32. Vườn nho
Năm 1868; MB. IX, 157
Các học sinh khác nhau trong các nhà của chúng ta đang bị những nết xấu hành hạ.
Vào đêm thứ Năm Tuần Thánh (ngày 9 tháng 4), khi cha đang ngủ, cha thấy mình đứng ở cổng nguyện xá, có các cha, các thầy và các thanh thiếu niên vây quanh. Bỗng dưng cảnh tượng thay đổi, và cha chỉ còn thấy cha Rua, Cagliero, Francesia cùng vài người khác.
Bất thình lình, cha thấy nguyện xá của chúng ta biến đổi, mang dáng vẻ của những ngày tiên khởi. Trong khi chúng ta đang bàn về các công việc của nhà, thì từ dưới đất mọc lên một vườn nho xinh đẹp. Vườn nho này giống hệt như vườn nho trong các giấc mơ trước đây. Vườn nho cứ cao lớn dần tới tầm mắt, nghĩa là cao khoảng bằng một người lớn. Cành của các cây nho tỏa ra, che phủ cả sân chơi của chúng ta, tạo thành một vòm rợp bóng tuyệt đẹp. Lá nho xanh tươi, còn cành thì hết sức kỳ diệu, nặng trĩu những chùm nho chín mọng.
Bỗng dưng, tất cả mọi quả nho rụng lả tả xuống đất, và dần dần những trái nho ấy biến thành các thiếu niên vui tươi, sống động. Chỉ trong nháy mắt, số thiếu niên đông đảo đến mức chật kín cả sân chơi. Ngay trong chính sân này có đầy đủ các thiếu niên hiện đang ở, đã từng ở, hoặc sẽ vào nguyện xá và các nhà khác của chúng ta, vì có một số rất đông mà cha chưa từng thấy mặt bao giờ. Sau đó, cha nhận ra bên cạnh mình cũng có sự hiện diện của người lạ dẫn đường quen thuộc trong các giấc mơ.
Có một chiếc khăn huyền nhiệm, giống như một chiếc màn gió, ngăn đôi và che khuất không cho cha nhìn thấy sân chơi, mà chỉ thấy được vườn nho thôi.
Một lúc sau, các thiếu niên ngừng cuộc chơi, và một sự yên lặng u sầu, buồn bã bao phủ khắp nơi. Người dẫn đường chỉ vào vườn nho và nói: “Cha xem kìa.” Lúc đó, cha tiến gần về phía vườn nho có vẻ sai quả, nhưng sự thật khi đến gần thì chỉ toàn là lá. Trên những chiếc lá có viết lời của Phúc Âm: “Không tìm thấy nơi đó cái gì cả.” Ngạc nhiên, cha quay sang hỏi người lạ mặt: “Vườn nho này tượng trưng cho cái gì vậy?”
Thay vì trả lời cha, người lạ mặt vén chiếc khăn lên, và ở bên kia cha thấy một số ít thanh thiếu niên, mà phần đông cha không biết mặt. Người lạ nói với cha:
- Thưa cha, đây là số thiếu niên không muốn làm vui lòng Thiên Chúa, dù rằng chúng có rất nhiều dịp để lập công. Chúng chỉ làm bộ ra vẻ đạo đức, cốt để được tiếng là tốt, để khỏi bị bạn bè chê cười. Chúng giữ luật nhà một cách nghiêm nhặt, nhưng chỉ vì sợ bị khiển trách hay mong được bề trên khen ngợi. Chúng tỏ vẻ tôn kính các bề trên có trách nhiệm hướng dẫn mình, nhưng thực ra, những lời khuyên bảo, dạy dỗ hay khích lệ của các bề trên chẳng đem lại kết quả gì nơi chúng. Ngay cả sự chăm sóc tận tình của các bề trên, chúng cũng không đón nhận cách hữu ích. Lý tưởng mà chúng theo đuổi chỉ là làm sao để được người khác khen ngợi và tìm kiếm lợi ích riêng cho bản thân. Tuy được Thiên Chúa kêu gọi, nhưng chúng không thèm để tâm, lại còn từ chối tiếng Chúa, vì chúng không chịu học hỏi hay tìm kiếm ơn gọi riêng của mình. Nói tóm lại, đây là những thiếu niên sống trái với lương tâm, và chính vì thế, chúng không xứng đáng được hưởng sự sống đời đời. Thật đáng thương biết bao, vì chính trong đám thiếu niên này cha nhận ra một số thiếu niên từ trước tới giờ cha tưởng là tốt lành, dễ thương, dễ mến, và thành thật.
Người dẫn đường quay lại nói với cha: “Đây chưa phải là tất cả những điều xấu đâu.” Nói xong, người lạ bỏ chiếc khăn xuống, và vườn nho lại hiện ra trước mặt cha. Người lại nói: “Cha xem kìa.”
Cha chăm chú nhìn và quan sát kỹ, cha thấy lấp ló giữa các kẽ lá có khá nhiều chùm nho. Thoạt nhìn, chúng có vẻ đầy hứa hẹn cho một mùa nho sai trái. Nhưng khi cha đến gần và quan sát kỹ hơn, cha thấy những chùm nho ấy đã úa tàn: một số bị mốc thối, số khác đầy bọ và côn trùng lúc nhúc; một số thì bị chim ăn và bọ hung đục rỉa, số còn lại thì đã ủng và khô héo. Sau khi quan sát hết, cha chẳng còn hy vọng tìm được một chùm nho nào tươi nguyên. Hơn nữa, cái mùi chua thối từ chúng xông ra chỉ làm đục và đầu độc cả không khí để thở.
Sau đó, người lạ vén chiếc khăn lên lần nữa, cha thấy toán thiếu niên ấy đang ở dưới các dàn nho. Toán thiếu niên này trước đây có gương mặt xinh xắn, tươi đẹp, thì giờ đây trở nên xấu xí, đen đủi, lại mang đầy những vết thương ghê rợn. Chúng đi đi lại lại dưới dàn nho mà không đứa nào nói với nhau nửa lời. Cha quay sang hỏi người dẫn đường:
- Tại sao toán thiếu niên này trước đây vui tươi và xinh đẹp như thế, mà bây giờ bỗng trở nên buồn rầu và xấu xa đến thế?
- Vì đấy là hậu quả của tội lỗi. Cha hãy quan sát kỹ xem. Người dẫn đường trả lời.
Quả thật, cha thấy trên trán và ở bàn tay của tất cả các thiếu niên ấy đều có dấu vết của những tội lỗi mà chúng đã phạm. Giữa đám đông, có một số khiến cha phải rùng mình, khiếp sợ. Trước kia, cha vẫn tưởng những thiếu niên này là gương mẫu về nhân đức, nhưng giờ đây cha mới biết linh hồn chúng đang chất chứa đầy tội lỗi. Lần lượt, từng đứa đi ngang qua mặt cha, và cha đọc được trên trán chúng những dòng chữ: thiếu nết na, làm gương mù, hung dữ, kiêu ngạo, lười biếng, tham ăn, ghen tương, giận dữ, báo thù, phạm thượng, thiếu lòng đạo đức, bất phục tùng, phạm sự thánh, ăn cắp…
Người dẫn đường quay lại, dặn rõ cha:
- Thật ra, không phải tất cả các thiếu niên ấy đều đang ở trong tình trạng như cha thấy đâu. Nhưng nếu chúng không sửa đổi tính nết, thì chẳng mấy chốc chúng sẽ rơi vào tình trạng ấy. Có nhiều thứ tội trong số các tội vừa kể trên. Tuy không phải là những tội nặng, nhưng dù sao, chúng cũng dẫn đến những cuộc sa ngã kinh khủng và sẽ bị luận phạt đời đời. Ai khinh thường điều nhỏ mọn thì dần dần sẽ sa vào điều nặng. Tội tham ăn có thể dẫn đến tội mất đức trong sạch; khinh thường các bề trên sẽ sinh ra thái độ khinh thường các linh mục, rồi đến khinh thường Giáo hội, và sau đó…
- Cha làm gì vậy?
- Tôi viết những điều tôi đọc thấy ở trên trán các thiếu niên này để bảo cho chúng, như thế chúng sẽ có thể sửa đổi.
- Cha không được phép làm như vậy.
- Tại sao vậy?
- Thưa cha, những phương thế giúp các thiếu niên thay đổi nếp sống đâu có thiếu. Chúng đã có luật nhà mà chúng phải tuân giữ. Chúng có các bề trên luôn hiện diện để hướng dẫn và nâng đỡ. Chúng có các bí tích để lãnh nhận, và hằng ngày được nuôi dưỡng bằng phép Thánh Thể để giữ mình trong sạch. Hơn nữa, chúng phải biết canh phòng đôi mắt, xa lánh các bạn xấu, từ bỏ những sách báo nguy hiểm, và đừng tổ chức những cuộc đàm tiếu xấu xa. Chúng phải tuân giữ đúng giờ khi nghe chuông, đừng đánh lừa giáo sư, đừng tìm cách lẩn tránh bề trên hay coi các ngài như những ông giám thị khắt khe. Cũng đừng liệt các ngài vào hạng cố vấn gàn dở. Chúng không được lập bè phái hay tự ca khúc khải hoàn khi tưởng mình đã thành công trong việc che giấu sự bất tuân phục. Chúng cũng phải tôn kính và hăng say cầu nguyện ở nhà thờ, học hành nghiêm túc ở lớp, tham gia sinh hoạt ở nhà hội, làm việc chăm chỉ ở xưởng, và giữ một thái độ xứng hợp. Học tập, công tác, kinh nguyện — đó chính là những phương thế giúp chúng nên tốt.
Nói xong, người lạ lại bỏ chiếc màn xuống, và chúng tôi lại nhìn thấy vườn nho. Những dây nho trụi lá nhưng nặng trĩu những chùm nho chín mọng. Thật sung sướng khi được đứng ngắm cảnh tươi đẹp ấy, những chùm nho to xinh, phảng phất một hương vị ngọt ngào. Một lần nữa, người lạ vén chiếc màn lên, và cha nhìn thấy trong sân chơi rất đông các thiếu niên đang phát tỏa một nguồn vui chân thật và một vẻ đẹp kiều diễm. Người lạ nói với cha: “Thưa cha, đây là số thiếu niên mà sự chăm sóc của cha đang mang lại và sẽ còn mang lại nhiều thành quả tốt đẹp. Chúng sẽ ra tâm tập tành nhân đức và chắc chắn sẽ đem lại cho cha nhiều an ủi.”
Cha tràn ngập niềm vui sướng khi chiêm ngắm cảnh tượng này, nhưng đồng thời cha cũng không cầm được nỗi buồn dâng tràn trong lòng, vì cha thấy số thiếu niên ấy quá ít ỏi.
Ngay lúc đó thì chuông reo, giấc mơ tan đi và Don Bosco thức giấc.
VƯỜN NHO (tiếp theo)
Giấc mơ này tiếp giấc mơ trên nhưng có một khung cảnh vườn nho khác hơn. Nó diễn tả sự tàn phá do tội sống không trong sạch và kiêu ngạo.
Cùng đêm đó, Don Bosco thức giấc rồi ngủ lại, và cảnh tượng cũ lại xuất hiện cùng với các nhân vật như trước.
Khu vườn nho mà chúng ta thấy mọc lên ở giấc mơ trước, mang nặng trĩu những chùm nho giống như những chùm nho của đất hứa. Ai xem cũng phải trầm trồ khen ngợi… Cha Cagliero lại gần vườn nho, ngắt một chùm và bỏ mấy quả vào miệng nhai… Nhưng vừa nhai thì mặt cha méo mó, coi như ngài đang tởm lợm, chán ngấy, ngài đành nhổ ra ngay, làm cho mọi người ngạc nhiên.
Ngay lúc đó, xuất hiện người lạ từ nhà thờ bước ra, Don Bosco mời lại và hỏi ông ta: “Làm sao lại kỳ lạ vậy?” Người lạ không trả lời cha, ông ta đi về phía góc nhà lấy một cây gậy, rồi ông ta lần lượt trao cho cha Savio, cha Francesia, cha Cagliero, rồi đến cha Rua. Người lạ xin các ngài đập lên dây nho nhưng cha nào cũng từ chối, không dám đập. Các cha này chạy lại nấp sau lưng Don Bosco. Sau cùng, người lạ trao cây gậy cho cha Bosco và xin ngài đập.
Cha Bosco xin người lạ cắt nghĩa lý do. Người lạ nói với cha: “Cha hãy đến gần mà xem.” Cha Bosco đến và đọc thấy trên lá có viết: Ut quid terram occupat? — “Để nó chiếm đất làm gì?” Cũng giống như trong Phúc Âm, người lạ xin Cha Bosco thẳng tay trừng phạt. Người lạ lại nói: “Cha thấy chưa, xin cha hãy quan sát kỹ những quả nho mà xem.”
Cha Bosco xem thấy mỗi quả nho mang tên một học sinh và tội của học sinh đó: kiêu ngạo, bất trung thành với lời hứa, nhục dục, giả hình, chểnh mảng bổn phận, vu khống, báo thù, nguyên cớ cho kẻ khác vấp phạm. Thiên Chúa của chúng là cái bụng, chúng chỉ tìm những gì thỏa mãn thèm khát của cái bụng, chứ không tìm những điều của Chúa Giêsu Kitô. Thưa cha, đó là những quả của khu vườn này đấy. Người lạ tiến đến cha Rua, trao cho ngài cây gậy. Được Don Bosco đồng ý, cha Rua quật dữ tợn vào các dàn nho. Cha Rua vừa đập được mấy cái thì người lạ xin ngài dừng lại, rồi xin mọi người lùi lại một ít. Người lạ nói với tất cả: “Xin các cha hãy nhìn cho kỹ sẽ thấy Chúa phạt đến thế nào.” Ngay lập tức, các quả nho to phồng lên, đổi thành một màu vàng úa. Trời tối sầm lại, và một cơn giông dày đặc bao phủ khắp vườn nho. Tiếp theo sau là sấm chớp và sét đánh dữ dội, xé tan màn tối đen; gió ầm ầm nổi dậy đánh vào vườn nho, làm cho các dây nho không còn lấy một cộng lá. Sau cùng, một trận mưa đá dữ dội đổ xuống trên vườn nho và tàn phá hết mọi sự.
Cha Bosco muốn chạy đi ẩn nấp, nhưng người lạ giữ cha lại và nói: "Cha hãy quan sát trận mưa đá xem".
Thật lạ lùng quá, cha thấy những hạt mưa đá to như những quả trứng, một đầu thì nhọn, còn đầu kia thì tù. Một điều quái gở cha chưa thấy bao giờ, là những hạt mưa đá này có hạt thì đen, có hạt lại đỏ. Người lạ nói với cha: "Cha đến gần mà xem”. Cha đến gần những hạt mưa đá để xem cho rõ, nhưng vừa tới nơi, cha ngửi thấy chúng xông một mùi ghê tởm khiến cha phải thụt lùi lại ngay. Dầu vậy, vì người lạ bó buộc, nên cha cũng cố nhặt lên một cục để xem, nhưng cái mùi nó xông ra ghê tởm quá khiến cha phải vứt nó đi liền. Cha nói với người lạ:
- Tôi chẳng thấy gì cả.
- Cha xem kỹ hơn đi rồi cha sẽ thấy mà.
Sau cùng, cúi mình xuống một chút, cha đọc thấy trên cục mưa dó đen viét chữ này: "Mất đức trong sạch". Cục mưa đá đỏ tuy lạnh, nhưng nó rơi chỗ nào là đốt hết mọi cái quanh nó. Cha cũng nhặt thử một cục lên, và cha ngửi thấy cái mùi ghê rợn của nó giống với cục màu đen. Cha thấy trên cục đỏ viết chữ "Kiêu ngạo". Cha quay lại hỏi người lạ:
- Có phải hai nết xấu này tàn phá nhà chúng tôi phải không?
- Thưa cha, đúng thế, chính hai nết xấu này là hai nết xấu làm đầu, tàn sát nhiều linh hồn nhất trong các nhà của cha, và khắp cả thế gian nữa. Vào một thời gian thuận tiện, cha sẽ thấy biết bao linh hồn rơi xuống hỏa ngục vì hai tội này.
- Vậy tôi phải nói gì cho các con tôi để chúng biết chê ghét hai giống tội này?
- Rồi cha sẽ biết sau.
Vừa nói xong câu đó, thì người lạ bỏ đi. Trong khi ấy, trận mưa đá vẫn tiếp tục trút xuống và tàn phá hết vườn nho. Các chùm nho bị đè nát hết chẳng khác gì chúng ta lấy chân đạp nát vậy. Mỗi quả nho xông một thứ mùi khác nhau, theo đúng tình trạng, loại và số tội của nó mang. Không thể chịu nổi cái mùi ghê sợ này, cha phải rút khăn tay ra bịt mũi và miệng lại.
Cha quay lại nhưng không thấy ai cả. Các cha đứng với cha đã chạy ẩn nấp hết, tứ bề vắng lặng. Cha rùng mình khiếp sợ quá và cha cũng muốn cắm đầu chạy trốn thì cha giật mình thức dậy.