XIII. HÌNH ẢNH ĐỨC MARIA CỦA TIN MỪNG TRONG LINH ĐẠO SALÊDIÊNG
1. Truyền tin: Tiếng gọi và Lời đáp
Đoạn tường thuật việc truyền tin cho Đức Maria179 là một trong những đoạn tuyệt vời nhất của Tin Mừng Luca. Nó thuật lại một sự kiện có thật và đồng thời diễn tả ý nghĩa của sự kiện ấy cho chúng ta và cho lịch sử nhân loại. Nó không chỉ liên quan đến quá khứ, mà còn là chìa khoá để chúng ta hiểu hiện tại. Tin Mừng thực ra không chỉ là lịch sử, mà luôn luôn còn là một lời loan báo.
Tường thuật được xây dựng với những lời Kinh Thánh khêu gợi lại các niềm hi vọng xa xưa, diễn tả các niềm mong đợi hiện tại và thể hiện trước các giấc mơ về sự cứu rỗi của con người. Đức Maria, đại diện cho nhân loại, cảm nghiệm nơi mình mọi điều ấy và được kêu gọi đặt mình dưới quyền sử dụng của Thiên Chúa để thể hiện điều ấy.
“Mừng vui lên”: là một lời chào được các ngôn sứ dùng khi nói với Thiếu nữ Sion. Đây không phải là một lời chào thông dụng như khi chúng ta chào hỏi nhau hằng ngày. Nhưng nó nói lên một sự chú ý đặc biệt, cái nhìn yêu thương, ý muốn nhân hậu của Thiên Chúa đối với một người và nó mang một bằng chứng có thể kiểm chứng sau đó về điều ấy. Nó loan báo một sự lựa chọn tạo nên một hạnh phúc vô bờ. “Mừng vui lên! Người thật có phước vô cùng”.
“Đức Chúa ở cùng người”180, thường gặp khi Thiên Chúa kêu gọi ai thi hành một sứ mạng; nó được lặp lại trong tường thuật về các ơn gọi sẽ đảm nhận một nhiệm vụ quan trọng cho ơn cứu độ. Nó cho thấy rằng sự chú ý và cái nhìn của Thiên Chúa được diễn tả bằng sự hiện diện, trợ giúp, đồng hành, và giao ước.
“Đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được”181, là thành ngữ được nói cho bà Sara, vợ ông Abraham, khi bà tuyệt vọng vì không thể sinh nở, ở khởi điểm của việc sinh ra các tín hữu. Nó diễn tả quyết định can thiệp của Thiên Chúa vào lịch sử con người vì lợi ích của họ, vượt qua mọi giới hạn của tự nhiên hay của tự do con người. Và việc thực hiện sự can thiệp này qua một ít người mà ngài đã chọn. Thiên Chúa có thể cứu rỗi, Bonhoffer nói, bằng Kinh Thánh hay bằng một con chó chết. Các dụng cụ là thứ yếu.
Chúng ta đứng trước lời loan báo một biến cố có tầm quan trọng đặc biệt cho nhân loại. Chúng ta đứng trước một “ơn gọi”, một “tiếng gọi”, và đứng trước lời đáp của một người nữ đã phải trở thành dụng cụ và sự trung gian nhân loại của biến cố ấy.
Người nữ này vì thế được mời gọi, trước hết, để tin rằng biến cố này có thể xảy ra và cũng tin vào chính mình (và đây là điều còn khó hơn!); rồi được mời gọi để dấn thân và sau đó nữa để trung thành hợp tác suốt đời mình. Tuy nhiên tất cả điều này là một sự phó thác hoàn toàn vào Thiên Chúa.
Trong sự kiện Truyền tin, có một hình ảnh của Thiên Chúa. Một bộ phim tranh luận đã tìm cách khai thác hình ảnh này. Đây là một Thiên Chúa “cá vị” theo dõi lịch sử của con người và cứu độ con người bằng tình yêu của ngài thông qua các can thiệp có thể nhận biết được. Sẽ thú vị để xem liệu cả chúng ta cũng có một hình ảnh nào đó về Thiên Chúa, được hình thành qua cuộc đối thoại ơn gọi và xem liệu nó có giống với hình ảnh của biến cố truyền tin hay không. Hay chúng ta chẳng có một hình ảnh nào hết!
Thiên Chúa sai một thiên sứ: nghĩa là ngài liên lạc với chúng ta và cho chúng ta biết các ý định của ngài, không chỉ hay có lẽ không chủ yếu trong những thời điểm trang trọng hay một cách phi thường, nhưng trong đời sống bình thường: việc truyền tin xảy ra ở Nadarét, trong một căn nhà riêng, cho một thiếu nữ đã đính hôn, có kinh nghiệm nhân loại về tình yêu, gia đình, và trách nhiệm.
Chúng ta cũng cảm nghiệm Thiên Chúa nơi bản thân chúng ta trong cuộc sống thường ngày và trong việc chu toàn các bổn phận. Khi nhìn thấy các thiếu niên thiếu nữ xung quanh chúng ta, chúng ta phải nghĩ rằng một sự truyền thông với Thiên Chúa đang diễn ra trong tâm hồn các em. Thiên Chúa không chỉ tự truyền thông, ngài còn đợi chúng ta nghe ngài và đáp lại lời ngài.
Thiên Chúa có quyền năng mầu nhiệm làm cho trở thành phong nhiêu cái mà dưới con mắt nhân loại là cằn cỗi, giới hạn hay hư mất. Và đó là một sự phong nhiêu không phải tầm thường, nhưng quí giá, từ đó phát sinh các con cái Thiên Chúa.
Đây là một lời mời gọi xét lại niềm tin của chúng ta vào tác động và sức mạnh của Thánh Thần. Chính vì một trinh nữ mà có thể thụ thai một người con, thì cũng vậy, thế giới của chúng ta tuy có vẻ cằn cỗi, cũng được Thánh Thần làm cho trở thành phong nhiêu, có những khả năng mà chúng ta không dám mơ tưởng tới.
Các nghệ sĩ, nhất là các hoạ sĩ, tỏ ra rất thích cảnh truyền tin này. Họ luôn luôn đưa nó vào khi họ trình bày về lịch sử cứu độ. Nhiều hoạ sĩ còn vẽ cảnh này thành khung lớn và riêng biệt. Đứng trước kiệt tác của họ, cũng như đứng trước trang Tin Mừng này, chúng ta thấy ngây ngất và suy tư.
Có lẽ chúng ta cũng thích tìm hiểu tâm hồn của Đức Maria qua các nét vẽ của dung mạo và phong thái của Mẹ, được các nghệ sĩ trau chuốt một cách kỹ lưỡng qua các tác phẩm của họ, để thấy được điều gì đó ngoài những lời nói và khung cảnh bên ngoài: chung ta hiểu rằng điều quan trọng nhất và mầu nhiệm nhất đã xảy ra trong tâm hồn của Maria, một thiếu nữ khoảng 13 đến 15 tuổi.
Cuộc nói chuyện giữa Đức Mẹ và Thiên sứ là một sự mặc khải, một thị kiến, một sự nghe thấu hay chỉ là một cảm hứng nội tâm, đã diễn ra một cách riêng tư và thầm kín. Chắc chắn nó là sự chú ý đến chính đời sống của ngài, việc chăm chú lắng nghe để phân định ý Chúa; nó là sự đối thoại tin tưởng với Thiên Chúa về số phận của mình; nó là sự sẵn sàng vâng theo đề nghị của Thiên Chúa; là sự phó thác mình cho Thiên Chúa để thể hiện điều Người yêu cầu vào lúc này, để thể hiện các giai đoạn trung gian và kết quả cuối cùng.
Mỗi cuộc đời chúng ta đều có một cuộc truyền tin, có khi là nhiều và liên kết với nhau: nó đề nghị một điều mới mẻ, cho một ánh sáng để hiểu và nó mời gọi chúng ta mở ra cho một niềm hi vọng.
Truyền tin chính là ơn gọi của chúng ta. Truyền tin chính là nguồn gợi hứng cho việc tuyên khấn của chúng ta. Truyền tin chính là tiếng gọi lãnh các trách nhiệm trong đó chúng ta cần phải phó thác cho Thiên Chúa và tin tưởng chờ đợi tương lai. Nguyên tắc, điều kiện, và tiêu chuẩn của mỗi hành trình thiêng liêng là: đón nhận, phó thác, khởi hành.
Truyền tin nhắc nhở chúng ta rằng lời đáp của chúng ta cho Thiên Chúa, một cách ngoan ngoãn, tin tưởng và liên tục, là một lời đáp cá nhân. Không có gì người nam hay người nữ tạo ra mà không được suy nghĩ và chín muồi nơi nội tâm. Các tư tưởng, tình cảm, ước muốn, kế hoạch, biến cố được triển khai trong tâm hồn chúng ta. Ở đây có thánh điện của Thiên Chúa. Từ thánh điện này Đức Maria tuyên bố dự định sống trinh khiết, sẵn sàng phục vụ, và tin tưởng phó thác.
Chính trong tâm hồn của Mẹ, ân sủng và Thánh Thần hoạt động để làm cho Đức Maria trở thành Mẹ của Ngôi Lời. Ngôi Lời được thụ thai trong tâm hồn trước trước khi được thụ thai trong dạ Mẹ. Thật đẹp bức tranh mô tả cảnh truyền tin với Đức Maria như đang chăm chú đọc quyển Kinh Thánh đặt trên đầu gối. Trong thái độ trầm ngâm thanh thản, Mẹ đang đắm chìm trong Lời Chúa. Từ khuôn mặt Mẹ chúng ta thấy được Mẹ đang đón nhận và say mê Lời.
Đời hoạt động của chúng ta, dù là thánh hiến hay giáo dân, đều mang một sự căng thẳng: mối quan hệ cá nhân với Thiên Chúa, nói lên một sự chăm chú, đối thoại, đón nhận một cách âu yếm và hài lòng Chúa; và mặt khác, là sự lo lắng về các kết quả hoạt động của chúng ta. Khía cạnh thứ hai này thách thức chúng ta và thường cám dỗ chúng ta. Chúng ta luôn luôn muốn làm nhiều hơn; và từng chút một, thái độ này dần dần khiến chúng ta đặt sự tin tưởng của mình vào các phương tiện và các hoạt động, khiến cho cuối cùng nó làm chúng ta trở nên trống rỗng, không còn nối kết chúng liên tục với điểm xuất phát mà từ đó chúng phải rút ra nguồn sức lực và ý nghĩa: lời Thiên Chúa mời gọi cộng tác với ngài.
Đức Maria thụ thai nhờ tác động của Chúa Thánh Thần. Người không chỉ ban cho Chúa Giêsu thân xác, mà cả bản tính con người. Nếu sự nhập thể phải là hiện thực, thì một cách tất yếu Đức Giêsu phải được truyền sang từ Mẹ ngài các đặc điểm thể lý, điệu bộ, có thể cả giọng nói và cung điệu trầm bổng của tiếng nói; nhưng ngài cũng được di truyền cả lối suy nghĩ và phản ứng trước các con người, các vấn đề và các sự vật. Khi nhìn thấy Chúa Giêsu, các bà mẹ trẻ, bạn của Đức Maria, chắc đã phải thốt lên, “thằng bé giống mẹ nó như đúc”.
Và chúng ta biết Chúa Giêsu lớn lên về tuổi tác, khôn ngoan và ân sủng. Khi công bố sứ mạng của ngài, ngài khẳng định ngài tự do về cách diễn tả và hành động của ngài, cả đối với các qui tắc, tập tục và gia đình.
Bởi vì hẳn Đức Mẹ có thể truyền sang cho ngài một nhân tính có khả năng đón nhận và diễn tả ngôi vị Thiên Chúa, nên Chúa Thánh Thần đã phải hoạt động trong tư tưởng của ngài, trong ý chí, tình cảm, dự định, các quan hệ của ngài, và làm cho tất cả những điều ấy hoàn toàn mở rộng ra cho Thiên Chúa và tràn đầy Thiên Chúa.
Không những thế: Chúa Thánh Thần đã làm cho các đặc điểm và thái độ của Đức Maria trở thành cao quí, nghĩa là có khả năng biểu lộ cách tốt nhất bản tính con người về lòng chính trực, nhân hậu, nghị lực, công bằng, các lời nói và cử chỉ đẹp, và sự chân thật. Trong thực tế, các môn đệ và dân chúng đã nhìn nhận và tuyên xưng thiên tính của Đức Kitô qua nhân tính của ngài.
Như thế Đức Maria đã trở thành Mẹ Chúa Giêsu theo nghĩa từng được hiểu hôm qua và vẫn còn được hiểu hôm nay về người mẹ: không phải một cái lồng kính hay một sự thụ thai mướn, mà là Mẹ đích thực, người mẹ thụ thai và sinh con bằng cách truyền sang cho con bản tính của chính mình.
Chúa Thánh Thần không tác động một cách cưỡng bức hay máy móc; nhưng bằng sự gợi ý, đối thoại bên trong, và sự soi sáng: ngài dành tất cả thời gian cần thiết và nhịp độ của loài người để làm ra một tác phẩm hoàn hảo và phối hợp tuyệt vời.
Đây cũng là chặng đường và lịch sử của chúng ta: cảm thấy trong tâm hồn mình tiếng gọi của Thiên Chúa, để mình trước tiên thụ thai trong tâm hồn bởi Chúa Thánh Thần, và rồi hình thành trong cuộc đời và sinh sản ra các hoa trái tông đồ.
2. Thăm viếng: một việc phục vụ quảng đại
Việc Đức Mẹ đi thăm bà chị Êlidabét182 có vẻ là một sự kiện của đời sống thường ngày: một nghĩa cử của tình liên đới và sự tế nhị của phái nữ thuộc mọi thời đại. Đức Maria lên đường để cống hiến việc phục vụ mà một phụ nữ trẻ có thể làm cho một người chị họ đã lớn tuổi đang đợi ngày sinh con.
Việc ra đi mau mắn, cuộc hành trình dài, sự giúp đỡ ân cần và thân tình, là những cử chỉ mà Hội Thánh đã giữ lại trong ký ức và cống hiến làm mẫu mực. Thánh Phanxicô Salê đã lấy việc Thăm viếng làm biểu tượng cho Dòng ngài sáng lập: một lòng bác ái ra đi để gặp gỡ, vào trong nhà và giúp đỡ với sự chăm sóc ân cần.
Trong các cuộc gặp gỡ như thế này, các bà mẹ tương lai thường nói về các niềm mong đợi của mình, các nỗi lo sợ và các ước mơ thầm kín của mình. Đức Maria và bà Êlidabét hẳn phải có biết bao chuyện để kể cho nhau! Một người qua kinh nghiệm độc đáo trong việc mình được mang thai, người kia qua sự chờ đợi lâu năm để có một đứa con.
Một bức tranh ý vị về tình người đậm đà mà các văn sĩ và hoạ sĩ từng cho chúng ta thưởng thức, bằng cách thêm thắt vào các chi tiết thơ mộng của khung cảnh gia đình để làm chúng ta thêm thích thú.
Tất cả điều này không phải là chuyện tầm thường trong kinh nghiệm của Đức Maria và trong linh đạo của chúng ta. Các tính chất gia đình và dân gian này giúp gột sạch khỏi hình ảnh của Mẹ Chúa Giêsu các tình tiết phi phàm và thần tiên phát sinh bởi sự thêu dệt của trí tưởng tượng, rất xa với tường thuật của Tin Mừng.
Đây cũng là một chỉ dẫn cho chúng ta: ơn gọi đưa chúng ta đi vào đời sống của dân chúng theo các nhu cầu và đòi hỏi của họ, cả những đòi hỏi sơ đẳng và tự nhiên, được nhìn dưới một ánh sáng mới: tình yêu, việc phục vụ, sự cảm thông.
Nhưng nếu dừng lại ở những điều này, chúng ta sẽ không đạt tới được ý nghĩa trọng tâm của biến cố này. Cuộc thăm viếng được thuật lại như một mặc khải, một sự can thiệp của Thiên Chúa thông báo cho chúng ta tin vui về sự hiện diện của ngài giữa loài người và hoàn thành lời hứa giao ước của ngài thông qua việc thụ thai Đấng Cứu Thế trong lòng dạ của Đức Maria.
Điều vốn là một bí mật của Đức Maria, thì được nhận ra bởi những người từng chờ đợi điều bí mật ấy, mà đại diện là bà Êlidabét, tư tế Dacaria, và thánh Gioan Tiền Hô. Tin tức lan ra khắp vùng và sẽ được công bố trên toàn thế giới qua sứ điệp của các thiên thần và sự mặc khải cho ba nhà đạo sĩ. Mọi sự bắt đầu và diễn ra với và qua sự hiện diện của Đức Maria, luôn luôn và trong mọi chặng đường là hình ảnh của Hội Thánh.
Đức ái và phục vụ luôn luôn đem đến cho con người một tin vui, cho dù nó có kèm theo một lời diễn giải “tu trì” hay không.
Các sự kiện và nhân vật của Cựu Ước xuất hiện trong biến cố này giúp chúng ta đọc ra ý nghĩa của nó. Đức Maria được mô tả như Hòm Bia Giao Ước, khi vua Đavít đưa Hòm Bia ra khỏi đất Philitinh để long trọng rước về Giêrusalem. Lời bà Êlidabét nói với Đức Maria mô phỏng lại câu nói của vua Đavít: “Hòm Bia Đức Chúa đến với tôi thế nào được?”183 Niềm hân hoan trong gia đình ông Dacaria nhắc nhớ lại sự hớn hở đã khiến vua như thể điên cuồng nhảy cỡn lên trước Hòm Bia và lễ hội của dân chúng khi Đức Chúa ngự đến.
Bây giờ sự hiện diện của Thiên Chúa không còn được tỏ lộ bằng các dấu hiệu nữa, mà là đích thân ngài đến. Ngài đã làm người. Con người chứa đựng ngài và mang ngài không còn là một nhà tạm, một lều trại hay một đền thờ vật chất: người ấy là nhân tính, đặc biệt là nhân tính của kẻ tin, Hội Thánh, hiện thân nơi Đức Maria. Từ nay nhà ở của Thiên Chúa trên trái đất không còn xây bằng vàng, gỗ hay đá nữa, mà bằng đức tin, đức cậy, và đức mến. Thiên chức làm mẹ được ca tụng không phải là thiên chức làm mẹ thể lý, mà là thiên chức làm mẹ phát xuất từ đức tin: “Em thật có phúc vì đã tin!”184
Tất cả các yếu tố khác của bức tranh đều được xây dựng xung quanh tâm điểm chú ý này, là việc Thiên Chúa cứu độ đến giữa loài người. Nhân loại nhảy mừng nơi Gioan Tẩy Giả, người sẽ là nhân chứng gần nhất cho việc Đức Kitô tỏ mình ra. Khi một thai nhi nhảy trong lòng mẹ, các bà đỡ thời xưa nói, đó là nó là một mộng báo, tiên báo, điềm báo. Niềm vui này của Gioan trong lòng mẹ được tỏ lộ trước khi đứa bé tỏ lộ trí khôn của mình. Vì vậy đó là tiếng nói của tinh thần trong lòng dạ của nhân loại để diễn tả nỗi khát vọng sự hiện diện của Thiên Chúa.
Bà già Êlidabét là biểu tượng cho sự kết thúc của một thời kỳ sống trong sự tàn tạ: thế nhưng nó không kết thúc bằng cái chết. Chúa đã cho bà được nhìn thấy bình minh của một thời đại mới.
Tin Mừng còn đưa chúng ta đến với một viễn tượng thứ ba: sự kiện này sẽ thay đổi đời sống loài người như thế nào. “Magnificat” là bài thánh ca được Đức Maria thu thập từ kinh nghiệm sống của chính mình và tung ra cho mọi thế hệ. Nó hoàn toàn không phải một bài thơ cấu trúc để kết một tường thuật. Ngược lại, nó là một “kinh tin kính”, một lời tuyên tín cá nhân của Đức Maria, hiện thân của toàn thể dân tộc thiên sai; và Đức Maria trở thành tiếng nói và quả tim của dân tộc này. Đây là bài thánh thi của nhân loại có lòng tin thuộc mọi thời đại.
Đức Maria không cắt nghĩa bằng lý trí về Thiên Chúa, nhưng chiêm ngắm các công trình cứu độ của ngài trong lịch sử loài người, bắt đầu bằng việc thụ thai đồng trinh của mình và bằng việc truyền tin cuộc Giáng sinh của Đấng Cứu Thế: “Ngài đã làm cho tôi những điều vĩ đại”.
Ngày nay Thiên Chúa can thiệp dưới hình thức hiệu quả bất ngờ và làm phát sinh một thế giới mới, trong đó các kế hoạch quen thuộc của lịch sử trần gian bị đảo lộn: những con người có giá trị đối với Thiên Chúa, những con người thúc đẩy cho kế hoạch của công lý tiến tới, không phải là những kẻ kiêu ngạo hay quyền thế, mà là những người khiêm tốn, những người đói khát, những người cảm thấy cần đến Thiên Chúa và cần đến người khác.
Đây chính là mầu nhiệm niềm vui của cuộc Thăm Viếng.
Hội Thánh sống lại mầu nhiệm này như một sự kiện được biến thành hiện thực hôm nay trong cộng đồng Hội Thánh và trong tất cả những ai mong đợi, tìm kiếm hay đã đón nhận Đức Kitô.
Đức Maria lên đường mà không hề biết về biến cố sẽ có thể nổ ra trong nhà của bà Elidabét. Cuộc lên đường này bề ngoài tưởng như là một sự kiện tình cờ, thực ra là sự linh hứng của Thiên Chúa để chuẩn bị cuộc tỏ hiện của ngài. Đức ái dọn đường cho sự tỏ hiện của Thiên Chúa, diễn tả và soi sáng về sự tỏ hiện ấy: nó là sự chuẩn bị, là con đường, dấu hiệu và hiệu quả của việc truyền tin. Nó được Thánh Thần đổ tràn vào lòng chúng ta và làm chúng ta sẵn sàng để phục vụ người khác theo các nhu cầu cấp bách của con người: bằng việc từ thiện, giúp đỡ, giáo dục, và dẫn đưa người khác đến với Thiên Chúa.
3. Chúa Giêsu giáng sinh
Chúng ta đã quen nghe tường thuật việc Chúa Giêsu sinh ra[1] trong bầu khí Giáng Sinh. Thánh Luca đã viết bài tường thuật này từ hồi còn chưa có các máng cỏ. Và có thể ngài đã không hình dung trước được rằng các con cừu, bò, lừa, các túp lều cỏ, các ánh đèn, và các ngôi sao sẽ có thể làm người ta giảm sự chú ý đến ba nhân vật chính—Chúa Giêsu, Đức Mẹ, và các mục đồng—mà xung quanh những nhân vật này ngài đã xây dựng bài suy niệm của ngài.
Đức Maria trong Tin Mừng không chỉ được gọi là Mẹ Chúa Giêsu, ngài còn luôn luôn tượng trưng cho Con Gái Sion, nghĩa là Dân Tuyển Chọn sinh ra Đấng Mêsia trong lịch sử nhân loại. Mẹ cũng là hình ảnh của Hội Thánh mang Chúa Giêsu trong lòng mình, sinh ra Chúa Giêsu trong dân, giúp ngài lớn lên cho tới khi trở thành hữu hình qua đời sống và chứng tá của các cộng đoàn. Đức Mẹ là mẫu người Kitô hữu được đề nghị cho các môn đệ Chúa Giêsu noi theo.
Bản văn giới thiệu lúc nhập thể. Thánh Luca muốn diễn tả ý tưởng đây là một sự sinh ra đích thực của một con người thực sự: vì vậy ngài ghi lại ngày tháng, thời đại lịch sử, nơi và hoàn cảnh sinh ra Chúa Giêsu, và sự chăm sóc của Bà Mẹ.
Đây là một sự kiện bề ngoài có vẻ tầm thường, xảy ra tại một đất nước nhỏ bé, không phải ở trong trung tâm nhưng ở vùng phụ cận của một thành phố không có tiếng tăm gì, xa các khung cảnh thường xảy ra các biến cố quan trọng và các quyết định ảnh hưởng đến dân chúng. Bêlem là phản diện của Rôma, Giêrusalem hay Babylon. Hang đá là phản đề của một hoàng cung, một đền thờ hay một cung điện.
Và như thế sự kiện này lẽ ra sẽ mãi mãi bị che giấu và vô nghĩa. Thế nhưng lời loan báo của các sứ thần đã biến nó trở thành “tin vui” cho các mục đồng là những người không chỉ nghe thuật về sự việc xảy ra, mà còn được nghe lời giải thích cứu độ của sự kiện: thơ nhi vừa sinh ra không phải một con người bất kỳ nào; ngài là niềm mong đợi, là Đấng Cứu Thế.
Các mục đồng, biểu tượng của tất cả những ai mong đợi và được Thiên Chúa thúc đẩy trong tâm hồn, vội chạy đến hang và tại đây họ nhận được sự xác nhận về lời loan báo của các thiên sứ. Sau đó tin vui lan truyền đi khắp nơi.
Luca đã mô tả lại bản chất của việc loan báo Tin Mừng như thế. Nó không phải một lý thuyết về Thiên Chúa và thế giới, nó cũng không chỉ dạy các chân lý tôn giáo và đạo đức, nhưng nó nói về các biến cố thực sự đã xảy ra, bằng cách làm sáng tỏ ý nghĩa của các biến cố này đối với con người và sứ điệp mà chúng chứa đựng. Ánh sáng toả ra từ lời loan báo là ánh sáng phát xuất từ Thiên Chúa, nhưng được chứa đựng và mặc khải trong các sự kiện của lịch sử nhân loại.
Chính ở đây Luca nhấn mạnh sự khác biệt về hiểu biết mà các nhân vật khác nhau hiểu về biến cố nhập thể và về ý nghĩa của nó, và đây chính là chìa khoá để sống đức tin trước mọi biến cố khác của đời sống cá nhân và xã hội.
Các mục đồng hẳn đã phải ở tại nơi xảy ra việc nhập thể và là nơi họ có thể làm chứng một cách trực tiếp. Họ dừng lại một chút và nghe Đức Maria nói. Rồi họ trở về và kể lại tất cả những gì họ đã được nghe nói về hài nhi. Họ không đích thân kinh nghiệm các sự kiện xảy ra trước đó, như việc truyền tin và việc sinh con đồng trinh, và họ cũng không được chứng kiến sự hiển linh của Chúa Giêsu.
Dân chúng thì kinh ngạc trước tất cả các điều mà các mục đồng thuật lại. Họ chưa biểu lộ đức tin, nhưng chỉ mới sẵn sàng để có những sự quan tâm bước đầu, sự tò mò về điều lạ lùng có thể dẫn đến đức tin.
“Riêng Đức Maria thì ghi nhớ tất cả những điều ấy và suy gẫm trong lòng”185. Đức Maria không cần đi đến nơi xảy ra việc nhập thể, giống như các mục đồng, vì Mẹ đã đang ở đó rồi, đang tham dự vào biến cố. Ngài không cần nghe người khác kể lại các sự việc diễn ra làm sao và chúng có ý nghĩa gì. Ngài đã ghi nhớ tất cả các lời hứa cho nhân loại, như được chứng minh trong bài Magnificat, và ngài biết rõ rằng con người lớn lên trong lòng ngài là bởi Chúa Thánh Thần.
Khi đã nhìn thấy hài nhi, Đức Maria không đi khỏi nơi xảy ra biến cố như các mục đồng. Ngài ở lại. Ngài không thể rời xa chỗ ấy. Ở đâu Đức Giêsu nhập thể, thì ở đó phải có Mẹ. Mẹ chưa hiểu được hết các ý nghĩa của biến cố, cũng không thể kể ra tất cả nguồn sức mạnh phát sinh từ việc nhập thể.
Các ý nghĩa và sức mạnh của biến cố được tỏ lộ dần dần trong cuộc đời Chúa Kitô và trải qua các thế kỷ. Nhưng Đức Mẹ ghi nhớ biến cố trong lòng, trìu mến nó, suy gẫm về nó, chăm chú để ý và thỉnh thoảng suy nghĩ lại về nó để rút ra những hệ quả mới của nó.
Đức Maria là hình ảnh của Hội Thánh và của mối tương quan của Hội Thánh với việc sinh ra và lớn lên của Chúa Kitô trong thế giới và nơi mỗi một dân tộc. Cả Hội Thánh cũng tham dự vào biến cố nhập thể và ở lại bất cứ đâu mà Đức Kitô được rao giảng và trở thành tin vui. Cả Hội Thánh cũng chưa biết hết mọi điều mà thời gian sẽ tỏ lộ về Đức Kitô. Nhưng Hội Thánh có trong lòng mình và trong ký ức mình một biến cố soi sáng cho Hội Thánh: Đức Giêsu, Lời Thiên Chúa hoá thành người. Về Chúa Giêsu, Hội Thánh thấy được một ít điều còn một số điều khác thì mới chỉ thoáng thấy, hiểu được một ít điều còn một số điều khác thì còn lờ mờ, bởi vì còn phải được mặc khải. Điều này có ích để Hội Thánh luôn vui mừng trong tâm hồn, để luôn luôn thanh thản, luôn luôn lao động, và đi đúng hướng. Đồng thời Hội Thánh không rời xa Đức Kitô, nhưng luôn qui chiếu về ngài, làm chứng về ngài, và loan báo về ngài.
Đó là bài suy niệm của thánh Luca. Nó cũng có thể gợi ý cho chúng ta một ít điểm suy niệm về linh đạo mục vụ của chúng ta.
Chúng ta không thể chỉ là những khách đến chơi, những du khách của Lời Chúa và của mầu nhiệm Đức Kitô. Thánh Augustinô khi so sánh ba thái độ chúng ta vừa kể trên, đã hỏi người Kitô hữu: Bạn giống ai? Giống những người được nghe lời loan báo và chỉ cảm thấy kinh ngạc? Giống những mục đồng đi đến hang, lấy một ít thông tin rồi ra đi loan báo, hay giống Đức Maria đón nhận tất cả chân lý về Đức Kitô, ghi tạc và suy đi gẫm lại trong lòng? Sự kinh ngạc của hạng người thứ nhất sẽ mau tan biến; thông tin của các mục đồng, tuy giúp dẫn đến đức tin, song còn là bất toàn và mới chỉ là mầm mống. Chỉ người nào suy gẫm và đưa mầu nhiệm Đức Kitô vào trong nội tâm mới có thể lấy được từ đó ánh sáng và ý nghĩa cho các thời đại và các dân tộc.
Lịch sử Hội Thánh ghi lại nhiều khuôn mặt rao giảng Tin Mừng lỗi lạc. Tất cả họ đều là những “nhà suy niệm” Lời Chúa kiên trì. Điều họ đã đào sâu trong kinh nguyện và học hỏi thì họ đem diễn tả qua việc giảng dạy, viết sách, dẫn dắt các cộng đoàn Kitô hữu, và hướng dẫn các linh hồn.
Thông truyền biến cố Đức Kitô là nghề chuyên môn và mục đích của ơn gọi chúng ta. Chúng ta phải là những chuyên gia của công việc này không chỉ bằng việc sử dụng các phương tiện kỹ thuật, nhưng là vì chúng ta tiếp cận nó với sự bình thản và thư thái, tìm ra từ đó ánh sáng cho đời sống cá nhân chúng ta, cùng với cộng thể đối chiếu nó với điều chúng ta quan sát trong môi trường sống của mình: đây gọi là chiều kích nội tâm.
Sự nhập thể, nghĩa là sự hiện diện cứu độ của Thiên Chúa trong đời sống con người thông qua Đức Giêsu, không chỉ là đối tượng suy niệm của chúng ta, mà còn phải là tiêu chuẩn mục vụ của chúng ta.
Cần có ba điều này:
— sự sẵn sàng của chúng ta để hấp thu nhanh nhạy thực tại mà chúng ta phải rao giảng Tin Mừng, bằng cách hoà nhập vào với dân chúng mà chúng ta được sai đến và hiểu biết văn hoá của họ qua lăng kính đức tin;
— sự xác tín rằng trong tất cả những gì phát triển xét theo quan điểm nhân loại thì đều có một sự hiện diện và hoạt động nhiệm mầu của Thiên Chúa và mọi mặc khải của Thiên Chúa đều tạo ra một sự phát triển nơi nhân loại;
— sự cố gắng để khám phá ra những mong đợi và những đòi hỏi của các cá nhân và các dân tộc, đối với chúng ta đặc biệt là các đòi hỏi của giới trẻ, những con người luôn khát vọng về Đấng Cứu Thế.
4. Tiệc cưới Cana: Đức Kitô, chìa khóa của đời sống
“Đức Giêsu đã tỏ lộ vinh quang của ngài, và các môn đệ đã tin vào ngài.”186 Thánh Gioan đã kết thúc câu truyện về tiệc cưới ở Cana như thế. Cả thánh Gioan lẫn Phụng vụ đều đặt tiệc cưới này vào trong khung cảnh của các lần tỏ lộ chính yếu của Chúa Giêsu: lần thứ nhất cho Ba Vua, rồi lúc Chúa chịu Phép Rửa, và bây giờ ở tiệc cưới Cana.
Tuy nhiên sự tỏ lộ lần này có một tính chất đặc thù so với hai lần trước. Nó không diễn ra trong một khung cảnh lạ lùng hay một dịp lễ tôn giáo, như vào lúc giáng sinh hay chịu phép rửa. Không có các chứng nhân từ trời: không có các thiên sứ, các ngôi sao, các bản thánh ca huyền bí hay tiếng nói từ trời phán ra. Cũng không có các nhà rao giảng hay các vị ngôn sứ.
Nó xảy ra trong một bữa tiệc gia đình, một bối cảnh lễ lạc dân gian, giữa lòng một sự kiện vui mừng trong cuộc đời: tình yêu giữa đôi trai gái, với niềm khao khát hạnh phúc, với lời hứa chung thủy, ý muốn hay bản năng nối dòng qua việc sinh con cái, với đông đủ bà con và làng xóm tham dự vui vẻ: một bữa tiệc mà người ta cố gắng hết sức để làm vừa lòng các khách dự tiệc.
Nguyên điều này cũng đã gợi ra cho chúng ta một tư tưởng: Đức Giêsu, là Thiên Chúa, chắc chắn tự tỏ lộ cho chúng ta vào những lúc thờ phượng và cầu nguyện, nhưng không chỉ những lúc ấy: ngài còn hiện diện trong mọi kinh nghiệm đích thực của đời sống chúng ta, vui cũng như buồn. Cùng với tiệc cưới Cana, chúng ta còn có thể kể đến kinh nghiệm về tình bạn, lao động, hay cố gắng thể hiện một điều gì.
Sở dĩ như thế là vì Ngôi Lời đã làm người: ngài đã đi vào giữa lòng các kinh nghiệm của chúng ta, bằng cách hấp thụ các kinh nghiệm ấy và tự mình trở nên người dự phần và liên đới với các kinh nghiệm ấy. Chúa Giêsu hiện diện trong các dịp vui của chúng ta cũng như trong các hoàn cảnh đau buồn của cuộc sống chúng ta. Tình yêu được giới thiệu trong tiệc cưới Cana là kinh nghiệm nhân loại chính yếu và trở thành nguyên mẫu của mọi kinh nghiệm khác.
Chúng ta có một hướng dẫn cho Hội Thánh và cho từng Kitô hữu: tỏ tình liên đới và chia sẻ những niềm vui và hi vọng của đồng loại; không tránh né nhưng gánh lấy những mối quan tâm và lo lắng; và không phải như những “người tò mò” hay tìm tòi, nhưng “cảm thông” và “chung vui với” họ, chia sẻ với họ.
Trong đám cưới xảy ra một sự kiện: thiếu rượu. Niềm vui sắp tàn; khách khứa sắp giải tán. Các thứ mà chủ tiệc đã chuẩn bị với tất cả sự tính toán kỹ lưỡng và phòng xa cho bữa tiệc, bây giờ hỏng cả.
Trong kinh nghiệm đời sống của chúng ta cũng thường xảy ra chuyện này. Mỗi niềm vui hay công việc của con người, nếu chỉ dựa vào những tính toán tự nhiên và sức lực của con người, thường dễ bị thất bại. Tới một lúc nào đó người ta trở nên cạn kiệt và không còn có gì để cho: điều này xảy ra với tình yêu. Anh chị em hãy nghĩ đến các đôi tình nhân say đắm lúc ban đầu nhưng rồi trở nên trống rỗng, và các cặp vợ chồng tuy đã bắt đầu mối quan hệ với đầy chân tình và thiện chí, nhưng cuối cùng không còn tìm thấy cả động lực lẫn niềm ham thích nào để chung sống với nhau.
Điều này cũng xảy ra đối với những ý hướng quảng đại và tình liên đới. Chúng ta thường cảnh giác các thanh thiếu niên về nguy cơ này khi thấy chúng tự nhiên rất quảng đại nhưng không ý thức được đâu là nguồn mạch trường cửu của lòng quảng đại.
Trong tường thuật về tiệc cưới, có một chi tiết thú vị: Chúa Giêsu cũng đến dự cùng các môn đệ ngài, nhưng “trà trộn” giữa đám đông và gần như bị “chìm”, “không ai biết”, “vô danh”.
Ngài không lộ diện: ngài không được giới thiệu như một khách qúy, và hoàn toàn không có vẻ gì là một linh hoạt viên của đám tiệc hay tâm điểm của các mối quan hệ.
Vì vậy ngài là một người giữa bao người khác: không ai nghĩ ngài như một nhân vật chủ chốt, cũng không ai yêu cầu ngài giúp gỡ rối cho nhà đám. Cần có một ai đó đã từng biết ngài, kéo ngài ra khỏi tình trạng vô danh, xác định ngài như là người có thể gỡ rối một đám tiệc đang có nguy cơ thất bại.
Đúng lúc ấy xuất hiện khuôn mặt vô cùng khả ái dịu dàng của Đức Maria, hình ảnh của Hội Thánh và của tất cả chúng ta. Điều này được ghi lại bằng một chi tiết, không phải chỉ có tính chất tường thuật, mà còn mang nghĩa biểu tượng và ẩn dụ, đó là sự kiện Đức Giêsu ở đó “cùng với các môn đệ ngài”.
Mẹ là người đầu tiên nhận ra tình thế, trước cả Chúa Giêsu. Mẹ hầu như do bản năng cảm nhận được ngay những hoàn cảnh của con người. Mẹ đã không cần giả thiết các hoàn cảnh ấy: chính mẹ đã sinh ra và đã sống trong thân phận con người như chúng ta. Mẹ không phải một thần linh nhập thể; Mẹ là một tạo vật nhân loại, sinh ra và sống trong các điều kiện chung của loài người.
Đức Maria không phê phán những người đã tính toán sai; Mẹ không đưa ra những lời bình luận của “chuyên gia” về ẩm thực và các bữa tiệc gia đình, và Mẹ cũng không đưa ra các giải pháp kỹ thuật như phải làm thế nào và có thể tìm ra giải pháp ở đâu.
Mẹ thấy vấn đề và tìm đến với Chúa Giêsu. Trước lời đáp của Chúa Giêsu rằng ngài không muốn lệ thuộc các sợi dây ràng buộc máu mủ, Mẹ chơi một ván bài khác: đức tin của Mẹ: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo”.
Cả trong trường hợp này cũng có một chỉ dẫn về điều mà Hội Thánh và người Kitô hữu chúng ta có một cách chuyên biệt và quyết định trong niềm vui của cuộc sống, cách riêng đối với chúng ta là những con người thánh hiến: đó là ý thức sự hiện diện của Thiên Chúa, kinh nghiệm về Đức Kitô, lòng tin cậy vào trái tim và quyền năng của ngài.
Đây cũng là một hướng dẫn cho cách hành động của chúng ta, không phải bằng sự than trách thân phận đáng buồn của con người, không phải như là những “chuyên gia” luôn sẵn sàng đưa ra cả một danh sách các giải pháp, nhưng như là những con người giàu tình liên đới, sẵn sàng chia sẻ điều chúng ta có về đức tin và sự hiểu biết Đức Kitô.
Chắc chắn tường thuật này không tránh khỏi là một sự đan dệt các biểu tượng: có đám cưới, mà truyền thống lâu đời và liên tục của Kinh Thánh nhìn như là hình ảnh của tình yêu của Thiên Chúa đối với loài người và của giao ước lịch sử với dân tuyển chọn của ngài; có các chum nước dùng vào việc thanh tẩy theo phong tục Do Thái, biểu tượng của việc Do Thái giáo đã bị vượt qua: chúng làm bằng đá giống như các tấm bia lề luật và nặng nề, bất động; chúng cũng trống rỗng, không chứa gì cả; có rượu dư dật quá sức tưởng tượng: 500 lít và không phải loại rượu thường, mà là rượu quí, mà người sành rượu cũng không thể chê vào đâu được. Để nhấn mạnh lượng rượu quá dư dật, thánh Gioan viết rằng các gia nhân đã đổ các chum “đầy tới miệng”. Như thế có một khung cảnh của ngày lễ, của niềm vui, sự dồi dào không giới hạn; có các lời của Chúa Giêsu: “Giờ của tôi”.
Thánh Gioan đã muốn chứng minh sự cạn kiệt của kinh nghiệm tôn giáo của Do Thái giáo và của mọi kinh nghiệm khác tương tự, về những gì liên quan đến ý nghĩa đời sống con người và mối quan hệ của Thiên Chúa và với Thiên Chúa. Ngược lại trong Đức Kitô, xuất hiện một khả năng vô cùng phong phú về sự thông truyền và ân sủng, hơn cả những gì con người có thể mong đợi.
Trong Đức Kitô, tiệc cưới của Thiên Chúa với nhân loại được bắt đầu, và tiệc cưới này được mở trong Hội Thánh như là Cana của loài người, nơi họ được mời tới dự tiệc: cộng đồng tụ họp xung quanh Chúa Giêsu, ở đó có Đức Mẹ và các tông đồ. Giống như đức Maria, Hội Thánh tỏ lộ mầu nhiệm sự hiện diện của Đức Kitô bởi vì Hội Thánh có kinh nghiệm trực tiếp về sự hiện diện ấy: các môn đệ tin, nghĩa là các ngài hiểu được ý nghĩa của “dấu lạ” vì các ngài đã gặp được Đức Kitô và làm thành một gia đình với ngài; những người khác, tuy không biết về phép lạ, cũng được hưởng những lợi ích của nó: họ được uống rượu và tiếp tục cử hành tình yêu và tình liên đới.
Ở điểm xuất phát và trong mọi lúc của hành trình cuộc đời chúng ta, Chúa Giêsu luôn luôn là trung tâm sự chú ý của chúng ta. Chúng ta biết ngài, năng lui tới với ngài, lấy ngài làm chìa khoá của niềm vui, chỉ cho các thanh thiếu niên thấy ngài là sự cứu độ, loan báo ngài như là người có thể đem đến những giải pháp cho các đòi hỏi của con người và vượt lên trên các đòi hỏi ấy.
5. Dưới chân Thập giá: sự sống phong phú trong Thánh Thần
Đức Maria đứng dưới chân Thập giá187 là một biểu tượng vượt qua. Biểu tượng “lacrimosa”, “Đức Mẹ khóc lóc”, chỉ thông dụng trong những thế kỷ trước. Ngược lại, trong Tin Mừng không hề nhắc đến nước mắt hay sự buồn sầu của Đức Mẹ. Tin Mừng chỉ viết đơn giản “đứng dưới chân Thập giá”188, Mẹ ý thức dự phần vào biến cố tột đỉnh này của loài người.
Thập giá, theo thánh Gioan, đồng nhất với sự tôn vinh Đức Giêsu; đó là giờ phút tột đỉnh của sự mặc khải của ngài, việc ngài đi đến với Cha. “Một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi.”189 Và đây cũng là giờ phút của ơn Thánh Thần.
Từ Thập giá phát sinh cộng đoàn các tín hữu, được đại diện bởi một nhóm nhỏ tín hữu tập họp quanh Thập giá và được biểu tượng bằng nước Rửa tội và máu Thánh Thể từ Chúa Kitô đổ ra. Thập giá và nhóm tín hữu này là nền móng của nhân loại mới được thống nhất mà Đức Kitô phải thể hiện theo lời hứa thiên sai.
Trong khung cảnh của Hội Thánh mới được khai sinh này, chúng ta nghe vang lên những lời nói với Đức Maria, những lời nói gợi ra một biểu tượng mà chúng ta phải khám phá ra ý nghĩa, một mầu nhiệm phải tìm hiểu, hơn là lời thuật về một cử chỉ con thảo đối với mẹ hiền.
Cử chỉ này là tâm điểm của các hành vi cuối cùng và tột đỉnh mà ký ức Kitô giáo về cái chết của Chúa Giêsu muốn lưu truyền lại cho chúng ta. Trước khi nói về cử chỉ này, có lời thuật về tấm áo choàng “không đường khâu, được dệt nguyên một tấm”190 mà quân lính không chia thành từng phần, là biểu tượng của nhân loại được tái hợp, của dân Chúa được đoàn tụ vĩnh viễn nhờ ân sủng Đức Kitô. Và sau đó là lời Chúa Giêsu tuyên bố hoàn tất kế hoạch của Cha. “Người nói: ‘Mọi sự đã hoàn tất’. Rồi Người gục đầu xuống và tắt thở”.
Trong ánh sáng này, Gioan thuật lại đối thoại giữa Chúa Giêsu, Đức Maria và người môn đệ.
Chúa Giêsu quay sang Đức Maria trước tiên. Chúng ta có cảm tưởng, và đúng là thế, rằng không phải Đức Maria được phó thác cho Gioan, nhưng là Gioan được ban cho Đức Mẹ để làm con.
Đức Maria không được gọi bằng tên riêng, nhưng luôn luôn được gọi với danh hiệu “Mẹ Người”. Điều này gợi nhớ tiệc cưới Cana, trong đó chính Gioan nói rằng “Đức Giêsu đã tỏ lộ vinh quang Người và các môn đệ đã tin vào Người.” Cana là sự mặc khải mở đầu về vinh quang của đấng Mêsia, sự tỏ lộ này đạt tới tột đỉnh vào giờ chết của ngài.
Nó cũng làm ta nghĩ đến danh xưng “bà” được ghi lại trong tiệc cưới Cana, biểu tượng tiệc cưới mới của Thiên Chúa với nhân loại. Và, xa hơn trong lịch sử, nó làm ta nghĩ đến người đàn bà của cuộc tạo dựng, của cám dỗ và bản án của Thiên Chúa: Evà. Chúng ta bước sang một khởi đầu mới của loài người.
Còn về người môn đệ, bài tường thuật không bao giờ nhắc đến tên. Người môn đệ là đại diện cho mọi người theo Chúa Kitô, toàn thể các môn đệ, cộng đoàn tín hữu của ngài, với đặc điểm là những bạn hữu của Đức Kitô, được ngài yêu thương, và trung thành với ngài.
Vì vậy ở đây không phải là một cuộc giàn xếp gia đình, mà là thời điểm của một sự phó thác long trọng và thánh thiêng, một di chúc, một điểm khởi hành.
Chúa Giêsu kêu gọi Đức Maria chấp nhận một tình mẫu tử mới phát sinh từ thập giá và nhờ thập giá mà trở nên phong phú. Đó là một khả năng mới để sinh ra các người con bởi Thánh Thần. Đức Maria sẽ là Mẹ Đức Kitô, không chỉ vì đã đón nhận Người trong lòng mình, nhưng bởi vì, bằng cách tự đồng hoá mình ở mọi nơi và hoàn toàn với cộng đoàn phát sinh từ Thập giá, Mẹ sẽ không ngừng cưu mang Đức Kitô trong lịch sử của hàng triệu triệu người trải qua mọi thời đại. Đây là một lễ truyền tin mới; đối với chúng ta là một biểu hiện của Đấng Phù Hộ.
Đức Maria là hiện thân của Hội Thánh hoàn vũ và của mỗi hội thánh địa phương. Tất cả được khai sinh từ Thập giá, được kêu gọi để thừa hưởng nguồn phong phú ý nghĩa của nước và máu và để trở nên nhân chứng với đầy lòng nhiệt huyết và trung thành.
Vì vậy, cộng đoàn môn đệ rước Đức Mẹ về với mình. Từ lúc ấy Mẹ hiện diện ở bất cứ nơi nào có cộng đoàn tín hữu: một cách hữu hình bằng sự sùng kính và các dấu hiệu sùng mộ của các tín hữu; một cách sâu xa hơn nhờ sự chuyển cầu của ngài có thể nhận ra qua các dấu lạ luôn luôn mới mẻ và bất ngờ. Cả chúng ta cũng cảm nhận được sự hiện diện của Mẹ trong các cộng đoàn và công cuộc của chúng ta.
Thập giá nhắc nhớ chúng ta về giá trị của việc hiến mình cho Thiên Chúa trong đức ái mục tử. Các thái độ và cử chỉ của Chúa Kitô, mà chúng ta thường nhớ đến như là các mẫu gương (thái độ tiếp nhận, lắng nghe, nâng đỡ, soi sáng, thương xót), tìm được thăng hoa, sự cắt nghĩa, và giá trị của chúng nơi thập giá.
Người Mục Tử, mà Gioan trình bày ở chương 10, là người thí mạng sống mình. Nếu bỏ quên điều này, đức ái mục tử sẽ chỉ còn là một phương pháp làm việc, các mối quan hệ công cộng, hình thức của việc từ thiện, hơn là của ơn cứu độ.
Được sát nhập thâm sâu vào sự dâng hiến này qua các lời của Chúa Giêsu, Đức Maria dạy chúng ta ý nghĩa về sự phong phú huyền nhiệm của tình yêu. Cả đối với Đức Mẹ, mọi sự được hoàn tất và mọi sự được tỏ lộ vào giờ phút ấy. Sự lo lắng của Mẹ để nuôi dưỡng Con Thiên Chúa giờ đây mang một chiều kích khác với chiều kích đã có ở Nadarét và trong đời sống tại thế của Con Mẹ: chuyển từ Chúa Giêsu sang Hội Thánh, Hội Thánh của lịch sử và cụ thể, được làm thành bởi những con người và những đời sống: chuyển từ sự phong phú nhân bản sang sự phong phú ân sủng. Chấp nhận điều này là một thử thách đối với đức tin của Mẹ, gần như một bước nhảy vọt về phẩm. Đối với chúng ta cũng thế.
Đứng dưới chân thập giá, Đức Maria nhắc chúng ta nhớ đến sự cứu rỗi mà chúng ta muốn là dấu chỉ và là người mang đến cho người khác: sự cứu rỗi bắt nguồn từ Đức Kitô Cứu Thế, nó mở rộng lòng con người ra cho Thiên Chúa để đón nhận nơi người sự thành tựu cuộc đời mình. Chúng ta thực hiện nhiều sáng kiến để phục vụ thanh thiếu niên và người lớn. Tất cả những sáng kiến này đều hướng tới một điều duy nhất và chính yếu, tất cả đều được khơi dậy bởi một điều trong châm ngôn “Da mihi animas” của chúng ta: ơn cứu rỗi của Thiên Chúa, là tâm điểm công cuộc cứu chuộc của Chúa Giêsu.
Cùng với Đức Maria dưới chân thập giá, chúng ta khám phá ra đâu là nguồn sức mạnh biến đổi mà Thiên Chúa muốn tác động trong chúng ta và các cộng đoàn của chúng ta: nước và máu; bí tích Hoà giải và Thánh Thể. Phụng vụ chúng ta sống hoàn toàn thấm nhuần khoa sư phạm bí tích. Các trang sách Tin Mừng và niên lịch phụng vụ đề nghị cho chúng ta bằng muôn vàn cách thức khác nhau để sống khoa sư phạm này.
Đứng dưới chân thập giá, Đức Maria tỏ lộ cho chúng ta giá trị của cộng đoàn, một cộng đoàn trong đó chúng ta thể hiện việc phục vụ của mình, một cộng đoàn đã có mặt ở hi tế của Chúa Kitô dưới một hình thức đặc biệt và khác với các khách bàng quan khác. Nó lưu giữ lại ký ức nơi mình và chỉ mình nó hiểu được ý nghĩa của hi tế này. Nó còn hơn là một “nhóm người”. Nó là nơi Thiên Chúa mặc khải ơn cứu độ.
Chúng ta nghĩ đến giá trị của các cộng đồng giáo dục mà chúng ta khơi động, giá trị của Gia đình Salêdiêng, của Phong trào Salêdiêng, của các Giáo Hội địa phương. Trong các cộng đồng này chúng ta chăm lo việc rao giảng về Đức Kitô, sự hiệp nhất trong tình yêu và hành động.
Cùng với các cộng đoàn này chúng ta cầu khẩn và chờ đợi Thánh Thần, chúng ta chú tâm tới các dấu chỉ của ngài và chúng ta “ra đi” tiến về phía trước.
6. Tại nhà Tiệc Ly: Cộng đoàn với sức mạnh của Thánh Thần
Nhóm người ít ỏi đại diện cho Hội Thánh đứng gần Thập giá đã được mô tả trong sách Công vụ Tông đồ, chương 1, ở Giêrusalem, khi họ từ trên núi Chúa Thăng Thiên trở về191.
Giêrusalem là nơi diễn ra các biến cố cứu độ, nơi Chúa Giêsu hoàn tất sứ mạng của ngài ở trần gian192, là điểm xuất phát của sứ mạng hoàn vũ của các Tông đồ193.
Cộng đoàn của Chúa Phục Sinh tập họp đầy đủ tại nhà Tiệc ly, nơi đã công bố và đóng dấu giao ước mới, nơi mà Tiệc Vượt Qua cũ được đổ đầy ý nghĩa mới và vĩnh viễn, nơi Chúa thiết lập Thánh Thể, nơi ngài hiện ra nhiều lần cho nhóm mười hai. Đó hoàn toàn là hình ảnh của Hội Thánh!
Bản văn kể lại một mạch liên tiếp các biến cố chính của cuộc đời Chúa Giêsu: cuộc khổ nạn, các lần hiện ra, các bài diễn từ về Nước Trời, lời hứa ban Thánh Thần, ngày Thăng Thiên, việc loan báo ngày ngài sẽ trở lại: các môn đệ nhớ lại tất cả các biến cố này, nhưng họ còn chưa hoàn toàn thấu hiểu ý nghĩa lịch sử của chúng.
Trong bối cảnh này, Luca ghi nhận về cộng đoàn tập họp đầy đủ, với một di sản chân lý và một sứ mạng được giao phó: “Tất cả các ông đều đồng tâm nhất trí, chuyên cần cầu nguyện, cùng với mấy người phụ nữ, với bà Maria thân mẫu Đức Giêsu, và với các anh em của Người.”194
Đây là lần duy nhất Đức Maria được nhắc đến tên trong “thời kỳ hậu phục sinh”. Và cũng là lần cuối cùng của toàn Tân Ước. Ngài được nhắc đến một cách vắn gọn và thoáng qua.
Có vẻ như Đức Maria không phải là nhân vật chính của cảnh này! Bản văn nhắc đến “mấy người phụ nữ” trước khi kể tên Đức Maria. Họ là cùng mấy người phụ nữ Luca đã kể tên trong tường thuật về cuộc đóng đinh, táng xác, lúc phát hiện mồ trống, các cuộc hiện ra.
Thế nhưng Đức Maria Mẹ Chúa Giêsu không bao giờ được bao gồm hay được kể tên trong số các phụ nữ này. Điều gây ấn tượng đối với chúng ta là, trong khi giới thiệu theo thứ tự và một cách đầy đủ cộng đoàn Chúa Phục Sinh, Luca đã đưa vào danh sách chỉ một mình tên và tước hiệu Mẹ Chúa Giêsu.
Chúng ta có ở đây một trong những đoạn văn thích hợp để giúp tóm lược nhanh về đời sống của côïng đoàn. Giống như ở các đoạn văn tương tự, ở đây có nói đến sự đồng tâm nhất trí, sự qui tụ, cầu nguyện. Vì vậy đây không chỉ là một chi tiết lịch sử theo thể thuật truyện, mà là một suy tư thần học.
Các phụ nữ cùng với các Tông đồ ở Nhà Tiệc Ly là dấu hiệu của một cái mới mẻ chưa từng có trong bối cảnh Do Thái giáo và biểu hiện sự đảo lộn mà cuộc vượt qua của Chúa Giêsu đã thực hiện rồi: một cộng đoàn không có sự phân biệt hay chia rẽ về giới tính, địa vị hay chủng tộc. Cái chủ yếu đáng kể và hợp nhất là những con người được Chúa Giêsu yêu thương đặc biệt và là những chứng nhân tuyên xưng đời sống của ngài.
Việc nhắc đến các phụ nữ làm nổi bật sự kiện và tầm quan trọng của sự có mặt trong cộng đoàn các chứng nhân trực tiếp và đầy nhiệt huyết về Chúa Giêsu chịu chết, táng xác và sống lại, mà các phụ nữ lại chính là những người loan tin đầu tiên.
Đức Maria
Giờ đây chúng ta tập trung vào Đức Maria, được kể tên sau các phụ nữ, như thuộc một phạm trù khác, hoàn toàn độc đáo. Bản văn diễn tả trước hết một niềm xác tín của đức tin: ở đâu có Hội Thánh, cộng đoàn của Chúa Kitô, ở đó luôn luôn có Đức Maria, và ngược lại, như vào lúc thụ thai và sinh Đấng Mêsia, như trong các lần tỏ hiện đầu tiên (cho các mục đồng và các đạo sĩ, cho Dacaria và Simêon, trong Đền thờ và ở Cana), như trong hi tế cuối cùng.
Đây là một chỉ dẫn cho đời sống cá nhân chúng ta, nó có ảnh hưởng quyết định đối với hoạt động mục vụ của chúng ta. Trong các Giáo Hội và cộng đoàn mà chúng ta thành lập và khơi động, phải có Mẹ, và phải dành cho Mẹ một vị trí nổi bật, để làm bạn, làm lời nhắc nhở, gương mẫu và cảm hứng cho chúng ta.
Rồi việc nhắc đến Đức Mẹ được đặt trong hướng chứng tá trực tiếp. Mẹ biết rõ, tham dự tích cực trong các sự kiện kín ẩn và mầu nhiệm nhất, ít được biết đến nhất, nhưng đó là những sự kiện ở nguồn gốc lịch sử của những điều dễ thấy và lạ lùng hơn mà nhóm đã được chứng kiến: việc nhập thể, giáng sinh, lớn lên ở Nadarét, khởi đầu cuộc đời công khai. Mẹ đã ở với Chúa Giêsu “trong suốt thời gian Người đã sống giữa chúng ta”195, là điều kiện Matthia phải có để được chọn thay thế cho Giuđa.
Hình ảnh Đức Maria mà Luca triển khai ở đây cũng là một với hình ảnh ngài đã mô tả trong Tin Mừng của ngài. Đức Mẹ không dự phần vào nhóm môn đệ được đào luyện xung quanh Đấng Mêsia, cũng không thuộc số các phụ nữ đi theo Người. Nhưng Mẹ là người nữ môn đệ tinh thần hoàn hảo, độc nhất vô nhị, nơi Mẹ xuất hiện lòng sẵn sàng hoàn toàn vâng theo thánh ý Thiên Chúa, và đầy lòng tin tưởng vào sự can thiệp của Thiên Chúa để thể hiện điều Người đã hứa.
Theo nghĩa ấy, Đức Maria giống như một đá tảng, một mỏ neo hi vọng trong thời đại mong chờ. Các môn đệ cảm thấy mình bơ vơ khi không còn sự hiện diện hữu hình của Chúa Giêsu. Họ được sai đi thực hiện một sứ mạng trong thế giới mà họ chỉ có một ý tưởng mơ hồ: họ không biết sứ mạng ấy hệ tại điều gì, đâu là những con đường thích hợp nhất; họ không có kinh nghiệm về sức mạnh giấu ẩn của sứ mạng ấy.
Đây không chỉ là tình trạng của cộng đoàn Kitô giáo ban đầu. Mọi cộng đoàn, cho tới các cộng đoàn của chúng ta và ngay cả Hội Thánh hoàn vũ cũng có những cảm tưởng và những sự do dự này. Sự hiện diện của Đức Maria tạo ý nghĩa cho niềm mong đợi, đổ đầy lòng tin tưởng, biến nó thành một kinh nghiệm thiêng liêng vui tươi thanh thản vốn đã là kinh nghiệm của chính Mẹ: chờ đợi thời điểm trưởng thành mà không vấp ngã hay đầu hàng.
Nhưng đồng thời, trong niềm mong đợi, cộng đoàn các môn đệ được hướng dẫn bởi uy quyền mà Chúa Giêsu đã ủy thác cho họ, trở nên hoàn hảo và sẵn sàng cho sứ mạng, bằng cách chọn thành viên còn thiếu, trong ánh sáng ý muốn của Thiên Chúa. Các ngài suy xét và phân định, gột sạch các tư lợi và tinh thần bè phái. Các ngài chân thành mở lòng trước các dấu chỉ.
Hơn nữa, cộng đoàn các môn đệ kiên trì cầu nguyện chung với nhau. Hai lời này rất quan trọng: cầu nguyện, chung với nhau. Lời thứ hai này diễn tả ý hướng duy trì sự hiệp nhất thiêng liêng và hữu hình của cộng đoàn trong những giờ phút trông chờ, nghi ngờ, không chắc chắn. Nếu thời đại trông đợi của chúng ta cũng giống như các thời đại này, hẳn chúng sẽ luôn luôn phong phú. Và chúng ta luôn luôn sống trong thời đại trông đợi!
Cuối cùng, cộng đoàn cùng với Đức Maria sẵn sàng để đón nhận Thánh Thần và trong thực tế đã đón nhận ngài. Như thế cộng đoàn ấy trở nên phong phú và có khả năng sinh ra Chúa Giêsu nơi các dân tộc. Đức Maria đã kinh nghiệm được Thánh Thần và sự phong phú của Người bởi vì Mẹ đã là người đầu tiên được đổ đầy Thánh Thần và sinh ra Con Thiên Chúa trong lịch sử loài người. Mẹ là sự bảo đảm và bảo vệ cho việc nhận ra và giải thích trung thực hoạt động của Thánh Thần nơi loài người. Với sức mạnh của Thánh Thần, Hội Thánh được gọi để tiếp nối việc nhập thể của Đức Kitô, cụ thể hóa tình yêu của Người đối với loài người dưới muôn vàn hình thức, và luôn canh tân khả năng phục vụ của Hội Thánh.
Nét đặc trưng nữ tính và tình mẫu tử của Đức Maria không chấp nhận để cho các chân lý đức tin trở thành các công thức trừu tượng, nhưng diễn đạt nó thành các hành động cụ thể của ơn cứu độ, của sự biến đổi thân phận con người, của tình yêu Thiên Chúa, và của việc đổi mới các phong tục.
Cũng thế, mặc dù Mẹ không có một chức vụ đặc biệt, Mẹ nhắc nhở các tông đồ rằng “đặc quyền” nhận lãnh Thánh Thần không phải để đưa mình “lên trên” những người khác hay “ở ngoài” điều kiện chung của mọi người, nhưng để hoà mình với mọi người, chia sẻ, làm dậy men, và phục vụ.
Don Bosco đã dạy chúng ta cảm nghiệm sự hiện diện này. Trước tiên chính bản thân ngài đã vun trồng sự hiện diện này và đã cổ võ nó trong đời sống và công cuộc của ngài. Nhưng ngài cũng dặn dò các nhà truyền giáo của ngài làm như thế: “Hãy làm cho người ta biết đến Đức Mẹ, và các con sẽ thấy các phép lạ”196. Đó cũng là lời dặn dò cho chúng ta, trong hành trình thiêng liêng của cá nhân, trong sự dấn thân mục vụ, và trong bổn phận sinh động hoá các cộng đoàn của chúng ta.
Chú thích
179Lc 1,26-38
180Lc 1,28
181Lc 1,37
182Lc 1,39-56
1832 Sm 6,9
184Lc 1,45
185Lc 2,51
186Ga 2,11
187Ga 19,25-27
188Ga 19,25
189Ga 12,32
190Ga 19,23
191Cv 1,14
192xem Lc 24,33
193xem Cv 1,8-12
194Cv 1,14
195Cv 1,21
196xem MB XI, trg 395