FMA Logo

Chương 9 - Sự thông truyền của một lối sống Tin mừng



Ha Fong Maria KO

1. Kinh nghiệm Tin Mừng của các Đấng sáng lập trong đời sống thánh hiến

Một trong những khía cạnh đặc trưng cho diện mạo của Giáo hội hậu Công đồng là sự hiện diện ngày càng tăng và đầy năng động của nhiều hiệp hội, phong trào, đoàn thể và những hình thức mới của đời sống thánh hiến, mà sự đa dạng của các hình thức hiện diện này không còn có thể được sắp xếp vào những thể loại đã được xác định. Sự đa dạng của các đoàn sủng295 làm Giáo hội nên phong phú, trẻ trung, năng động hơn rất nhiều, giúp Giáo hội đáp ứng các dấu chỉ của thời đại và các nhu cầu của thế giới đương đại.

Việc bước theo Đức Ki-tô thì giống như nhau, nhưng được nhập thể trong nhiều dạng sống khác nhau. Vì thế, sự thánh thiện duy nhất có thể đạt được thông qua nhiều cách. Dọc dài lịch sử, các phương thức đặc trưng của đời sống Ki-tô hữu, nhất là đời sống tận căn Tin Mừng, phản chiếu vẻ đẹp của Giáo hội - “Tân nương trang điểm để đón Tân lang” (Kh21,1). Đời sống này là một dấu chỉ về “sự khôn ngoan muôn hình vạn trạng của Thiên Chúa” (PC s.1), biểu hiện cho “quyền năng vô biên của Chúa Thánh Thần đang hoạt động một cách đáng ngưỡng mộ trong Giáo hội” (LG s.44). Không chỉ thế! Đời sống này còn hiện tại hóa sự phong phú vô tận của chính Đức Giê-su Ki-tô trong thời gian và không gian.

Ca ngợi ân sủng cao quý của đời sống thánh hiến, Lumen Gentium khuyến khích những người được kêu gọi sống đời tu trì thật sự đem hết tâm lực, “để qua chính con người của họ, Đức Ki-tô thực sự được giới thiệu ngày càng hoàn hảo hơn cho các tín hữu cũng như cho lương dân; hoặc là Đức Ki-tô đang chiêm niệm trên núi, hoặc đang loan báo Nước Thiên Chúa cho dân chúng, đang chữa lành những kẻ đau yếu tàn tật, hay hoán cải các tội nhân trở lại với cuộc sống thiện hảo, hoặc đang chúc phúc cho trẻ em, thi ân cho mọi người và trong mọi sự luôn vâng phục thánh ý Chúa Cha, Đấng đã sai Người” (LG s.46).296 Với cùng một sự cảm kích và đầy lòng biết ơn, Đức Gio-an Phao-lô II thốt lên: “Thật là một sự phong phú khôn lường! [...] Thượng hội đồng đã gợi nhắc hoạt động không ngừng của Chúa Thánh Thần, Đấng qua nhiều thế kỷ đã tỏ lộ sự phong phú của việc thực hành các lời khuyên Phúc Âm qua nhiều đặc sủng và cũng nhờ đó, làm cho mầu nhiệm Đức Ki-tô được trường tồn trong Giáo hội và trên thế giới, trong thời gian và không gian” (VC s.5). Đức Bê-nê-đic-tô XVI giải thích sự ra đời của các hình thức khác nhau của đời sống thánh hiến như sau:

“Ở khởi điểm của những cách diễn tả khác nhau về đời sống thánh hiến luôn có một sự gợi hứng mạnh mẽ từ Tin Mừng. […] Chính Chúa Thánh Thần đã dọi ánh sáng mới của Lời Chúa cho các Đấng sáng lập nam cũng như nữ. Từ đây phát sinh mọi đoàn sủng và các Quy Luật nhằm thể hiện các đoàn sủng đó” (Xuất phát lại từ Đức Ki-tô s.24). Chúa Thánh Thần cuốn hút một số người sống Tin Mừng cách triệt để hơn và diễn dịch Tin Mừng này trong sự dấn bước cách quảng đại hơn. Thế là nảy sinh một công cuộc, một gia đình tu sĩ mà sự hiện diện trở thành một “chú giải” sống động về Lời Chúa. Do đó, Công đồng Vatican II nói rằng, sự tiến triển của đoàn sủng của đời sống thánh hiến có thể được hiểu như là sự biểu tỏ về Đức Ki-tô qua nhiều thế kỷ, như một Tin Mừng sống động được hiện thực hóa dưới những hình thức luôn mới mẻ. Trong công trình của các Đấng sáng lập nam nữ phản chiếu một mầu nhiệm, một lời nào đó của Đức Ki-tô, tỏa chiếu một nét nào đó trong diện mạo của Người vốn là diễn tả vẻ huy hoàng của Chúa Cha”.297

Trong quá khứ cũng như ngày nay, các Đấng sáng lập mặc dù ước muốn sống trọn vẹn Tin Mừng, thường chỉ có một kinh nghiệm độc đáo và dứt khoát trong việc gặp gỡ Đức Ki-tô; hoặc với sự nhạy cảm độc đáo của mình, các ngài nội tâm hóa một giáo huấn nào đó; hoặc được Thần Khí thu hút hướng tới một số bản văn hay khía cạnh Kinh Thánh cụ thể để đặt nền tảng cho diện mạo đặc trưng của họ trong Giáo hội. Bằng cách này, Thần Khí dần hình thành xung quanh họ một tinh thần, một phong cách, một lối sống và hoạt động tông đồ hay mục vụ còn được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Qua hành động thúc đẩy lối sống đồng hình đồng dạng với Đức Ki-tô và Tin Mừng của Người, Chúa Thánh Thần cũng tạo ra nơi các vị sáng lập nam - nữ một khả năng đặc biệt để đọc các dấu chỉ của thời đại. Các ngài biết cách xác định một số nhu cầu của Giáo hội và xã hội, trực cảm được những khát vọng sâu xa nhất của con người đương đại. Các ngài nhạy cảm và chú tâm đến những đau khổ và hy vọng của những người nghèo khổ và thường bị gạt ra bên lề nhất trong tình liên đới. Các ngài nắm bắt tất cả các sự kiện và tình huống, thường là phức tạp và không rõ ràng, với tầm nhìn đến từ “Trên”. Các ngài dễ dàng quan sát, phán đoán và tìm ra những cách phục vụ cụ thể theo tinh thần Tin Mừng. Hữu xạ tự nhiên hương, điều tốt tự nó lan tỏa và thu hút mà không cần tuyên truyền. Thông thường, không thể giải thích bằng cách nào và tại sao, các ngài thấy mình được bao quanh bởi nhiều người nam - nữ, là những người cùng được Thần Khí thúc đẩy và cùng chia sẻ lý tưởng với họ.

Hành trình của các Đấng sáng lập không tránh khỏi những thách thức và khó khăn. Được Chúa Thánh Thần thúc đẩy, các ngài không chỉ chạy với sự thúc đẩy của tình yêu trên những con đường đã được mở sẵn trong Giáo hội, nhưng các ngài còn nỗ lực mở đường tiên phong với tất cả sự mạo hiểm và lòng can đảm. Các ngài di chuyển trong một địa hình bất ổn, khai mở một nguồn mạch tâm linh mới, đồng thời mở ra một con đường chưa từng có trong việc nên đồng hình đồng dạng với Đức Ki-tô. Vì lý do này, ngay cả tiến trình phân định tính xác thực của đoàn sủng cũng không đơn giản, tuy nhiên, như bậc thầy Ga-ma-li-en đã nói một cách khôn ngoan, nếu một sáng kiến đến từ Thiên Chúa, nó sẽ phát triển dẫu phải vượt qua những trở ngại và nghịch cảnh (x. Cv 5,34-39).

Quan sát các hình thức lịch sử của đời sống thánh hiến, người ta có thể ghi nhận sự xuất hiện của một mô hình nào đó. F. Ciardi mô tả điều đó như thế này: một Tu hội hay một Gia đình tu sĩ được sinh ra từ “một đoàn sủng là ánh sáng tỏa xuống trên một người để biến đổi người ấy thành một Tin Mừng sống động. Qua người này, đoàn sủng ấy trở thành xác thịt, sự sống, hoạt động. Khi người này bộc lộ mình có khả năng hướng dẫn những người khác đi trên cùng một con đường, bằng cách làm cho họ trở thành những người chia sẻ cùng một kinh nghiệm và hướng họ đến Tin Mừng được tiếp nhận trong tất cả sự mới mẻ, để tất cả trở thành một Lời hằng sống duy nhất, trở nên một đoàn sủng được chinh phục bởi một “tập thể” có phẩm chất, có thể được chuyển trao và tồn tại theo thời gian”.298 Nhưng quá trình chuyển trao này diễn ra như thế nào?

2. Sự chuyển trao bằng sức thu hút

Tất nhiên, cách chính để chuyển trao kế hoạch Tin Mừng cụ thể mà Đấng sáng lập đã sống là mã hóa kế hoạch sống đó trong Qui chế hay Hiến luật của Hội dòng. Tương tự việc thiết định Lời Chúa trong các bản văn viết của Kinh Thánh, đoàn sủng cũng được mã hóa trong các văn bản mang tính quy phạm như thế. “Nhờ Chúa Thánh Thần, Kinh Thánh đã được viết ra; cũng chính Người đã dùng một ánh sáng mới để chiếu rọi Lời Chúa cho các Đấng sáng lập nam cũng như nữ. Mọi đoàn sủng phát sinh từ Lời Chúa và mọi quy luật đều muốn là nét diễn đạt của Lời Chúa, nhằm khai sinh những linh đạo Ki-tô hữu với đặc điểm là sống triệt để theo Tin Mừng” (VD s.83). Hiến luật hoặc Qui chế thể hiện bản sắc của Hội dòng và chất chứa kinh nghiệm của thời nguyên thủy, của cuộc gặp gỡ với Đấng sáng lập.299 Chính M. D. Mazzarello rất quý trọng Hiến luật, Thánh nữ xem đây là “sự hướng dẫn chắc chắn đưa đến thiên đàng” (Thư số 67,6), vì thế, nó cần được tuân thủ “với sự xác đáng” (Thư số 22,1; 65,1), “từng dấu chấm phẩy” (Thư số 66,1). Thánh nữ nói với các chị em: “Các con đã nghe Mẹ nói nhiều lần về những gì được viết trong luật thánh của chúng ta. Hãy nhớ những gì Mẹ đã nói với các con, hãy thực hành và các con sẽ có Mẹ ở giữa các con; và Mẹ sẽ thực sự ở giữa các con trong suy nghĩ, trong tình mến và trong lời cầu nguyện”.300 Có một sự đồng hóa các Đấng sáng lập nam - nữ với Qui luật, vốn được xem như sự kéo dài đời sống của họ, như hiện thân tinh thần của họ.

Tuy nhiên, cũng như việc truyền tải bản văn Kinh Thánh mà thôi thì chưa đủ, Qui chế hay Hiến luật cũng không đủ để “làm cho trở nên môn đệ” (x. Mt 28,19) của Đức Ki-tô. Cần sự truyền đạt một kinh nghiệm sống, lưu truyền một đoàn sủng vượt ra ngoài khuôn khổ của bản văn, cần khơi dậy tình yêu, thông truyền niềm đam mê, sản sinh một động lực theo nghĩa của bản văn 2Cr 5,14: “Tình yêu Đức Ki-tô thúc bách chúng ta”.

Việc thông truyền sự sống và tình yêu, việc chuyển trao một điều gì từ bản thân cho người khác thì không có những chu trình ứng dụng, không có các phương pháp được thiết lập sẵn hoặc các môi trường cố định, mà lại thường vượt ra những dự định và hoạt động nhắm đến. Nếu dùng các biểu tượng Phúc Âm thì việc thông truyền chứng tá tựa như muối và ánh sáng (Mt 5,13-16), như thành được xây trên núi (Mt 5,14), như hương thơm ngào ngạt khắp nhà (Ga 12,3). Cả nơi người chuyển trao cũng khó phân biệt được sự chủ tâm và sự vô ý thức. Hành động cho và nhận, chuyển giao và thừa kế của con người luôn tiềm ẩn một biên độ lớn rất khó đoán, bất ngờ và đầy bí ẩn. Do đó, lời khôn ngoan của Chúa Giê-su có giá trị: “Lòng có đầy thì miệng mới nói ra. Người tốt lấy ra những điều tốt từ kho tàng tốt của lòng mình” (Mt 12,34-35). Một cuộc sống tốt và một cõi lòng tốt chỉ có thể lan truyền những điều tốt đẹp. Các Ki-tô hữu thì có “tình yêu Thiên Chúa tuôn đổ vào lòng nhờ Thần Khí” (Rm 5,5).

Nói về Tình yêu Thiên Chúa, Đức Bê-nê-đic-tô XVI đã có những lời rất sáng suốt ngay từ thông điệp đầu tiên của ngài. Sau khi trích bản văn 1Ga 4,16: “Thiên Chúa là tình yêu. Ai yêu thì ở trong Thiên Chúa và Thiên Chúa ở trong người ấy”, ngài bình luận bằng những lời sắc bén này: “Chúng ta đã tin vào tình yêu của Thiên Chúa - đây là cách người Ki-tô hữu có thể diễn tả sự lựa chọn cơ bản của cuộc đời mình. Vào lúc bắt đầu trở thành một Ki-tô hữu, không có một quyết định đạo đức hay một ý tưởng vĩ đại nào, nhưng là bắt đầu cuộc gặp gỡ với một biến cố, một Con Người - Đấng mang lại cho cuộc sống một chân trời mới và cùng với một hướng đi quyết định”.301 Ai loan truyền tình yêu phải tin vào tình yêu và phải có kinh nghiệm gặp gỡ với tình yêu: Đức Giê-su Ki-tô. Đức Thánh Cha cũng có một câu nói nổi tiếng khác với cùng ý tưởng: “Giáo hội không phát triển nhờ cải đạo, nhưng nhờ sự thu hút”.302 Việc loan báo Tin Mừng được thực hiện nhờ sự thu hút. Kể cả việc truyền đạt đức tin, tình yêu, kinh nghiệm gặp gỡ Đức Ki-tô, đoàn sủng của Chúa Thánh Thần trong đời sống thánh hiến cũng được thực thi thông qua sự thu hút.

Ý tưởng về sự thu hút tràn ngập trong Tông huấn Vita consecrata của Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II. Ngài đã trình bày đời sống thánh hiến dưới một góc độ thẩm mỹ: Đời sống thánh hiến “phản ánh vẻ huy hoàng của tình yêu Thiên Chúa” (VC s.24). Nó là “một trong những dấu vết cụ thể mà Chúa Ba Ngôi để lại trong lịch sử, để con người có thể cảm nhận được sức hấp dẫn của vẻ đẹp thần linh và đầy lưu luyến của nó”. Những người thánh hiến được mời gọi đến một “sự hiện hữu được biến đổi”, có khả năng “làm hiển hiện những kỳ công Thiên Chúa thực hiện nơi nhân tính mỏng dòn của những kẻ được Người kêu gọi” (VC s.20).

Trong Kinh Thánh, ơn gọi thường được cảm nhận như một kinh nghiệm không thể diễn tả, đầy kinh ngạc, diệu kỳ, ngất ngây. Đây không chỉ là việc mạc khải một chân lý phải được chấp nhận với sự tán thành của trí năng, cũng không phải là một mệnh lệnh phải thi hành, một nhiệm vụ phải làm, một não trạng phải đảm nhận, một thái độ phải vun trồng: ơn gọi thì vượt xa tất cả điều trên. Đó là sự hấp dẫn thiêng liêng. Chính Chúa Cha lôi kéo chúng ta đến với Chúa Giê-su: “Không ai có thể đến với tôi nếu Chúa Cha, Đấng đã sai tôi, không lôi kéo họ” (Ga 6,44). Chính Chúa Giê-su đã lôi cuốn và thu hút bằng con người, lời nói và việc làm của Người để biết bao nhiêu người mở lòng đón nhận Thiên Chúa bằng sự đơn sơ và chân thành của con tim. Đỉnh cao của sự hấp dẫn này diễn ra trên thập giá, biểu hiện tột đỉnh của tình yêu. Chính Chúa Giê-su nói: “Khi tôi được nâng lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi” (Ga 12,32).

Thánh sử Gio-an đặc biệt nêu bật sức thu hút của Đức Giê-su khi Ngài kêu gọi các môn đệ đầu tiên (Ga 1,35-51). Có một chuỗi năng động tiếp nối nhau rất thú vị. Mở đầu là Gio-an Tẩy Giả, người “thấy Chúa Giê-su tiến về phía mình” (Ga 1,29), và sau đó “nhìn chằm chằm vào Chúa Giê-su” (Ga 1,36) tuyên bố hai lần: “Đây là chiên Thiên Chúa”. Với sự khiêm tốn và cương nghị, Gio-an đóng vai trò là người chỉ đường, là nhịp cầu khuyến khích người khác đến với Đức Giê-su. Hai môn đệ của ông lập tức đi theo Đức Giê-su; một trong số họ là An-rê, người sau đó đã đưa em trai là Si-mon Phê-rô đến với Đức Giê-su. Phi-lip-phê cũng làm như vậy với Na-tha-na-en. Gần như tự phát, cuộc gặp gỡ với Đức Giê-su kéo theo việc chạy báo cho anh em hoặc bạn hữu. Trước khi thu hút người khác đến với Đức Giê-su, chính các chứng nhân là những người đã được Đức Giê-su thu hút. Họ giới thiệu cho người khác sức hút của Đức Giê-su mà chính họ đã kinh nghiệm. Những vị sáng lập các gia đình tu sĩ cũng thế: các ngài thông truyền sức lôi cuốn của Đức Giê-su, thu hút người khác đến với Đức Giê-su khởi đi từ kinh nghiệm bị thu hút của chính mình… và thế là một chuỗi thế hệ được hình thành. Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II đã đúng khi nói rằng việc chăm sóc mục vụ ơn gọi “nhằm mục đích giới thiệu sức thu hút của Đức Giê-su và vẻ đẹp của sự hiến thân trọn vẹn cho Tin Mừng theo gương của các Đấng sáng lập” (VC s.64). Nói riêng về người trẻ thánh hiến, Đức Thánh Cha khẳng định: “Thế giới và Giáo hội đang tìm kiếm những chứng nhân đích thực của Đức Ki-tô. [...] Tình yêu say đắm dành cho Đức Giê-su Ki-tô là một sức hút mạnh mẽ đối với những người trẻ khác, những người mà, với lòng từ ái, Đức Giê-su kêu gọi theo sát Người hơn và sống với Người mãi mãi. Những người đương thời của chúng ta muốn nhìn thấy nơi những người tận hiến niềm vui đến từ việc được ở với Chúa” (VC s.109).

3. Tô màu cho bản phác thảo

Thực tại của việc chuyển trao không chỉ liên quan đến đời sống thánh hiến, mà còn liên quan đến lãnh vực trí thức, xã hội, văn hóa, gia đình. Việc này mời gọi sự tham dự của các bậc cha mẹ, các nhà giáo dục, những người đào luyện, các bậc thầy tâm linh, v.v... Tóm lại, mời gọi bất kỳ ai muốn đặt nền cho ý nghĩa cuộc sống và công việc của bản thân dựa trên sự lâu dài và tầm nhìn tương lai. Vì thế, việc chuyển trao cho thấy một năng động lực quan trọng, một bước chuyển đến tương lai.

Các Đấng Sáng lập Hội Dòng Con Đức Mẹ Phù Hộ có ý thức gì về kho tàng mà các ngài có, về hồng ân thiêng liêng để lưu truyền cho mai sau? Đâu là cách thức thông truyền của các ngài?

“Các con sẽ hoàn thành công việc mà Cha đã bắt đầu. Cha phác họa còn các con tô màu. [...] Đây: bây giờ Cha làm một bản phác thảo của Hội dòng và Cha sẽ để lại cho những người đến sau Cha làm một bản tốt đẹp hơn. Bây giờ, hạt giống đã có rồi”. Cha Bosco nói điều này vào một ngày năm 1875, khi Tu hội Sa-lê-diêng được củng cố, phát triển nhanh chóng và Hội dòng FMA cũng đang khởi sắc. Ngài nhận thức được bản thân đang ở điểm bắt đầu của một hành trình phong nhiêu, ngài biết mình đang có một món quà quý giá để chuyển trao, một hạt giống để làm cho lớn lên.

“Miễn là chúng con không làm hỏng việc Cha Bosco làm!” Cha Barberis hiện diện hôm đó đã trả lời (MB XI 309). Đây là một ví dụ đẹp về “sự chuyển trao”!

Người chuyển trao thì chuyển một cái gì đó của mình cho người khác. Người ấy làm điều đó với sự khiêm tốn và tin tưởng. Người ấy chia sẻ một thứ gì đó quý giá, gần gũi với mình nhưng siêu việt trên mình, không bắt nguồn từ chính mình, không thuộc quyền sở hữu hoặc dưới sự kiểm soát của mình. Điều này gợi nhớ đến sứ vụ của tông đồ Phao-lô, “người sáng lập” nhiều cộng đoàn trong những thập kỷ đầu tiên của Ki-tô giáo. Thánh Phao-lô sử dụng một hình ảnh gợi ý: “kho tàng này chúng tôi đựng trong bình sành, để chứng tỏ quyền năng phi thường phát xuất từ Thiên Chúa, chứ không phải từ chúng tôi” (2Cr 4,7). Rõ ràng và xác tín về ý nghĩa thừa tác vụ của mình, Thánh Phao-lô đã tranh luận với các tín hữu Cô-rin-tô đang có nguy cơ đánh mất vị trí trung tâm tuyệt đối của Đức Giê-su Ki-tô, khi họ quá đề cao vai trò của những nhà giảng thuyết và thầy dạy nổi tiếng, chẳng hạn như vai trò của A-pô-lô và của chính Phao-lô: “Tôi trồng, A-pô-lô tưới, nhưng chính Thiên Chúa mới làm cho lớn lên. Vì vậy, kẻ trồng người tưới đều không đáng giá gì, nhưng chỉ có Thiên Chúa là Đấng làm cho lớn lên, mới đáng kể” (1Cr 3,6-7). “Chúng tôi là những cộng tác viên của Chúa”, chắc chắn như thế, vì là “những tôi tớ, mà nhờ họ anh em đã đến với đức tin” (1Cr 3,5), họ có vai trò trung gian của hoạt động thiêng liêng trong dòng lịch sử.

Ai tiếp nhận thì biết ơn, ngoan thuần, chu đáo và trách nhiệm, kèm theo chút lo sợ khi “hưởng nếm” món quà quý. Người đó biết rằng phải làm thành của riêng mình tài sản được thừa kế, tuy nhiên không phải bằng cách giữ nó nguyên vẹn qua thời gian, giống như người đầy tớ biếng nhác trong dụ ngôn các nén bạc (x. Mt 25,14-30), nhưng với nhiệm vụ “tô màu cho bản phác thảo”. Người đó sẵn sàng tiếp tục con đường đã được vạch ra với “sự trung thành sáng tạo”, đâm rễ sâu trong quá khứ để có thể dự phóng cho tương lai.

Có lẽ giống và hơn cả Cha Bosco, Maria Domenica Mazzarello - “Đấng Đồng Sáng lập” - ý thức sâu sắc bản thân đã nhận được một hồng ân phi thường từ Thiên Chúa, vì vậy, hồng ân này phải được trao ban. Thánh nữ cảm thấy mạnh mẽ trách nhiệm phải “làm gương tốt”, một thành ngữ được sử dụng không dưới 25 lần trong 68 lá thư của Thánh nữ và chuyển trao tinh thần đích thực của Hội dòng cho các thế hệ tương lai, vì vậy Thánh nữ cảm thấy phải làm chứng và làm trổ sinh:

“Nếu điều Cha Bosco nói trở thành hiện thực, thì Hội dòng của chúng ta sẽ lan rộng khắp thế giới; chúng ta cũng sẽ đi xa đến tận Mỹ châu. Tuy nhiên, nếu chúng ta muốn luôn lưu giữ cùng một tinh thần và luôn thực hiện những điều tốt đẹp, thì điều cần thiết là chúng ta, những người đầu tiên của Hội Dòng, không chỉ là những người đạo đức, mà còn là tấm gương cho những người đi sau thấy được sự phản chiếu tinh thần đích thực của Hội dòng. Chúng ta phải sống, làm việc, nói năng thế nào để họ có thể và phải nói: “Các chị em tiên khởi của chúng ta nhiệt thành làm sao! Trung thành đến thế!... Thật là một tinh thần khiêm nhường và khó nghèo... Thật là vâng lời!”. Như thế, theo gương của chúng ta, họ có thể tiếp tục làm cho tinh thần đích thực của Hội dòng được sống giữa họ. Bởi vì, các con phải biết rằng, khi số các nữ tu gia tăng, họ sẽ khó có được sự nhiệt thành mà chúng ta có được khi số lượng ít. Khi số các nữ tu gia tăng và Hội dòng triển nở, tinh thần nhất thiết phải chịu đau khổ, lòng nhiệt thành và sự nhiệt tâm sẽ dần giảm sút. Cha Bosco đã cho thấy, điều này đã xảy ra với nhiều Hội Dòng. Tuy nhiên, nếu chúng ta là những người tiên khởi bắt đầu buông thả, nếu chúng ta không yêu thương, nếu chúng ta không thực thi sự khiêm nhường và khó nghèo, nếu chúng ta không giữ thinh lặng, nếu chúng ta không sống kết hiệp với Chúa, thì những người khác sẽ ra sao?”303

Nhìn về Maria Domenica Mazzarello

_________________________________________________

Sau cái chết của M. D. Mazzarello, một bài báo ngắn đã được đăng trên tờ Unità Cattolica của Torino (ngày 21 tháng 5 năm 1881), chúng ta đọc thấy như sau: “Thánh nữ là một người nữ được ban cho những ân điển đặc biệt trong việc hướng dẫn các linh hồn, đến nỗi trong một thời gian ngắn, Thánh nữ đã có thể mang lại sự phát triển cho Hội dòng mới, làm cho chính Đấng Sáng lập cũng phải kinh ngạc”.

Sự đóng góp của M. D. Mazzarello trong việc khai sinh và củng cố Hội dòng Con Đức Mẹ Phù Hộ rất đặc biệt. Hiến Luật xác định: Với các chị em tiên khởi, Thánh nữ đã sống kế hoạch của Đấng sáng lập trong sự trung thành sáng tạo, nhờ đó khơi nguồn cho “tinh thần Mornese”, một tinh thần vẫn phải là nét đặc trưng cho dung mạo của mỗi cộng thể chúng ta hôm nay. Chính vì thế, Thánh nữ đã được Hội Thánh nhìn nhận là Mẹ và “Đấng đồng sáng lập” (HL 2). Sự phát triển, sự mở rộng mà Thánh nữ đã mang lại cho Hội dòng đã được lịch sử ghi lại; nhưng điều làm cho Cha Bosco kinh ngạc không chỉ ở điều này: mà trên hết là ở sự trưởng thành thiêng liêng, “sự trung thành sáng tạo”, ở “tinh thần Mornese” đã được Thánh nữ thiết lập trong cộng đoàn tiên khởi - một tinh thần đầy tươi mới và năng động đã được hình thành và chuyển trao từ thế hệ này sang thế hệ khác.

“Tinh thần Mornese” có nguồn gốc sâu xa từ Lời Chúa là nền tảng của mọi linh đạo Ki-tô giáo. Việc canh tân đời sống tu trì do Công đồng Vatican II cổ võ bao hàm sự trở về với hai nguồn: về với Tin Mừng và với tinh thần nguyên thủy của mỗi Hội dòng như đã được các Đấng sáng lập sống (x. PC s.2). Thực vậy, đây không phải là hai nguồn khác nhau, nhưng nguồn thứ hai vọt trào từ nguồn tuyệt đối: tinh thần của những vị sáng lập bắt nguồn từ tinh thần Phúc Âm. Như vậy, việc trở lại với “tinh thần Mornese” không thể tách rời khỏi việc trở lại với tính tận căn, tính xác thực của Tin Mừng.

Dịp kỷ niệm 150 năm thành lập Hội Dòng có thể mang đến cho mỗi người Con Đức Mẹ Phù Hộ cơ hội tái xuất phát từ nguồn cội và làm cho nguồn này được tuôn trào một cách tươi mới, mang lại lợi ích cho các thế hệ trẻ.

Kết luận

Lời Chúa, tự nó có một tiềm năng mà chúng ta không thể lường trước được. Tin Mừng nói về một hạt giống, một khi được gieo xuống, sẽ tự mọc lên, ngay cả khi người nông dân đang ngủ (x. Mc 4,26-29). Giáo hội phải chấp nhận sự tự do khó nắm bắt này của Lời, Lời có hiệu quả theo cách riêng và với những hình thức rất khác nhau vượt khỏi những dự đoán của chúng ta và phá vỡ các kế hoạch của chúng ta” (EG s.22).

Đây là những cách diễn đạt rất đẹp, có khả năng soi sáng và khơi nguồn cảm hứng mà Đức Thánh Cha Phan-xi-cô đã dùng để bày tỏ niềm tin tưởng của ngài vào quyền năng của Lời Chúa và sự ngạc nhiên của ngài trước nhiều cách thức mà Lời hoạt động. Cũng chính Đức Thánh Cha, trong bài phát biểu ngày 22 tháng 10 năm 2021, nhân dịp bế mạc Tổng Tu nghị XXIV của Hội dòng Con Đức Mẹ Phù Hộ, đã trìu mến khuyến nghị:

“Đừng quên ân sủng của nguồn cội, sự khiêm tốn và nhỏ bé của những khởi đầu đã làm cho hành động của Thiên Chúa trở nên minh bạch trong cuộc sống và trong sứ điệp của những người đã khởi xướng cuộc hành trình này với đầy kinh ngạc”.

“Sự tự do khó nắm bắt của Lời” đã hoạt động nơi Maria Domenica Mazzarello. Chính Thánh nữ là người đầu tiên trong số những người “khởi xướng cuộc hành trình” với đầy kinh ngạc. Thánh nữ là biểu tượng của sự “khiêm tốn và nhỏ bé của nguồn cội”. Thiên Chúa đã chọn Thánh nữ và biến đổi Thánh nữ thành một Tin Mừng sống động, dù có lẽ Thánh nữ chưa bao giờ cầm trên tay bản in của Tin Mừng. Thánh nữ đã làm cho Tin Mừng mà mình không được đọc cách trực tiếp trở nên có thể đọc được đối với người khác, đặc biệt là những người đơn sơ giản dị. Ngay cả cộng đoàn Con Đức Mẹ Phù Hộ tiên khởi do Thánh nữ dẫn dắt cũng đã trở thành một cánh đồng hoạt động và phát triển phong nhiêu của Lời. Bằng cách nào? Chúng ta hy vọng có thể đón nhận được điều này trong các chương tiếp theo của tập sách với cùng một cảm giác kinh ngạc, tôn kính và biết ơn như Đức Thánh Cha đã bày tỏ.


Chú thích

295 Thuật ngữ "đoàn sủng” được chứng thực rõ ràng trong Tân Ước, đặc biệt trong các thư của Thánh Phao-lô tuy nhiên với nhiều ý nghĩa. Thuật ngữ này chỉ được áp dụng cho đời sống thánh hiến trong huấn quyền sau Công đồng Vatican II. Đc Nardello Massimo, I carismi forma dell’esistenza cristiana. Identità e discernimento, Bologna, Dehoniane 2012.

296 Ở đây tài liệu nhắc lại điều mà Đức Pi-ô XII đã đề cập trong thông điệp Mystici Corporis Christi năm 1943: “Hơn nữa, khi đón nhận các lời khuyên Phúc Âm, Giáo hội tái hiện nơi mình sự khó nghèo, vâng phục và thanh khiết của Chúa Cứu Thế. Qua nhiều thể chế khác nhau mà Giáo hội như được tô điểm bằng những viên ngọc quý; một cách nào đó, Giáo hội tỏ lộ Đức Ki-tô trong hành động chiêm niệm trên núi, rao giảng cho các dân tộc, chữa lành bệnh nhân và những người bị thương, kêu gọi những người tội lỗi trở về với Chúa, làm điều tốt cho mọi người. Vì thế, không có gì ngạc nhiên nếu Giáo hội bao lâu còn tồn tại trên trái đất này, cũng phải trải qua những cuộc bách hại, những đau khổ và cực nhọc vì noi gương Đức Ki-tô”.

297 BÊ-NÊ-DIC-TÔ XVI, Sứ điệp Ngày Thế giới Đời sống Thánh hiến lần thứ XII, 02.02.2008.

298 Ciardi Fabio, Carismi. Vangelo che si fa storia, Roma, Città Nuova 2011, 28. Đc anche Cùng một tác giả, I fondatori uomini dello Spirito. Per una teologia del carisma di fondatore, Roma, Città Nuova 1982; Cùng tác giả, In ascolto dello Spirito. Ermeneutica del carisma dei fondatori, Roma, Città Nuova 1996.

299 Đc Cavaglià Piera, Le Costituzioni delle Figlie di Maria Ausiliatrice: Progetto di vita evangelica e specchio del carisma salesiano, trong Ko Ha Fong Maria, La forza delle radici. La Parola di Dio nel Progetto di vita delle Figlie di Maria Ausiliatrice, Teramo, Palumbi 2021, 21-38.

300 Hồi sử III 336.

301 Deus caritas est 1. ĐTC Phan-xi-cô trích dẫn những lời này trong Evangelii Gaudium số 7; với ngài, những lời này “đưa dẫn đến trung tâm của Tin Mừng”.

302 ĐTC BÊ-NÊ-DIC-TÔ XVI, Bài giảng trong Thánh Lễ Khai mạc Hội nghị thứ V của Hội đồng Giám mục Châu Mỹ Latinh và vùng Ca-ri-bê tại Đền thờ “La Aparecida”, 13.05.2007. Những lời này cũng được ĐTC Phan-xi-cô nhắc lại trong Evanglii Gaudium số 14 và 131.

303 Maccono I 399-400.


FMA Logo

Địa chỉ: 57 Đường số 4, Khu phố 56, P. Tam Bình, TP. Hồ Chí Minh

Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về email: libraryfmavtn@gmail.com

Liên Kết

Truyền Thông FMA

Copyright Dòng Con Đức Mẹ Phù Hộ © 2026