FMA Logo

33. Giấc mơ hỏa ngục



Năm 1868; MB. IX, 166

(Tiếp theo giấc mơ vườn nho)

Đêm hôm sau, để khỏi ngủ ngay, cha để chiếc gối sát tường và ngồi tựa lưng vào đó, vì cha sợ trí tưởng tượng của cha làm cha đi vào những giấc mộng thường xuyên.

Nhưng vì quá mệt, cha ngủ thiếp đi lúc nào không biết. Bỗng người lạ xuất hiện đến bên cạnh cha và nói với cha:

- Xin cha đứng lên và đi theo tôi.

- Cha vội đáp lời ông ta: " Tôi van ông, hãy để tôi yên, tôi đã mệt quá rồi. Mấy ngày nay tôi bị cơn đau răng ác nghiệt hoành hành, xin ông làm ơn cho tôi ngủ yên một chút, hơn nữa, tôi cũng đã quá mệt vì giấc mơ khủng khiếp".

- Xin cha dậy mau lên, chúng ta đừng để mất giây phút nào.

Cha đành đứng dậy và theo ông ta. Vừa ra đi cha hỏi người lạ: "Ông muốn dẫn tôi đi đâu bậy giờ?". "Cha cứ theo tôi rồi cha sẽ thấy ".

Người lạ dẫn cha vào một bãi cát rộng mênh mông, không thể thấy nổi ranh giới ở đâu. Nơi đây quả là một bãi sa mạc: không sinh vật, không cây cối, không bông hoa, chỉ có lơ thơ những cọng cỏ héo tàn vàng úa. Cảnh tượng này thật buồn thảm, phải không nào?

Được một lúc, cha không thấy người dẫn đường đâu nữa, và cha tưởng là mình đã bị lạc lối. May phúc thay người lạ lại xuất hiện kịp thời. Cha quay hỏi người lạ:

- Hiện tôi đang ở đâu?

- Cha cứ theo tôi rồi cha sẽ thấy.

Cha và người lạ cứ tiếp tục đi đều đều như thế qua khỏi bãi hoang vu, và sau cùng chúng tôi gặp một con đường để đi theo.

Con đường đi xuống

Ðây là một con đường thật đẹp đẽ, rộng rãi thênh thang, có lát đá trơn tru và hai bên chạy dài những dàn hoa hồng tươi xanh xinh đẹp, nở hoa rực rỡ. Mới bắt đầu đi, cha thấy con đường đầy thú vị, dễ dàng, vì thế cha mạnh mẽ tiến bước. Nhưng đi được một lúc, cha nhận ra con đường hơi dốc xuống. Dù không dốc lắm, nhưng cha cảm thấy là mình đang đi xuống, vì thế cha đi rất nhanh và dễ dàng, đến nỗi cha có cảm tưởng như mình được nhấc lên mà chân không cần cử động. Lúc ấy, cha nghĩ đến nỗi nhọc mệt, cay cực đón chờ cha khi cha leo lên ngược trở về. Cha rất lo ngại nên quay lại hỏi người lạ:

- Thế này thì chúng ta sẽ trở về Nguyện Xá bằng cách nào?

- Người đó trả lời cha: Cha đừng lo, Thiên Chúa toàn năng đã đưa cha đến đây, Ngài cũng sẽ đem cha trở về bình an.

Các cạm bẫy

Bất thình lình, cha thấy đằng sau cha tất cả thanh thiếu niên của Nguyện Xá mà nhiều em cha chưa được biết.

Trong chốc lát, cha thấy mình ở giữa đám thanh thiếu niên này, và trong khi cha quan sát chúng thì một số trong bọn chúng lần lượt theo nhau chạy như điên xuống, và khoảnh khắc chúng bị một sức thần bí kéo tuột chúng xuống lối dốc mà phía cuối kia là một lò lửa. Cha hỏi người lạ:

- Nguyên nhân nào khiến bọn trẻ này té lăn ra vậy?

- Chúng ta hãy đến gần xem.

Quả thực các thanh thiếu niên này bị các sợi dây vô hình căng sát mặt đất hay ngang tầm đầu làm bẫy khiến chúng không để ý trước được. Quá kinh hoàng, chúng nhảy lên nhưng bị té lộn nhào, và lao xuống phía vực thẳm. Cứ thế, những sợi dây vô hình quấn vào đầu, cổ, bàn tay, cánh tay, hay vào một chân với nhiều cách thức khác nhau. Và thế là rất nhiều nạn nhân đã bị sập bẫy.

Điều đặc biệt là các sợi dây căng sát mặt đất dày đặc như màng nhện. Người dẫn đường hỏi cha:

- Cha có biết nguyên do tại sao chúng té không?

- Chắc chỉ tại những sợi dây này.

- Không phải thế đâu, không cái gì khác ngoài việc " vị nể " cả.

- Làm thế nào mà những sợi dây mỏng manh như thế lại kéo được nhiều thiếu niên như thế?

- Cha tiến lên tí nữa, và cha sẽ rõ.

Cha tiến lên thêm nhưng cha không thấy gì cả. Người dẫn đường nhấn mạnh: Cha cứ nhìn kỹ hơn.

Cha cúi xuống nắm lấy một sợi dây và cố sức kéo, nhưng cho dù cha đã dồn toàn sức lực để kéo vẫn không tài nào kéo lại nổi. Hơn nữa, cha còn bị lôi xuống. Cha đi theo sợi dây và tới miệng một cái hang khủng khiếp. Đấn đây, cha dừng lại ngay để khỏi bị rơi vào cái hang khủng khiếp tối tăm ấy. Cha lại lấy hết sức lực kéo mạnh sợi dây, cha thấy sợi dây dần dần chùn lại chút ít. Thêm phấn khởi, cha nỗ lực hơn và kéo được một lát, cha thấy một con quỷ ghê tởm, to lớn ở đầu dây đang cầm chặt một sợi dây thừng trong các nanh vuốt của nó. Vì các đầu sợi dây nhỏ vô hình nối lại với sợi dây thừng.

Thế ra chính con quái vật đê hèn này đã giăng bẫy kéo tất cả những thánh thiếu niên lọt bẫy vào nơi nó. Thoạt trông thấy nó, cha mất hồn mất vía, và quay ngay trở lại với người dẫn đường. Vừa trông thấy cha, ông ta liền hỏi:

- Bây giờ thì cha biết rồi chứ?

- Phải, bây giờ thì tôi đã biết, chính ma quỷ đã giăng bẫy đánh lừa các thanh thiếu niên của tôi và lôi kéo chúng vào hoả ngục.

Cha xem xét cẩn thận các sợi dây nhỏ và cha đọc thấy trên mỗi sợi dây có ghi những điều khác nhau: dây kiêu ngạo, dây bất phục tùng, dây ghen ghét, dây điều răn thứ sáu, dây ăn cắp, dây lười biếng, dây nóng giận… Xem xong cha lùi lại một chút để xem dây nào lôi kéo nhiều nạn nhân nhất, và cha thấy đó là các sợi dây điều răn thứ sáu, sợi dây bất phục tùng và sợi dây kiêu ngạo.

Dao, kiếm và chiếc búa

Đang lúc ấy một số rất đông đua nhau chạy xuống dốc. Người lạ cắt nghĩa:

- Đây là những thiếu niên bị tính vị nể lôi xuống.

Trong khi đang xem xét các sợi dây hiểm độc ấy thì bỗng dưng cha thấy có nhiều con dao đặt rải rác đây đó, không biết bàn tay vô hình nào đã đặt chúng. Con dao lớn nhất được để bên cạnh sợi dây kiêu ngạo, tượng trưng cho việc nguyện ngắm tử tế. Và một con dao khác nhỏ hơn diễn tả việc đọc sách thiêng tử tế. Ngoài ra còn có hai thanh gươm sáng bóng tượng trưng cho lòng sùng kính phép Thánh Thể và Đức Nữ Đồng Trinh. Một chiếc búa diễn tả việc xưng tội. Cũng còn những biểu tượng diễn tả khác nhau như lòng sùng kính thánh Giuse, thánh Louis… Các thanh thiếu niên này dùng khí cụ đó để tự giải thoát mình khi chúng thấy mình bị trói, hay dùng để tự vệ, chống lại những hành động thâm hiểm bất ngờ của các sợi dây. Một vài thiếu niên đã thoát thân một cách hết sức tài tình và khéo léo giữa muôn ngàn cạm bẫy.

Vực thẳm

Khi quan sát xong cách kỹ lưỡng, người dẫn đường mới mời cha tiếp tục đi. Nhưng càng đi cha thấy hai bên hoa hồng càng hiếm, rồi dần dần chỉ còn trơ hai bờ dậu đầy gai góc nhọn hoắt nằm phơi mình dưới ánh nắng mặt trời thiêu đốt.

Đây đó rải rác những bụi gai nhọn phủ đầy mặt đất làm cản trở bước đi. Hơn nữa, bây giờ không còn là một con đường rộng nữa, mà chỉ còn là một con đường đi hẹp, đầy sỏi đá và bị trũng nhiều chỗ.

Giờ đây cha không thấy một bóng thiếu niên nào theo cha, phần đông chúng đã bỏ con đường nguy hiểm này và đi theo con đường khác dễ dàng hơn. Tuy nhiên, cha cứ tiếp tục tiến lên và nhiều lúc gặp phải những đoạn đường dốc quá, cha trượt chân ngã xoài trên đá đường. May phúc mà người dẫn đường vẫn ở bên cạnh cha và nâng cha dậy. Cuối cùng, quá rã rời và mệt mỏi, cha đành để mình ngã xuôi, nằm sóng xoài trên mặt đất. Cha kêu lên: “Thôi thế là hết, tôi không đứng lên nổi nữa, tôi không thể đi thêm được nữa.” Người dẫn đường khích lệ cha, nâng cha dậy và dìu cha đi theo ông ta. Nhưng thấy cha ướt đẫm mồ hôi, ông ta cảm thương cha và dìu cha ngồi trên một mô đất. Lợi dụng dịp nghỉ này, cha nhìn lại quãng đường vừa trải qua: cha thấy nó dốc thẳng đứng và phía sau là cả một quãng dốc khủng khiếp. Cha cũng xem quãng còn lại phải đi nữa, nhưng cha phải nhắm nghiền mắt lại, vì quá sợ hãi.

- Xin ông thương tôi cùng, chúng ta trở lại thôi. Nếu chúng ta cứ tiếp tục đi thế này thì làm thế nào mà trở lại Nguyện Xá được?

- Thế nào? Cha muốn trở về ngay à? Chúng ta đã đi được đến đây mà cha còn muốn quay trở lại sao? Nếu cha muốn thế thì cha đừng để tôi đi với cha nữa.

Sợ mất người dẫn đường, cha nói:

- Nếu không có ngài, làm sao tôi có thể quay về hay tiếp tục con đường được?

- Vậy xin cha tiếp tục theo tôi.

Cha đứng lên và cả hai tiếp tục theo con đường hẻm càng lúc càng hiểm trở hơn. Và hơn nữa, ở tận phía cuối đường là vực thẳm tăm tối. Ở thung lũng tăm tối ấy, cha nhận ra một bóng lờ mờ của một tòa lâu đài đồ sộ, và trong chốc lát, cha thấy mình đứng trước một chiếc cửa rất cao với hai cánh cửa khổng lồ. Lúc ấy, cha cảm thấy một sức nóng ngột ngạt đè nặng ngực cha, đồng thời một đám khói xanh dày đặc từ những bức tường bay ra, thỉnh thoảng phụt ra những luồng sáng đỏ như máu. Cha hỏi người lạ:

- Chúng ta đang ở đâu đây?

- Cha hãy đọc những chữ khắc trên cửa.

Cha đọc thấy những chữ này: “Nơi đây không còn sự cứu rỗi: Ibi non est redemptio”. Không còn nghi ngờ gì nữa, chúng ta đang ở hỏa ngục. Người lạ dẫn đưa cha đi dọc theo bức tường thành dài dằng dặc của tòa lâu đài kỳ lạ này. Bức tường thành này có những chiếc cửa bằng đồng, cách khoảng đều nhau, thông với nhau do những ngả đường đi vào. Mỗi đường có ghi những hàng chữ khác nhau: “Hỡi những kẻ bị chúc dữ, hãy đi vào lửa đời đời. Lửa đã sắm sẵn cho Satan và đồng bọn của hắn.” Và: “Người ta sẽ chặt những cây không sinh hoa quả và ném vào lửa.” Còn nhiều hàng chữ khác nhau tương tự như thế. Cha lấy sổ ra và định ghi lại tất cả những điều này.

- Cha làm gì đó?

- Tôi ghi những hàng chữ đó.

- Cha đừng làm thế. Vô ích thôi. Cha hãy gấp sổ lại đi. Những hàng chữ kia đều có trong sách Thánh cả. Một số câu đã được ghi ở các cửa Nguyện Xá.

Sau khi đi một vòng chung quanh, cả hai lại thấy mình ở trước cửa chính thứ nhất. Người dẫn đường bỗng kêu thét lên:

- Cha hãy lùi ra một chút và quan sát.

Hàng ngàn chiếc cửa

Cha nghe theo và giật lùi lại, và cha thấy một người đang lao hết tốc lực từ trên con đường dốc thẳng xuống, chính ở đường mà cha đã đi. Con người khốn nạn này hai tay chới với phía trước, đầu tóc rối bù, đôi mắt nhớn nhá. Hắn giống như một kẻ sắp chết đuối kêu cứu cách tuyệt vọng. Đôi lần hắn thử bám vào cành cây cạnh đó, nhưng cành cây khô gãy luôn. Đôi lần hắn cố đạp chân vào tảng đá bên đường, nhưng không một trở vật nào có thể ngăn cản hắn lao xuống nhanh như vậy.

Lúc ấy cha chỉ còn cách la lên:

- Chúng ta hãy giữ lại, cứu lấy nó. Và cha phóng mình về phía con người khốn nạn này để cứu hắn. Nhưng người dẫn đường nhanh như cắt giữ cha lại.

- Không được, mặc kệ hắn.

- Tại sao ông lại cản ngăn tôi cứu nó?

- Cha không biết sự trả báo của Thiên Chúa ghê gớm đến thế nào sao? Cha tưởng có thể giữ nổi con người đang cố chạy trốn khỏi cơn thịnh nộ của Thiên Chúa sao?

Cha thấy người thiếu niên này quay mặt lại, hình như nhìn một vật gì vô hình với đôi mắt bừng lửa: đó là cơn thịnh nộ của Thiên Chúa đang theo đuổi hắn. Lúc này cha mới nhận ra đây là một trong những thiếu niên của Nguyện Xá:

- Nhưng tại sao hắn lại quay mặt lại với vẻ khủng khiếp như thế?

- Bởi vì cơn thịnh nộ của Thiên Chúa theo đuổi tới tận đáy hỏa ngục để dày vò những kẻ bị luận phạt giữa lửa đời đời.

Bất thình lình, người thiếu niên này lao tới và đụng đầu vào cánh cửa đồng đỏ, làm cho chốt cửa chuyển động và lập tức cánh cửa mở ra với tiếng ầm ầm kinh khủng. Cha nhìn thấy phía trong như một lò than hồng đỏ rực. Người thiếu niên lao vào giữa những ngọn lửa bốc cao ngùn ngụt và nóng khủng khiếp.

Ngay lập tức, mọi cánh cửa lại tự động khép lại nhanh như lúc mở vậy. Cha lấy sổ tay ra để ghi tên người thiếu niên khốn nạn này, nhưng người dẫn đường cản ngăn cha lại: "Cha hãy quan sát kỹ hơn, như thế còn ích lợi hơn là cha viết ".

Ba thiếu niên khác vừa xuất hiện trên con đường dốc thẳng đứng, vừa lao xuống. Chúng vừa hét vừa la lên những tiếng ghê rợn. Tiếp theo sau chúng, nhiều người khác cũng lao theo xuống tùy khoảng thời gian cách đều nhau. Cha nhìn thấy một thiếu niên đáng thương bị một đứa bạn ác tâm đẩy xuống. Toán thiếu niên lao mình xuống có những đứa chỉ lao xuống một mình, có những đứa lao theo từng toán với nhau. Đứa nào cũng có tội trọng viết trên trán. Người dẫn đường quay lại nói với cha:

- Cha xem đó, một trong những nguyên cớ chính khiến cho nhiều người bị luận phạt như vậy, là vì các bạn bè xấu, sách xấu và thói quen xấu.

Cha kêu lên: “Nhưng có thể như thế được sao? Chúng tôi đã mất bao công lao khó nhọc ở các trường của chúng tôi. Dù chúng tôi đã cố làm mọi sự, mà số thiếu niên khốn nạn như vậy còn đông thế sao? Cha tha thiết thưa tiếp: “Xin ông hãy nói cho tôi biết, phương thuốc nào để tránh những thảm họa như thế?”

- Những thiếu niên này thực ra chưa sa xuống hỏa ngục, nhưng tình trạng linh hồn chúng hiện thời đáng bị luận phạt như thế, nếu chúng cứ cố tâm trong những ý định xấu xa của chúng.

- Vậy để tôi viết tên những thiếu niên này, ngay khi tôi trở về, tôi sẽ cảnh cáo chúng và tôi sẽ chỉ cho chúng đường lên trời.

- Cha tưởng là có những người khi được cảnh cáo sẽ sửa đổi tính nết sao? Có lẽ lời cảnh cáo sẽ đánh động chúng được lúc đó, nhưng rồi chúng sẽ tự nhủ: đó chỉ là giấc mơ. Và chúng sẽ trở nên xấu hơn trước. Một số khác khi thấy mình bị bại lộ, sẽ năng chịu các phép bí tích, nhưng không còn là tự nhiên, mà chỉ là vì sợ phải sa hỏa ngục, và vẫn còn dính bén với tội lỗi.

- Vậy còn phương thế nào để cứu chữa chúng nữa không? Tôi ao ước cứu lấy chúng biết bao. Ông cho tôi biết tôi sẽ phải làm gì?

- Đây : chúng có bề trên, chúng phải biết vâng lời. Chúng có luật nhà, chúng phải biết tuân giữ. Chúng có các bí tích, chúng phải biết lãnh nhận. Ngay lúc đó, một toán thiếu niên lao đầu tới, các cánh cửa hỏa ngục lại mở ra và giữ nguyên như thế một lúc. Người dẫn đường nói với cha: " Mời cha vào".

Nghe thấy lời mời bất ngờ này, cha giật mình lùi lại phía sau. Cha chỉ ao ước một điều: chóng trở về Nguyện Xá càng nhanh càng tốt để cảnh báo cho các thiếu niên biết và ngăn chúng, kẻo chúng bị luận phạt. Người dẫn đường lại tiếp:

- Mời cha vào đi, cha sẽ biết được nhiều điều. Cha muốn đi một mình hay có tôi đi theo cùng?

- Tôi đi một mình trong nơi ghê sợ này? Ông biết tôi cần sự khích lệ của ông biết bao nhiêu? Ai có thể chỉ cho tôi đường trở về nếu không phải là ông?

Lúc này cha tự nhủ thầm: "Để phải xuống hỏa ngục và ở lại tại đó, thì trước hết phải bị xét xử đã, còn mình chưa bị xử mà". Ý nghĩ này tăng sức can đảm cho cha. Cha quay sang nói với người dẫn đường: "Chúng ta vào".

Nhanh như chớp, chúng tôi rảo qua hành lang rất hẹp. Trên mỗi cửa có một tấm bảng luận phạt chiếu sáng. Hành lang dẫn tới một cái sân rộng với một cánh cửa có tấm bảng đề chữ: “Những kẻ bất hiếu sẽ vào lửa đời đời.” Trên tường cũng đề những câu kỳ lạ. Cha xin phép người dẫn đường để dừng lại đọc những câu ấy. Ông bảo cha: “Cha cứ tự nhiên như cha muốn.” Và lần lượt cha đọc những câu này: “Ta sẽ ném thân thể chúng vào lửa để thiêu đốt chúng muôn đời”, “Chúng chịu khổ hình ngày đêm qua mọi thế kỷ không ngơi”, “Nơi đây không có trật tự, sự hỗn loạn ngự trị tại đây luôn mãi”, “An bình không dựng nên cho kẻ bất hiếu”… và “không ngừng than khóc và nghiến răng.”

Một lát sau người dẫn đường tiến lại gần và nói với cha, vì từ nãy ông ta vẫn đứng yên ở giữa sân:

- Kể từ đây, không một ai có thể tin cẩn vào đồng bạn để nâng đỡ, khích lệ, yêu mến, hoặc có một cái nhìn thông cảm hay một lời an ủi khuyến khích. Chúng ta đã vượt qua giới hạn cuối cùng rồi. Cha muốn chỉ xem qua thôi, hay cha muốn được nếm thử?

- Có lẽ tôi chỉ cần xem cũng đủ rồi.

- Mời cha đến với tôi.

Nói xong, ông ta cầm tay cha, dẫn cha tới một chiếc cửa và mở ra. Cánh cửa này thông với một hành lang hẹp, dẫn tới một nơi trông giống như một phòng thí nghiệm được ghép kính. Cảnh tượng cha trông thấy khiến cha ớn lạnh tận xương tủy. Cha nhận ra một hành lang mênh mông đầy lửa, với các ngõ ngách ăn sâu vào lòng những ngọn núi. Loại lửa này nóng không biết đến mấy trăm ngàn lần so với lửa trần gian. Nó không bốc cháy thành từng ngọn, mà khiến tất cả những gì rơi vào đó đều đỏ rực lên, nhưng lại không bị thiêu hủy chút nào. Cha nói thật, cha không thể nào tả lại cho chúng con được sự thật kinh khủng của vực thẳm này là thế nào.

Các hình khổ hỏa ngục

A. Đời đời.

Bất thình lình một tiếng kêu thét xé tai làm cha giật nẩy mình. Một thiếu niên vừa lao mình vào giữa lò lửa với một tốc độ nhanh lạ thường, vừa rơi vào giữa, hắn nằm bất động và biến thành một khối đỏ rực. Được một lát, thiếu niên thứ hai lao vào, tiếp theo đó là nhiều đứa khác. Tất cả chúng đều lao nhanh vào, thét lên một tiếng thất vọng và trở nên đỏ rực với hình dạng nguyên vẹn như lúc chúng lao vào. Lúc đó cha sực nhớ câu Kinh Thánh: "Kẻ bị luận phạt sẽ mãi mãi phải ở nguyên vị trí khi nó rơi xuống ".

Càng lúc cha càng kinh hoảng vì số thiếu niên lao vào càng đông hơn. Cha hỏi người dẫn đường:

- Nhưng, những kẻ khốn nạn này không biết là chúng bị rơi vào đây sao?

- Có, chúng biết lắm. Đã bao lần chúng được cảnh báo. Nhưng chúng không muốn chê ghét tội lỗi, và không muốn xa lánh tội. Chúng đã khinh dể lòng thương xót của Chúa, và bây giờ thì chúng thấy chính mình bị phép công thẳng định đoạt số phận muôn đời của chúng.

B. Nỗi kinh hoàng

Bỗng nhiên, cả quang cảnh biến đổi hẳn. Tất cả những kẻ khốn nạn ấy vùng dậy, xâu xé nhau một cách dữ tợn. Chúng cắn xé nhau như những con chó dại, lao vào mặt nhau, bẻ nát tay nhau, rồi dùng nanh vuốt cấu từng mảnh thịt tung lên không trung. Ngay lúc ấy, cái hang ghê rợn này bỗng trở nên trong suốt như pha lê, và một cảnh sung sướng của Thiên Đàng hiện ra ngay trên nền cảnh tượng kinh hoàng ấy.

C. Tuyệt vọng.

Vừa nhìn thấy cảnh tượng Thiên đàng ấy, những con người bị luận phạt liền nghiến răng ken két và rống lên những tiếng gào ghê rợn, điên dại. Trong khi đó, những ai được chọn vẫn thản nhiên mỉm cười nơi hạnh phúc. Cảnh địa ngục càng trở nên hỗn loạn: kẻ thì rú lên điên dại, than khóc, dãy dụa, vừa tự vò xé thân mình một cách dữ tợn; kẻ khác thì chửi thề và mửa ra những lời nguyền rủa: “Ôi, chúng ta ngu xuẩn dường nào! Chúng ta đã từ chối con đường của Thiên Chúa để đi qua những con đường khốn nạn. Kiêu căng đã cho ta được gì? Tất cả những sự ấy qua đi như một chiếc bóng.”

Trong lúc ấy, cha nghĩ đến một điều: có quá nhiều thanh thiếu niên đã rơi vào nơi hư mất này. Cha bèn quay lại hỏi người dẫn đường:

- Những thiếu niên này hôm qua còn ở tại Nguyện Xá, làm sao hôm nay lại bị ném vào nơi luận phạt này?

- Tất cả những thiếu niên cha đang thấy ở đây hiện vẫn còn sống, nhưng họ đang ở trong tình trạng tội trọng. Nếu họ cứ cố chấp theo con đường xấu xa, thì chắc chắn sẽ bị luận phạt. Nhưng thôi, cha đừng để mất thời giờ, mời cha tiếp tục đi thêm chỗ khác.

D. Cắn rứt.

Đi qua một hành lang dài và hẹp, người dẫn đường đưa cha tới một nơi khác. Vừa bước vào một căn phòng, cha đọc thấy hai tấm bảng có đề chữ: "Sâu bọ rúc rỉa chúng không bao giờ hết, và lửa thiêu đốt chúng đời đời không tắt …" và " Chúa Toàn Năng đã giao chúng cho sâu bọ cùng lửa muôn đời không tàn".

Trong nơi này, một sự cắn rứt dữ dội dày vò những kẻ bị luận phạt: đó là nỗi hồi tưởng không nguôi về những tội lỗi mà họ đã không muốn xưng ra, về những phương thế trở lại và sự kiên tâm trên đường lành mà họ đã thờ ơ, chểnh mảng, cùng biết bao ân sủng họ đã cố tình chối từ.

Cha lại gần những thiếu niên này và cha thấy các con sâu cùng những côn trùng khác nhau gặm rỉa mắt, tim, và toàn thân chúng. Chúng chỉ còn như những cục thịt kỳ dị, không tài nào tả nổi.

Cha thử an ủi xem có hy vọng giảm được chút ít nỗi đau đớn này không, nhưng tuyệt nhiên không một cái nhìn, một lời nào đáp lại cha cả. Thấy cha ngạc nhiên, người dẫn đường nói với cha:

- Cha không biết là những kẻ bị luận phạt đã bị mất quyền tự do rồi sao? Mỗi người phải chịu lấy trọn vẹn hình phạt mà không bớt đi một chút nào.

Nói xong ông ta định đưa cha vào giữa ngọn lửa, nhưng cha vội hốt hoảng lùi lại, và nói cho ông ta biết là cha chưa bị luận xử.

- Vậy ra cha thích để cho các con cái cha bị luận phạt hết hay sao?

- Con cái tôi ư ! Tôi yêu thương chúng đến nỗi không có gì trên trần gian khiến cho tôi để mặc chúng bị luận phạt cả. Nhưng thưa ngài, chẳng lẽ không còn con đường nào khác ngoài việc phải băng qua ngọn lửa này sao?

- Có. Cha vẫn còn đủ thời giờ để cứu lấy chúng, miễn là cha không quản ngại gian lao khổ cực và quyết tâm hết sức mình.

Căn phòng có màn che

Nói xong ông ta kéo nhẹ cha về phía ông và đem cha vào một căn phòng tuyệt đẹp có nhiều cánh của bằng pha lê ẩn sau những bức màn lộng lẫy. Người dẫn đường chỉ cho cha một bức màn, trên đó cha đọc: "Điều răn thứ sáu". Ông ta còn nói thêm:" Sự vi phạm về điều răn này là lý do sa ngã của nhiều thiếu niên cha đã trông thấy".

- Nhưng chúng đã xưng tội rồi mà?

- Phải, đúng thế. Chúng đã xưng tội, nhưng không thành thật với những tội phạm đến các nhân đức cao đẹp này; có khi chúng đã im lặng bỏ qua. Một số đã giảm nhẹ số tội mình đã phạm, hoặc vì xấu hổ mà giấu đi những tội trọng từng phạm trong thời niên thiếu. Một số thiếu lòng ăn năn chân thành, và không thực hiện những dốc quyết vững chắc để không tái phạm nữa. Một số khác, thay vì tìm kiếm sự tha thứ, lại tìm cách đánh lừa cha giải tội. Một khi thần chết thình lình ập đến trong tình trạng như thế, những thiếu niên ấy không còn cách nào thoát khỏi hỏa ngục được.

- Cha có muốn biết tại sao Thiên Chúa nhân từ đã đưa cha tới đây không?

Không để cha kịp đáp lại, ông ta liền nâng một bức màn lên, và cha nhận ra một toán thiếu niên — tất cả đều đang bị luận phạt vì tội ấy. Một vài đứa trong số đó từng được coi là gương mẫu về nhân đức tại Nguyện Xá. Cha định ghi tên chúng lại để sau này cảnh báo riêng từng đứa, nhưng người dẫn đường liền nói với cha:

- Cha làm thế cũng chỉ vô ích thôi, cha chỉ cần giảng cho chúng cách đơn sơ về đức trong sạch. Một lời cảnh cáo chung cũng đã đủ, vì ân sủng của Chúa không bao giờ thiếu cho những ai cầu khẩn Ngài. Còn phần cha, cha phải cầu nguyện nhiều, và cha phải hy sinh chính mình cha.

Sau khi bàn luận một lúc về những phương cách cần thiết để xưng tội cho nên, người dẫn đường bỗng kêu to: “Phải thay đổi đời sống, phải thay đổi đời sống, dù thế nào đi nữa! Nếu không, sẽ không thể nào đạt được hạnh phúc vĩnh cửu.” Rồi ông ta lại nhấc lên bức màn thứ hai, và cha đọc thấy dòng chữ: “Chúng đã ham mê của cải, chúng đã tìm kiếm cám dỗ, nên đã bị sa vào lưới của Satan.”

- Điều này chắc không quan hệ đến con cái của tôi, chúng đều nghèo khổ như tôi. Còn về việc tìm kiếm của cải, chúng cũng không nghĩ đến. Nhưng liền ngay lúc ấy, cha thấy một toán thiếu niên của cha đàng hoành hành chẳng khác gì những đứa trước.

- Bây giờ thì cha còn cho rằng lời cảnh báo này không liên quan đến chúng nữa hay không?… Có những đứa đã dính bén với của cải phàm trần. Chính điều đó khiến chúng lỗi đức bác ái, thiếu lòng đạo đức và sự hiền lành. Lòng ham muốn của cải, cũng như khát khao sở hữu, có thể trở thành nguồn gốc làm cho tâm hồn ra độc ác, tham ăn, lười biếng, và luôn ao ước một cuộc sống sung sướng hơn. Biết bao vụ trộm cắp tinh vi chẳng đủ để chứng minh điều ấy sao?

Và để chứng minh điều mình nói, ông ta kể tên một số đông thanh thiếu niên. Rồi ông lại tiếp:

- Một số thiếu niên đã vào đây vì hành vi trộm cắp, một số khác vì không đền bù những thiệt hại đã gây ra, và có những đứa vì không chịu trả lại những vật đã mượn. Cha phải cảnh cáo chúng, phải nói cho chúng hiểu rằng cần phải nhổ tận gốc rễ khỏi tâm hồn những ước muốn sai lạc ấy. Chúng phải học cách kính trọng của cải của người khác và biết giữ gìn danh dự. Nếu không, hình phạt đời đời đang chờ đón chúng.

  Ông ta nâng tiếp một chiếc màn nữa lên. Chiếc màn này cũng cho thấy rất nhiều thiếu niên khác. Cha đọc thấy hàng chữ: "Nguồn mọi sự xấu xa". Cha liền nghĩ ngay đến tội kiêu ngạo, thì lúc ấy người dẫn đường cắt nghĩa cho cha: "Nói chung, nó ám chỉ sự kiêu ngạo … dầu vậy cha có biết tại sao ông bà nguyên tổ lại sa ngã không?"

- Vì tội không vâng phục.

- Phải, đó chính là nguồn mạch của mọi sự xấu xa. Những đứa trẻ cha đang thấy đây đều là những thiếu niên không vâng phục. Khởi đầu là những hành vi bất tuân trong các khoản luật nhỏ nhặt, nhưng rồi dần dần dẫn đến những lỗi lầm nghiêm trọng hơn. Có những đứa ban đêm bỏ nhà, ra ngoài sân chơi hay lang thang ở nơi khác để ngủ. Có những đứa khác lên nhà nguyện, không phải để cầu nguyện, mà chỉ để thỏa mãn những mộng tưởng viển vông. Có những đứa trong giờ phụng vụ thì nghịch ngợm, gây phiền hà, hoặc tìm một chỗ tiện nghi để ngủ. Có những đứa cả gan lấy sách đọc, mà đôi khi lại là những sách bị cấm.

  Nghe tới tất cả những loại bất vâng phục tài tình này, cha hỏi:

- Tôi có thể nói lại cho con cái tôi những điều ông vừa nói được không?

- Được lắm, cha hãy nói để chúng biết: lòng vâng phục sẽ cứu thoát chúng. Cha cũng nên nhấn mạnh cho chúng biết ý tứ, đừng có lười biếng, và tuyệt đối không bao giờ ở không. Đó là phương pháp tốt nhất để tránh những cuộc tấn công của ma quỷ. Nhưng bây giờ phải đi thôi.

Người dẫn đường nắm lấy tay cha, và chỉ trong chốc lát, cha đã vượt qua một cái sân rộng cùng một hành lang dài. Cha nhận ra mình đang đứng trước chính cánh cửa đồng mà trước đây cha đã từng đi qua.

Don Bosco sờ vào tường hoả ngục

Người dẫn đường nói với cha:

- Cha đã xem tận mắt những hình khổ dữ tợn của kẻ khác, thì giờ đây cha cũng nên thử một chút cho biết hình khổ hoả ngục là thế nào?

Cha không dám có can đảm để thử việc này, vì thế cha muốn giật lùi lại, nhưng bất thình lình người dẫn đường nắm lấy tay cha và kéo cha lại sát gần bức tường.

- Cha hãy sờ vào bức tường này ít nhất một lần, để cha có thể hình dung phần nào bức tường cuối cùng sẽ ra sao, và bức tường trong cùng phải khủng khiếp đến mức độ nào. Cha hãy quan sát kỹ xem bức tường này dày bao nhiêu. Đây mới chỉ là bức tường thứ nhất trong số hàng ngàn bức tường ngăn cách chúng ta với hỏa ngục. Mỗi bức tường dày đến cả ngàn dặm, và giữa các bức lại cách nhau một khoảng tương tự. Mỗi dặm có thể dài đến hàng cây số. Nghĩa là bức tường này phải cách chính ngọn lửa của hỏa ngục đến hàng triệu dặm. Như vậy, khi cha sờ vào bức tường này, cha chỉ mới cảm nhận được một hơi nóng hết sức nhẹ của lửa hỏa ngục mà thôi.

  Cha cố gắng nài xin để được miễn thử cái trò kinh khủng ấy. Nhưng bất chợt, người dẫn đường nắm lấy tay cha, dùng hết sức mở bàn tay cha ra và áp nó vào những viên đá đang cháy bỏng. Cha thét lên một tiếng kinh hoàng, rồi lập tức tỉnh giấc. Cha có cảm tưởng như bàn tay mình thực sự bị phỏng, và dù cố gắng thế nào, cha cũng không thể xua đi được cái cảm giác ấy.

Sáng hôm sau, cha thấy bàn tay cha bị một vết bỏng phồng lên, và ít ngày sau thì lớp da bị bỏng đó bóc đi như một vết bỏng thường.


FMA Logo

Địa chỉ: 57 Đường số 4, Khu phố 56, P. Tam Bình, TP. Hồ Chí Minh

Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về email: libraryfmavtn@gmail.com

Liên Kết

Truyền Thông FMA

Copyright Dòng Con Đức Mẹ Phù Hộ © 2026