FMA Logo

XIV. HAI TƯỚC HIỆU: MỘT TỔNG HỢP



Trong kinh Tận hiến, chúng ta cầu khẩn Đức Mẹ bằng hai tước hiệu: Vô Nhiễm, Phù Hộ. Cũng chính hai tước hiệu này xuất hiện trong Hiến Luật với một lời bình luận vắn tắt cho mỗi tước hiệu: với tước hiệu Vô Nhiễm, Đức Mẹ là gương mẫu cho chúng ta trong việc thánh hiến trọn vẹn cho Chúa và trong ước muốn nên thánh của chúng ta; với tước hiệu Phù Hộ, Đức Mẹ là dấu chỉ và nguồn cảm hứng cho chúng ta trong việc phục vụ dân Chúa, đặc biệt các thanh thiếu niên197.

Việc lựa chọn và đặt hai tước hiệu này bên cạnh nhau không phải là chuyện tình cờ, cũng không chỉ phát xuất từ tình cảm hay lòng sùng mộ. Ngược lại, hai tước hiệu phản ánh lịch sử Salêdiêng và tổng hợp các nét đặc trưng linh đạo của các Tu Hội chúng ta. Trong tiểu sử hai đấng sáng lập cũng có các tên gọi khác của Đức Mẹ: Đức Mẹ Sầu Bi, Đức Mẹ Mân Côi, Đức Mẹ An Ủi, Đức Mẹ Ban Ơn. Do đó đúng là, vượt lên trên các danh hiệu khác nhau của Đức Mẹ, các đấng sáng lập luôn luôn nhìn vào chính con người Đức Maria, Mẹ Chúa Giêsu, Mẹ Hội Thánh, Mẹ của mỗi người chúng ta.

Nhưng cũng hoàn toàn đúng là hai hình ảnh gặp thấy thường xuyên hơn và tạo nên diện mạo Đức Mẹ của chúng ta mà không một hình ảnh nào khác sánh bằng, đó là Vô Nhiễm và Phù Hộ. Trong thực tế, kinh nghiệm thiêng liêng và tông đồ của Don Bosco và của Mẹ Mazzarello có như là ba giai đoạn.

1. Kinh nghiệm Nguyện Xá

Giai đoạn đầu tiên là kinh nghiệm nguyện xá. Don Bosco trải qua kinh nghiệm này với các thiếu niên của Torino. Mẹ Mazzarello với các thiếu nữ của làng quê mẹ. Quan tâm chủ yếu là giáo dục giới trẻ thuộc môi trường của mỗi vị. Tất cả cố gắng xoay quanh việc đem lại cho các em phẩm giá con người và mở lòng các em đón nhận đức tin. Có ít cơ cấu và phương tiện, nhưng bù lại, có nhiều sự dâng hiến và sáng tạo. Các thiếu niên thiếu nữ ý thức về bản thân mình và về đời sống ân sủng. Nhà giáo dục chăm sóc các em bằng tình cha, tình mẹ. Đây là thời điểm phát sinh và hình thành hệ thống dự phòng.

Trong bối cảnh này có một sự kiện hiển nhiên: Đức Maria được các nhà giáo dục và các học sinh cảm nhận như một sự hiện diện sống động, từ mẫu, quyền năng. Các tước hiệu được dùng để nói về Đức Mẹ không phải là điều quan trọng nhất. Nhưng đúng là trong thời kỳ nguyện xá, hình ảnh Đức Mẹ Vô Nhiễm được thấy nổi bật trên hết.

Việc Don Bosco ưa thích hình ảnh này bắt nguồn từ tuổi trẻ của ngài. Ở Chieri, người ta sùng kính Đức Mẹ Vô Nhiễm: nhà nguyện của chủng viện, nơi ngài theo học, có trên bàn thờ chính một ảnh Đức Mẹ Vô Nhiễm và Don Bosco hằng ngày đến quì cầu nguyện trước ảnh này. Việc tôn sùng Trái Tim Vô Nhiễm Đức Mẹ được truyền từ Pháp sang Piêmont. Lòng tôn sùng này gia tăng với việc công bố tín điều Đức Mẹ Đầu Thai Vô Nhiễm năm 1854 và với các lần Đức Mẹ hiện ra ở Lộ Đức năm 1858.

Sau đó một vài sự kiện được Chúa an bài đã khiến Don Bosco đặc biệt tin tưởng ở lời cầu bầu của Đức Mẹ Vô Nhiễm vào lúc khởi đầu các công cuộc của ngài: “Mọi sáng kiến lớn của chúng ta đều đã bắt đầu vào ngày lễ Mẹ Vô Nhiễm.” (MB XVII, pag. 510). Mẫu chính yếu là nguyện xá, ngày 8 tháng 12, 1841.

Ngoài ra, ảnh Đức Mẹ Vô Nhiễm cũng trình bày Đức Mẹ như người chiến thắng sự dữ, chân đạp đầu con rắn. Điều này nhắc nhở ngài đến chiến thắng của ân sủng trên các đam mê của con người và chiến thắng của đức tin trên sự vô đạo và lạc đạo trong lịch sử thế giới.

Mẹ Mazzarello cũng có một chặng đường tương tự như thế với Hội Con Đức Mẹ Vô Nhiễm, và ngài đã sống lòng tôn sùng này hơn là diễn tả nó bằng các công thức bề ngoài.

Sự hiện diện của Đức Mẹ được cảm nhận như thế đã để lại dấu ấn trong khoa sư phạm của Nguyện xá. Việc cử hành trọng thể lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm, cùng với một cuộc chuẩn bị thiêng liêng tương xứng, đã trở thành một việc trung tâm198. Và thói quen này vẫn còn tiếp tục vào thời chúng ta, bất cứ ở đâu có các nguyện xá-trung tâm trẻ.

Sau đó ở nguyện xá Hội Vô Nhiễm được khai sinh, tương đương với nhóm cộng tác viên trẻ ngày nay. Đây là hạt giống và trắc nghiệm của Tu Hội Salêdiêng tương lai.  Trong số mười sáu hội viên của Tu Hội Salêdiêng cùng tụ họp với Don Bosco và Don Alasonatti (tổng cộng 18) vào ngày 18 tháng 12, 1869, có chín người là hội viên của Hội Vô Nhiễm199.

Trong bầu khí Đức Mẹ này đã chín muồi các chủ đề quan trọng nhất của việc giáo dục giới trẻ: ân sủng, lòng trong sạch, sự gần gũi thế giới siêu nhiên, tình yêu đối với Chúa Giêsu. Đối với các tu sĩ Salêdiêng nam và nữ, hệ thống dự phòng đã được hình thành như là sự chăm sóc từ mẫu và con đường nên thánh, cùng với một đòi hỏi về sự hiến dâng quảng đại cho Thiên Chúa và giới trẻ. Đaminh Savio là hoa quả trổ sinh từ bầu khí này.

Cũng trong bầu khí này đã phát triển một tập hợp các trực giác về giá trị sư phạm của lòng sùng kính Đức Mẹ. Chúng ta phải kể đến sự hiện diện từ mẫu và vô hình của Đức Mẹ trong công việc của chúng ta. Ngài yêu từng người chúng ta, nhưng đặc biệt các thanh thiếu niên bởi vì ngài giúp các em lớn lên giống như ngài đã làm cho Chúa Giêsu. Đây là một chân lý đức tin Kitô giáo, nhưng được chúng ta sống một cách khác thường và được chuyển sang kinh nghiệm giáo dục.

Sự hiện diện từ mẫu của Đức Maria, vì được cảm nhận trong tâm khảm của thanh thiếu niên, đổ tràn vào lòng các em sự an tâm và hi vọng để các em tự xây dựng nhân cách mình trong những thời điểm khó khăn và tế nhị của cuộc đời các em, do tính hay thay đổi, do sự phát triển thể lý, và do những thắc mắc về đức tin. Đức Maria Vô Nhiễm là lý tưởng của lòng trong sạch, tạo một sự lôi cuốn đối với các thanh thiếu niên và cho các em lòng ham thích và ý muốn dấn thân vào các dự tính cao thượng. Khoa sư phạm của Don Bosco cũng có một thành phần thẩm mỹ nhất định. Ngay từ ban đầu ngài đã nói đến vẻ đẹp của nhân đức và của tôn giáo, và sự xấu xa của tội lỗi.

Ngoài ra, lòng tôn sùng Đức Maria giúp các thanh thiếu niên sống thân mật với các thực tại siêu nhiên và cảm thấy Thiên Chúa gần gũi hơn và nhập thể hơn. Nó là mối quan hệ với một người phụ nữ được diễn tả luôn luôn như là Mẹ và sự Phù trợ của chúng ta. Nó là một kích thích thiêng liêng.

Vì vậy, việc huấn giáo trong Nguyện xá nhắm tới mục tiêu là giúp đón nhận và nội tâm hoá hình ảnh này cho tới khi nó thấm nhuần vào đời sống của thanh thiếu niên như một bảo đảm cho sự kiên trì trong tương lai. Để đạt mục tiêu này, trong Nguyện xá có các tuần tam nhật, cửu nhật, hoa thiêng, trang trí, các cuộc hành hương, tham quan các địa danh Đức Mẹ. Giai đoạn “nguyện xá” đối với Don Bosco kéo dài cho tới thời kỳ tổ chức Valdocco; đối với Mẹ Mazzarello giai đoạn này bao gồm tất cả thời kỳ của Hội Con Đức Mẹ Vô Nhiễm cho tới khi thành lập Tu Hội thánh hiến.

2. Đền thờ Đức Mẹ Phù Hộ Các Giáo Hữu

Tới năm 1862 Don Bosco cảm thấy nhu cầu có một thánh đường lớn hơn. Nhà thờ ngài đang có thì quá nhỏ cho số thanh thiếu niên và người Salêdiêng đang gia tăng rất nhanh ở Valdocco. “Một tối thứ bảy tháng mười hai—Don Albera thuật lại—có lẽ ngày mùng 6, Don Bosco sau khi giải tội xong cho các học sinh vào khoảng 11 giờ khuya, ngài xuống ăn tối tại phòng ăn cạnh nhà bếp. Don Bosco có vẻ trầm ngâm. Lúc ấy chỉ có một mình thày Albera ở với Don Bosco. Ngài bất ngờ nói với thày: ‘Cha đã giải tội cho quá đông học sinh và thú thật cha hầu như không biết mình đã nói gì hay làm gì, vì có một ý tưởng cứ luẩn quẩn trong đầu khiến cha không còn biết mình đang làm gì. Cha nghĩ: nhà thờ của chúng ta quá nhỏ: nó không chứa hết được các học sinh dù các em phải đứng sát vào nhau. Rồi chúng ta sẽ xây một nhà thờ đẹp hơn, lớn hơn, nó sẽ phải rất nguy nga. Chúng ta sẽ đặt tên: Thánh Đường Đức Mẹ Phù Hộ.’”200

Ngoài ra ngài cũng thấy thuận tiện để cung cấp một nơi thờ phượng cho dân chúng của vùng phụ cận vì Valdocco, từ một ngoại ô gần như đồng quê, đã trở thành một khu phố đô thị. Cũng vào năm ấy Don Bosco gặp Maria Mazzarello, cuộc gặp gỡ này đã là khởi điểm xa của Tu hội Con Đức Mẹ Phù Hộ.

Đồng thời Don Bosco có một trực giác, tuy còn mơ hồ, rằng một điều gì đó sẽ còn tiến xa hơn nữa. Đó là thời kỳ củng cố công cuộc tại Valdocco. Tu hội được thành lập từ bốn năm trước nay đã có một hạt nhân đầu tiên và Don Bosco bắt đầu nhìn thấy nó như một thực tại đang phát triển mạnh. Vì vậy ngài nghĩ đến một “trung tâm” thực sự và biểu tượng của Tu Hội mới này. “‘Con có biết một lý do khác nữa để xây một nhà thờ mới không?’ Ngài hỏi một thày khác, Don Cagliero. Thày trả lời, ‘Con nghĩ nó sẽ là thánh đường mẹ của tu hội tương lai của chúng ta, và nó sẽ là trung tâm từ đó phát toả mọi công cuộc của chúng ta cho giới trẻ.’ ‘Con đoán đúng đấy,’ ngài nói với tôi. ‘Đức Maria là Đấng sáng lập và sẽ là Đấng phù trợ các công cuộc của chúng ta’.201

Thời ấy ở Ý người ta bàn tán nhiều về việc Đức Mẹ hiện ra ở Spoleto (một thị trấn thuộc vùng Umbria), vào một thời điểm đặc biệt tế nhị đối với Hội Thánh và Đức Thánh Cha. Người ta quảng bá ý tưởng xây cất một thánh điện tại nơi Đức Mẹ hiện ra và người ta đi quyên góp khắp nơi, cả ở Torino.

Với ba ấn tượng này: sự hiện diện rõ ràng của Đức Maria giữa dân Kitô giáo, các mối nguy hiểm Hội Thánh đang gặp, và thời buổi khó khăn, Don Bosco đã chọn tước hiệu cho ngôi thánh đường của ngài và ngài giải thích lý do: “Cho tới nay chúng ta đã cử hành trọng thể và rầm rộ ngày lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm và trong ngày hôm nay chúng ta đã bắt đầu các công cuộc của nguyện xá ngày lễ. Nhưng Đức Mẹ muốn rằng chúng ta tôn kính ngài dưới tước hiệu Mẹ Phù Hộ. Thời buổi đang diễn ra quá đau buồn khiến chúng ta rất cần Đức Trinh Nữ Rất Thánh giúp chúng ta bảo vệ đức tin Kitô giáo ...”202

Thế là Don Bosco quyết tâm trở thành tông đồ loan truyền lòng sùng kính Đức Mẹ Phù Hộ Các Giáo Hữu203.

Việc xây cất thánh đường này không chỉ là một công việc kỹ thuật, không chỉ là mối lo lắng về thiết kế, vật tư và tài chính. Đối với Don Bosco, nó là một kinh nghiệm thiêng liêng và một sự chín muồi trong suy nghĩ mục vụ của ngài. Don Bosco lúc ấy khoảng 45-50 tuổi, độ tuổi trưởng thành trong chức linh mục và trong dự phóng xã hội vững chắc của ngài, với một số công cuộc đã được tổ chức xong và một số khác vừa mới bắt đầu. Vào lúc công việc xây dựng hoàn tất, một điều gì đó đã biến đổi trong ngài. Vì lý do gì?

Trước hết là vì sự thể hiện vượt quá dự tính ban đầu: từ ý tưởng về một ngôi thánh đường cho các học sinh, cho khu phố và tu hội của mình, đã phát sinh ý tưởng về một thánh điện, một nơi hành hương, trung tâm thờ phượng và điểm đối chiếu cho một gia đình thiêng liêng. Thực tế đã phát triển vượt ra ngoài tầm tay của ngài.

Nhưng rồi các vấn đề kinh tế đã được giải quyết nhờ ơn Chúa và các phép lạ đã kích thích lòng quảng đại vô vị lợi của dân chúng. Tất cả điều này đã làm vững chắc nơi Don Bosco niềm xác tín rằng “Đức Maria đã tự xây nhà của ngài”, “rằng mỗi viên đá là một ân sủng”204. Công việc xây cất chỉ mất ba năm và các chi phí đã được dành dụm để nuôi không biết bao nhiêu là thiếu niên.

Không giống như các địa danh Đức Mẹ khác, nguồn gốc thánh điện ở Valdocco không có cuộc xuất hiện hay phép lạ nào của Đức Mẹ. Nhưng chính đền thờ rốt cuộc đã trở thành một địa danh và một phức hợp kiến trúc “thần kỳ”205. Một vị linh mục thời đó, nhà thần học Margotti đã khẳng định: “Người ta nói Don Bosco làm được phép lạ. Tôi không tin. Nhưng ở đây đã diễn ra một phép lạ mà tôi không thể chối cãi: đó là đền thờ nguy nga này trị giá bạc triệu thế mà đã hoàn tất chỉ trong ba năm bằng của quyên góp của giáo dân.”206

Trong thời gian thực hiện công trình xây cất, Don Bosco bắt đầu nổi tiếng là một người làm phép lạ và tên tuổi của ngài lan xa vượt ra ngoài vùng Piêmont: từ một linh mục chỉ được người địa phương biết đến, ngài trở thành một nhân vật biểu tượng cho sự đổi mới mục vụ trong Hội Thánh. Ngài cảm thấy mình có trách nhiệm về danh tiếng “người làm phép lạ” này và ngài đến hỏi ý kiến một nhà thần học, Đức Cha Bertagna, để xem có nên tiếp tục ban phép lành Đức Mẹ Phù hộ hay không. Câu trả lời là cứ tiếp tục!

Công trình xây dựng diễn ra đồng thời và được tiếp nối bởi việc sáng lập Tu Hội Con Đức Mẹ Phù Hộ. Đây là sự mở rộng đoàn sủng cho giới nữ, đồng thời làm cho đoàn sủng thêm phong phú; cũng thế, việc sáng lập Tổng Huynh Hội Đức Mẹ Phù Hộ, cùng với hội Hiệp Tác Viên Salêdiêng, là sự mở rộng sang thế giới giáo dân. Bấy giờ ngài bắt đầu công cuộc bành trướng Tu Hội. Công cuộc này sẽ được biểu hiện rõ ràng qua việc gửi các đoàn truyền giáo đi các nơi, mà cho tới ít năm gần đây, tất cả các đoàn truyền giáo này đều xuất phát từ thánh điện Đức Mẹ Phù Hộ.

Kết quả là sự mở rộng tông đồ: từ một cơ sở giáo dục sang một hoạt động mục vụ cho dân chúng với các yếu tố tiêu biểu: rao giảng, các bí tích, thực hành bác ái qua việc dâng cúng vật chất và tham gia các hoạt động bác ái. Tiếp theo còn có cố gắng hệ thống để phát triển các ơn gọi muộn gọi là “công cuộc Đức Mẹ Phù Hộ”.

Có thể quả quyết mà không cường điệu rằng Don Bosco đã bắt đầu công trình xây dựng trong tư cách giám đốc một công cuộc và kết thúc công trình trong tư cách một thủ lĩnh đoàn sủng của một phong trào lớn còn ở tình trạng phôi thai, nhưng đã xác định rõ mục tiêu và những nét đặc trưng cơ bản; ngài đã bắt đầu công cuộc này trong tư cách một linh mục địa phương Torino và kết thúc trong tư cách một tông đồ của Hội Thánh; từ thành phố ngài đã đi ra thế giới.

Nếu kinh nghiệm nguyện xá đã cho kết quả tích cực là việc thực hành sư phạm, thì công cuộc xây cất thánh điện đã làm phát sinh trong hoạt động Salêdiêng một cái nhìn về Hội Thánh như là Dân Thiên Chúa tản mác khắp mặt đất, trong cuộc chiến chống sự dữ: một nhãn giới được diễn tả dưới một hình thức khác trong giấc mơ hai cột trụ (1862), ngày nay được vẽ trên tường nền của thánh điện. Ngài đã xây dựng một phong cách mục vụ táo bạo và tin tưởng: ngài biết bắt đầu với những gì ít ỏi mình có, dám làm bạo khi đụng đến điều thiện, tiến thẳng về phía trước với lòng tin tưởng vào Chúa. Ngài đã ghi tạc một niềm xác tín vào lòng của Tu Hội: “Hãy quảng bá lòng sùng kính Đức Mẹ Phù Hộ và các con sẽ thấy phép lạ là gì”207 ... trong mọi lãnh vực, kinh tế, xã hội, mục vụ, giáo dục.

3. Việc sáng lập các Hội Dòng

Đồng thời với các biến cố trên là sự khai sinh, tăng trưởng và hình thành của hai Hội Dòng. Đây là sự lao nhọc to lớn nhất của Don Bosco. Còn Mẹ Mazzarello thì gặp phải các khó khăn nội bộ. Ngoài ra Don Bosco còn phải đương đầu với các thủ tục hành chính, xin phép các giám mục và Toà Thánh. “Nếu biết trước tất cả những rắc rối này, có lẽ cha đã không dám bắt đầu.”208

Hội Con Đức Mẹ Vô Nhiễm  trở thành Tu hội Con Đức Mẹ Phù Hộ, tuy cũng gặp những chống đối và mất mát nho nhỏ, như được thuật lại trong Sử Biên Niên209. Chỉ nguyên việc thay đổi hình ảnh cũng chứng tỏ điều này. Trên bàn thờ chính Nhà Thờ của nhà Mornese có để ảnh Đức Mẹ Sầu Bi. Tượng Đức Mẹ Phù Hộ đầu tiên đã được đặt một ít năm sau khi Tu Hội được sáng lập, nhưng trên một bệ đá ở ngoài lan can (1875). Năm sau có một tượng được đặt trong vườn và các chị em đã cử hành lễ Đức Mẹ Phù Hộ. Tuy nhiên đoàn truyền giáo đầu tiên chỉ mang theo một ảnh Đức Mẹ Phù Hộ do Don Cagliero mua về.

Việc thay đổi này không phải vì sự phấn khởi của lúc ấy. Ngược lại, nó nói lên lập trường dứt khoát về một phong cách linh đạo và tông đồ của Tu Hội. Là Con Đức Mẹ Sầu Bi không giống như là Con Đức Mẹ Phù Hộ. Don Bosco, và các người kế vị và các bề trên khác sau ngài thường nói về “một đền thờ thiêng liêng sống động”, một “tượng đài tạ ơn” Đức Mẹ Phù Hộ. Chúng ta cần tìm hiểu ý của các ngài. “Đó là tên gọi của một tu hội giáo dục, huấn giáo và truyền giáo”, Mẹ Angela Vespa từng nói thế210. Đó là tên gọi của một Tu Hội “có mục đích đào luyện lòng đạo đức và nhân đức cho giới trẻ và quảng bá lòng sùng kính Đức Maria trên khắp thế giới”211, “tên gọi của một Tu Hội trong đó Đức Maria phải trở nên sống động trong các Con gái ngài để họ làm cho ngài hiện diện trên khắp thế giới”212 và để mỗi người trong họ là một bản sao sống động của Đức Maria213.

Do đó, cả bên nhánh nữ, tên của Đức Maria Phù Hộ cũng làm nổi bật nét đặc trưng tông đồ, diễn tả việc đi ra khỏi làng xóm để phục vụ Hội Thánh và thế giới.

Việc sáng lập hai Tu Hội để lại nơi Don Bosco cảm giác mình là dụng cụ của một kế hoạch được soi sáng và thể hiện qua một sự trung gian đặc biệt của Đức Maria: “Đức Mẹ muốn chúng ta bắt đầu một hội ... chúng ta sẽ được gọi là Salêdiêng”, ngài nói ngày 26 tháng 1, 1854. Ngài sẽ còn thường xuyên lặp đi lặp lại lời này. Trên đường từ Tây Ban Nha trở về, ngài đã bình luận lúc đang ngồi trên xe lửa: “Tất cả là việc của Đức Mẹ. Tất cả đã khởi đầu trong kinh Ave Maria mà cha đã đọc chung với một thiếu niên với đức tin và đức cậy.” Còn nữa, khi đang dâng thánh lễ tại nhà thờ Thánh Tâm ở Roma, ngài đã phải ngưng thánh lễ đến 15 lần vì khóc khi hồi tưởng lại cuộc đời mình và ngài đã nhớ lại câu nói của giấc mơ đầu tiên: “Khi đến lúc con sẽ hiểu tất cả.”214

Gắn liền với điều này là niềm xác tín về một sự chăm sóc và quan hệ đặc biệt giữa Đức Maria và Gia đình Salêdiêng bất kể thuộc thành phần nào: “Cha nói thật với các con trước mặt Chúa. Chỉ cần một thiếu niên đi vào một nhà Salêdiêng đã đủ để Đức Mẹ đặt em dưới sự bảo vệ của ngài.”215

Mặt khác, chúng ta cũng được nghe Mẹ Mazzarello lặp đi lặp lại rằng Tu Hội không là gì khác hơn là gia đình của Đức Mẹ, là “tổ ấm” do Đức Mẹ lập ra. Ngài nói rằng Đức Mẹ là Mẹ bề trên và Người có một phụ tá hằng đêm đem chìa khóa nhà đặt dưới chân Người.

4. Biểu tượng và trắc nghiệm của linh đạo chúng ta

Khi đọc lại trong đức tin lịch sử của hai Tu Hội và Gia Đình Salêdiêng chúng ta, chúng ta thấy Đức Maria là Đấng gợi hứng cho công cuộc và cũng là Mẹ của ơn gọi chung của chúng ta và là Bà giáo của linh đạo chúng ta[216].

Ơn gọi cá nhân của chúng ta và việc đào luyện của chúng ta lấy Mẹ làm gương mẫu, người hướng dẫn và nhà giáo dục. “Nơi Mẹ chúng ta tìm được sự hiện diện sống động và sự trợ giúp để dứt khoát qui hướng cuộc đời chúng ta về Đức Kitô và làm cho  quan hệ của chúng ta với Người ngày càng trở nên chân thực hơn”217.

Vì thế chúng ta dành cho Mẹ một chỗ rất đặc biệt trong kinh nguyện của chúng ta: “Chúng ta chạy đến Mẹ với lòng đơn sơ và tin tưởng bằng việc cử hành các lễ phụng vụ của Mẹ và tôn kính Mẹ bằng các hình thức kinh nguyện thích hợp của Hội Thánh và truyền thống Salêdiêng”.

Tất cả điều này thúc đẩy chúng ta làm cho mọi người cảm thấy Mẹ hiện diện trong việc giáo dục giới trẻ và trong việc mục vụ giữa dân chúng.

Dung mạo thiêng liêng của Đức Maria đã được vẽ trên bức tranh đặt tại bàn thờ chính của Vương Cung Thánh Đường.

Chúng ta đã biết lịch sử bức tranh này. Don Bosco đã muốn có một bức hoạ nghệ thuật diễn tả đầy đủ tư tưởng của ngài về Hội Thánh, về Đức Maria Mẹ Hội Thánh, về Tu Hội trong việc phục vụ Hội Thánh. Ngài mô tả ý tưởng của mình cho hoạ sĩ Tommaso Lorenzone. Ngài muốn vẽ Đức Mẹ lên trời với vương miện nữ hoàng. Xung quanh là các thiên thần. . . nhưng xung quanh cũng phải vẽ các vòng tròn khác và các nhóm khác gồm các nhân vật vĩ đại và các thời điểm quan trọng của lịch sử Hội Thánh: các thánh tông đồ, tử đạo, ngôn sứ, trinh nữ, hiển tu. Lại còn phải ghi lại các biến cố có sự can thiệp hiển nhiên của Đức Mẹ . . . và cả dân chúng đang cầu khẩn Mẹ.

Nhà danh hoạ trả lời : để vẽ một tác phẩm như thế, cần phải có một mặt bằng rộng cỡ Quảng trường Castello. Cuối cùng bức hoạ được vẽ trên một khung vải cao bảy mét rộng bốn mét. Trong khoảng không gian này nhà danh hoạ tìm cách đưa vào những điều cốt yếu của ý tưởng của Don Bosco. Khi vẽ xong, “ông đã qùy gối khóc và nói rằng kết quả đã vượt quá khả năng ông”218.

Tác phẩm gồm ba mặt phẳng. Hình Đức Mẹ trên trời bế Chúa Giêsu Hài Nhi chiếm trục thẳng đứng và ở nửa phía trên của mặt phẳng nằm ngang. Hình được vẽ với ý nghĩa là Mẹ Chúa Giêsu (nhập thể) và Mẹ Hội Thánh. Vương trượng và vương miện, không chỉ là dấu hiệu của quyền lực, mà đúng hơn là biểu tượng của sự chuyển cầu hiệu quả và của chiến thắng trên sự dữ, nơi Mẹ trước tiên và rồi nơi lịch sử loài người.

Ở mặt phẳng bên trên chúng ta thấy Chúa Cha được tượng trưng bằng con mắt và Chúa Thánh Thần với hình chim bồ câu: Từ Chúa Cha, qua Chúa Thánh Thần, đổ xuống trên Đức Mẹ một luồng ánh sáng: chính sự chọn lựa của Chúa Cha và tác động của Chúa Thánh Thần làm Đức Mẹ trở thành Mẹ Chúa Kitô và Mẹ Hội Thánh. Ca đoàn thiên thần nhắc nhở về trời: sự kiện Mẹ Lên Trời, cuộc vượt qua của Mẹ, khởi đầu vai trò Phù hộ của Mẹ. Tất cả cũng chỉ về nguồn gốc của Hội Thánh và tương quan của Hội Thánh với mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi: từ Chúa Cha, nhờ Chúa Con nhập thể, trong Chúa Thánh Thần.

Mặt phẳng giữa trình bày Hội Thánh trong lịch sử: mưi hai tông đồ, cộng thêm hai tác giả Tin Mừng không phải tông đồ, và thánh Phaolô. Đó là nền tảng của Hội Thánh (các tông đồ), năng động lực của Hội Thánh trong việc rao giảng Tin Mừng (thánh Phaolô), vai trò lãnh đạo Hội Thánh (thánh Phêrô với chìa khoá) và thiên chức làm mẹ của Đức Maria. Tất cả các vị thánh này đều mang biểu tượng cuộc tử đạo của các ngài, là dấu chỉ của sự dâng hiến hoàn toàn. Đây là mảnh đất phát sinh đặc sủng Salêdiêng: Hội Thánh, sứ mạng tông đồ, nhiệt huyết thiêng liêng.

Mặt phẳng thứ ba được triển khai phía dưới và phía sau. Nó làm nổi bật thế giới hôm nay, vương cung thánh đường, và quang cảnh xung quanh thánh đường nói lên ý nghĩa nó là trung tâm của một phong trào rao giảng Tin Mừng và phục vụ Hội Thánh, lấy cảm hứng từ tình mẫu tử của Đức Mẹ và phó thác vào sự chuyển cầu quyền thế của Mẹ.

Về linh đạo chúng ta, bức hoạ truyền đạt tốt sự thống nhất giữa ý thức về sáng kiến của Thiên Chúa và hoạt động mục vụ của chúng ta. Ơn gọi chúng ta đến từ Chúa Cha và vì Người chúng ta hiến mình cho công việc giáo dục. Bức hoạ cũng truyền đạt tốt tinh thần Hội Thánh, tinh thần phục vụ: chúng ta dự phần vào sứ mạng Hội Thánh và chúng ta làm việc trong Hội Thánh, chú ý tới các nhu cầu và các hướng dẫn của Hội Thánh. Bức hoạ còn diễn tả tốt cố gắng truyền giáo của việc rao giảng Tin Mừng. Và cả cách thức hiện diện giáo dục của chúng ta: từ mẫu, bảo vệ, dự phòng.


Chú thích

197xem HL SDB 92, HL FMA 44

198xem MB VII, trg 334

199xem MB VI, trg 632 và 887

200xem MB VII, trg 334

201xem MB VII, trg 334

202Thánh Gioan Bosco, Meraviglie della Madre di Dio invocata sotto il titolo di Maria Ausiliatrice, Torino 1868, trg 5-7

203xem P. Stella, Don Bosco nella religiosità cattolica, Pas Verlag, Zurigo 1969, Vol. II, trg 169

204xem MB IX, trg 247; XVIII, trg 338

205xem P. Stella, Don Bosco nella religiosità cattolica, Pas Verlag, Zurigo 1969, Vol. II, trg 174

206Processo ordinario, I, trg 511tt; La Madonna dei tempi difficili, trg 118

207xem MB IX, trg 359

208xem MB X, trg 416.622; XVII, trg 143

209xem C. Colli, Patto della nostra alleanza con Dio, Istituto FMA, Roma 1984, trg 446

210Thư Luân lưu ngày 24-10-1965; xem C. Colli, Patto della nostra alleanza con Dio, Istituto FMA, Roma 1984, trg 455-456

211xem C. Colli, Patto della nostra alleanza con Dio, Istituto FMA, Roma 1984, trg 453

212xem C. Colli, Patto della nostra alleanza con Dio, Istituto FMA, Roma 1984, trg 454-455; xem E. Ceria, Vita del servo di Dio sac. Filippo Rinaldi, SEI, Torino 1946, trg 294-295

213Mare Luisa Vaschetti, Thư Luân lưu ngày 24-04-1942; xem C. Colli, Patto della nostra alleanza con Dio, Istituto FMA, Roma 1984, trg 445

214MB XVII, trg 340

215Thư viết năm 1884; cũng xem MB XVII, trg 144

216xem HL FMA 4; HL SDB 1

217xem HL FMA 79; xem HL SDB 98

218MB VII, trg 4


FMA Logo

Địa chỉ: 57 Đường số 4, Khu phố 56, P. Tam Bình, TP. Hồ Chí Minh

Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về email: libraryfmavtn@gmail.com

Liên Kết

Truyền Thông FMA

Copyright Dòng Con Đức Mẹ Phù Hộ © 2026