MOSCA Emilia, Appunti di Cronaca 1893, in AGFMA 056-131).

55 x. Bolletino Salesiano, ngày 01.09.1878. Chín người con của gia đình Sorbone đã về thiên đàng khi còn rất nhỏ, hai người con khác (Carlovà Cesare) trở thành linh mục (Carlo, sdb) và các chị em gái Enrichetta, Carolina, Angiolina và Angelica, những FMA. Sau cái chết của người vợ vào khoảng một năm sau khi Angelica được sinh ra, cả người cha Costantino đến sống tại một cộng đoàn Sa-lê-diêng trong vai trò làm mọi công việc vặt trong cộng đoàn.

56 Chứng từ được trích dẫn trong Hồi sử II  311.

57 VALLESE, Là non ci separeremo mai più 2 (Lettera 1)

58 Chiếc đế giày được làm bằng sắt để mang với đôi vớ loại dày bằng len hoặc vải bông, bình thường chúng được đóng bằng tay,

59 VALLESE, Là non ci separeremo mai più 4 (lettera 1)

60 Lettere MM 23,4

61 Lettere MM 25, 2.

62 Las Piedras, 15.10.1879 – “Chúng con ở một vùng đất rất tốt lành, nhưng dù sao đi chăng nữa, chúng con chẳng bao giờ thiếu thốn những đau khổ. Chúng con vừa phải trải qua một trong những kinh nghiệm này do viên thanh tra của các trường học, điều đi ngược lại với sự tự do mà người ta được hưởng trong nước Cộng Hòa này, ông ta muốn can thiệp vào các trường tư thục của chúng ta giống như những trường nhà nước. Khi biết điều này, cha giám đốc của chúng con, cha Lasagna, đích thân đi tới vị Tổng thống, và ông đã lắng nghe điều mà cha xin: - Ngôi nhà, nơi mà trở thành trường học, là của ai? Là của tôi, thưa ngài Chủ tịch – Vậy thì, xin cha hãy an tâm ra về, bởi vì không ai có quyền can thiệp vào đó cả. Và như thế, viên thanh tra phải rút lại các yêu sách của mình. Bởi lẽ tất cả chúng con không mong muốn điều gì khác ngoài những thiện ích dành cho giới trẻ nghèo, nên chúng con tin tưởng rằng Thiên Chúa sẽ bảo vệ chúng con, và thế là chúng con được bình an vô sự" (Bollettino Salesiano, tháng 01.1880)

63 Lettere MM 28, 1.3.5. Sau đó, lá thư này được tiếp tục như sau: “Can đảm lên Giovanna, người con thân thương của Mẹ, chúng ta hãy làm chút điều thiện bao lâu ta còn chút thời gian. Cuộc sống này qua mau lắm, vào giờ chết ta sẽ hài lòng về những hãm mình, những chiến đấu, những chống trả ta đã làm để chống lại tính tự ái của chúng ta và chống lại chính con người chúng ta. Mẹ nhắc con là đừng bao giờ thất đảm, nếu con thấy phải mang chất chồng những cơ cực, chúng ta hãy làm với hết thiện chí của ta, nhưng phải thật sự, kiên quyết và Chúa Giêsu sẽ làm phần còn lại. Những khuyết điểm của chúng ta, nếu ta chiến đấu với thiện chí, thì đó là những thứ giúp tâ tiến bước trong sự hoàn thiện, miễn là chúng ta có lòng khiêm nhường thực sự [...Em của con vẫn khỏe, em luôn vui tươi và dường như muốn trở nêntốt. Em gởi lời chào con rất nhiều và xin con cầu nguyện cho em. Con an tâm, Mẹ sẽ chăm sóc em chu đáo mọi sự. Con hãy vui luôn, hãy khích lệ tất cả các chị em khác và hãy quan tâm tới sức khỏe”.

64 Bollettino Salesiano, Gennaio 1881

65 Chứng từ của Sr. Anna Coppa, trong Faceiamo memoria 1945, 96.

66 Nt. 1945, 97

67 Ba giám tỉnh của các vùng truyền giáo Nam Mỹ đã tham dự Tổng Tu Nghị này, X. CAPETTI Giselda, Il cammino dell’Istituto II 46 ss. Trong Tổng Tu Nghị tiếp theo (1899), Sr Giovanna không thể hiện diện, bởi một sự ngập lụt kinh khủng ở sông Rio Negro, đã gây ra những hủy hoại vô cùng nghiêm trọng, phá hủy ngay cả các cơ sở truyền giáo của chúng ta nữa.

68   “Hết đoạn đường sắt, các hành khách phải leo xuống tàu để trèo lên trên một loại xe ngựa, ở đây, người ta gọi là xe ngựa chở hàng [...]. Bao quanh xe nào là hòm, rương, hũ, bao bị, nói tóm lại là cả một thế giới đồ đạc mà người ta phải chở và cột bên trên, bên trong và ngoài xe. Chúng con thực sự hoảng hốt khi nhìn thấy như vậy [...]. Không thể tả lại biết bao là khổ sở trong chuyến hành trình đó. Chúng con cảm thấy như đang ở trong một nhà tù vậy. Đến nỗi những tiếng quay bánh xe và những cú nhún nhảy liên tục mạnh bạo của chiếc xe ngựa tội nghiệp khiến cho chúng con sợ rằng những chiếc thùng lớn cột phía trên có thể xuyên thủng mái và đè bẹp chúng con. Tuy thế, như Thiên Chúa muốn, chúng con đã đến được thủ đô của Pampa, một thành phố và dân cư trẻ có tên là Generale Ache" (Bolletino Salesiano, tháng 7.1896)

69 Mẹ Caterina Daghero thăm viếng các công cuộc truyền giáo tại Châu Mỹ từ 01.11.1895 đến 01.08.1897.

70 Diario del viaggio in America della Suepriora Generale madre Caterina Daghero, trong AGFMA 12.60-111.

71 Lá thư viết tay của Đức Cha 64, trong AGFMA 22.01-211 (3).

72 Lá thư viết tay, trong AGFMA 22.01-211 (3).

73 Ghi chú điều xảy ra tiếp theo ở đây rất hữu ích. Sau Argentina, đến lượt những đất nước khác thuộc Nam Mỹ mà nơi đó, những người con của Don Bosco đặt chân đến vào trong những năm này: Uruguay năm 1887, Ecuador năm 1888, Colombia năm 1890, Peru năm 1891, Bolivia và Paraguay năm 1896. Tất cả được dẫn đường bởi những nhà tiên phong vĩ đại và họ chăm sóc những người trẻ của toàn bộ dân cư địa phương bao gồm không cỉi một số những người nhó bé thiệt thòi mà còn có cả những thực dân, bằng cách kiến tạo được một cộng đoàn thân thiện dẫu vẫn duy trì những nét văn hóa đặc thù. Hiển nhiên rằng, luôn luôn, có những FMA rất trung thành sát cánh cùng với các Sa-lê-diêng. về khía cạnh này, chúng ta nhắc lại ở đây điều mà Đức Cha Costamagna đã nói trong một lá thư viết ngày 18.08.1879 gửi cho Don Bosco: “Con chưa từng tưởng tượng được ràng các nữ tu của chúng ta có thể giúp đỡ chúng con nhiều như thế trong sứ mệnh truyền giáo. Nếu không có sự can thiệp của các nữ tu này thì không thể làm được nhiều điều tốt đẹp cho các phụ nữ và thiếu nữ như vậy. Các trẻ nữ chạy đến với các chị trong các lớp giáo lý. rất nhiều phụ nữ lắng nghe họ tựa như nuốt lấy từng lời từ môi miệng của một nhà giáng thuyết. Trong khi chúng con, cảc linh mục, chúng con phải ngồi trong tòa giải tội, thì các nữ tu dạy dỗ và gửi tới cho chúng con những hối nhân đã được chuần bị kỹ lưỡng, nhiều người đã đến với nhừng dòng nước mắt hối hận ăn năn”. (Lá thư đưực trích dẫn trong Bollettino Salesiano, 11.1879).

74 Những cộng đoàn FMA ở Ecuador tạo thành một "Ả tỉnh" (hoặc là Tỉnh dòng nhỏ) vào năm 1922; trước khi được sát nhập với Ả tỉnh Peru.

75 X. SECCO, Facciamo memoria 1945, 103.

76 Lettere MM 19, 1.


FMA Logo

Địa chỉ: 57 Đường số 4, Khu phố 56, P. Tam Bình, TP. Hồ Chí Minh

Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về email: libraryfmavtn@gmail.com

Liên Kết

Truyền Thông FMA

Copyright Dòng Con Đức Mẹ Phù Hộ © 2026