Điều răn xanh IX: Vun trồng linh đạo sinh thái
Để thay đổi triệt để cách chúng ta sống trong ngôi nhà chung, Đức Thánh Cha Phanxicô đề xuất cùng với giáo dục sinh thái, cần linh đạo sinh thái đích thực. Đó là linh đạo tập trung vào sự tôn trọng và tình yêu đối với sự toàn vẹn Tạo Thành của Thiên Chúa. Đức Phanxicô ý thức rằng “các Kitô hữu đã không luôn trân trọng và phát triển những kho tàng thiêng liêng được Thiên Chúa phú ban cho Hội Thánh, trong đó đời sống thiêng liêng không tách rời khỏi thể xác, khỏi thiên nhiên hay những thực tại thế giới, nhưng sống cùng và sống với, trong sự hiệp thông với mọi sự xung quanh”. (216) Đồng thời, ngài tin chắc rằng “di sản phong phú của linh đạo Kitô giáo, hoa trái của kinh nghiệm cá nhân và cộng đoàn trong suốt 20 thế kỷ, góp phần quý báu trong việc đổi mới nhân loại” (216) hướng tới linh đạo sinh thái cho thời đại chúng ta. Trong Thông điệp, Đức Phanxicô nêu một số gợi ý về linh đạo sinh thái có thể thúc đẩy và nuôi dưỡng hành động của chúng ta nhằm bảo vệ ngôi nhà chung. Ngài viết:
Ở đây, tôi muốn đề nghị một vài điểm của linh đạo sinh thái cho người Kitô hữu dựa trên xác tín của chúng ta, vì những giáo huấn của Tin Mừng tác động trực tiếp đến cách nghĩ, cách cảm nhận và cách sống của chúng ta. Không phải là ý tưởng hay khái niệm, điều tôi quan tâm là linh đạo ấy thúc đẩy chúng ta nuôi dưỡng niềm đam mê bảo vệ thế giới. (216)
Điều răn xanh IX nói về linh đạo sinh thái của Laudato Si'. Theo hướng dẫn của Đức Phanxicô trong Thông điệp, chúng ta phác thảo những đường nét của linh đạo sinh thái, bắt đầu bằng sự hoán cải sinh thái sâu xa và đòi hỏi sám hối chân thành vì tội của chúng ta chống lại Đấng Tạo Hóa và toàn thể Tạo Thành. Linh đạo sinh thái có tính nhập thể sâu sắc vì được thể hiện qua những thái độ và cử chỉ cụ thể quan tâm chăm sóc ngôi nhà chung và các thành viên trong gia đình chung của chúng ta. Linh đạo sinh thái cũng có tầm nhìn mang tính Bí tích về thế giới tự nhiên, giúp chúng ta nhận ra “Thiên Chúa trong mọi sự”. Như Đức Phanxicô nêu trong Thông điệp, toàn bộ công trình sáng tạo đều mang dấu ấn Ba Ngôi, vì cuối cùng đó là công trình của bàn tay Thiên Chúa, được tạo dựng và liên tục được duy trì bởi tình yêu vô hạn của Người. Tạo Thành cũng có một vận mệnh cánh chung cao cả là được tháp nhập trong Chúa Kitô vào thời viên mãn.
1. Lời kêu gọi hoán cải sinh thái
Cuộc khủng hoảng ngôi nhà chung là hậu quả hành vi tội lỗi của chúng ta, như chúng ta đã tìm hiểu trong điều răn xanh IV. Trong Laudato Si', Đức Phanxicô nói về những nguyên nhân sâu xa của khủng hoảng và kêu gọi thay đổi tâm hồn để chữa trị chúng.208 Do đó, khủng hoảng sinh thái trở thành “lời kêu gọi hoán cải nội tâm sâu xa”. (217) Thông điệp “không yêu cầu quá nhiều thay đổi về mặt ‘giải quyết vấn đề’, nhưng thay đổi về mặt ‘hoán cải tâm hồn’”.209 Ngày nay chúng ta cần điều mà Đức Gioan Phaolô II gọi là “hoán cải sinh thái”, nếu chúng ta muốn “dừng lại trước vực thẳm”.210 Đức Phanxicô cũng nhận thấy có sự phản đối việc hoán cải sinh thái từ nhiều Kitô hữu, thậm chí từ một số Kitô hữu dấn thân và cầu nguyện. Chúng ta trích dẫn lời ngài:
Phải chân nhận rằng có một số Kitô hữu chuyên tâm dấn thân và cầu nguyện, nhưng lại viện cớ chủ nghĩa thực tế và thực dụng nên có khuynh hướng coi thường mối bận tâm đến môi trường. Những người khác thì thụ động; họ không chịu thay đổi thói quen và do đó trở nên bất nhất. Điều họ cần là “hoán cải sinh thái”, nhờ đó hoa trái của cuộc gặp gỡ giữa họ với Đức Giêsu Kitô trở nên chứng tá trong tương quan của họ với thế giới xung quanh. (217)
Trong Thông điệp, Đức Thánh Cha trình bày Thánh Phanxicô Assisi như một mẫu gương hoán cải sinh thái “đòi hỏi nhìn nhận những sai lầm, tội lỗi, khuyết điểm và thất bại của chúng ta, phải đi tới sám hối chân thành và khao khát thay đổi”. (218) Ngài cũng nhắc lại lời mời gọi của các Giám Mục Úc để đạt được sự hòa giải với toàn thể Tạo Thành: “Để đạt được sự hòa giải như thế, chúng ta phải xét lại đời sống và chân nhận những gì chúng ta gây thiệt hại đến công trình tạo dựng của Thiên Chúa qua những hoạt động của chúng ta và cả những hành động cần làm mà chúng ta bỏ qua. Chúng ta phải hoán cải, phải thay đổi tâm hồn”.211 (218) Sự sống còn của chúng ta và cộng đồng sinh học gắn liền với sự hoán cải của nhân loại về mặt này. John Hart viết: “Nhân loại cần hoán cải về kinh tế xã hội và sinh thái xã hội vì sự sinh tồn và hạnh phúc của chính mình, cũng như sự tồn tại và lành mạnh của Trái đất và toàn thể cộng đồng sinh học”.212
“Hoán cải thực sự trong cách suy nghĩ và hành vi”,213 theo cách diễn đạt của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II trong Sứ điệp năm 1990 là học biết sống chung trong ngôi nhà Trái đất, sống với Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa và với các thụ tạo anh em, trong đó có con người. Hoán cải sinh thái chính là thiết lập hòa bình với Đấng Tạo Hóa và phần còn lại của Tạo Thành.214
Trước hết, hoán cải sinh thái kêu gọi trở về với Đấng Tạo Hóa. Ở cấp độ sâu nhất, khủng hoảng sinh thái là “nổi loạn chống lại Thiên Chúa - nguồn gốc và mầu nhiệm của mọi thụ tạo, và cố ý lạm dụng công trình tạo dựng của Người”.215 Trong bối cảnh này, Seyyed Hossein Nasr lên tiếng cách sâu sắc cách đây gần nửa thế kỷ: “Thật vô nghĩa khi chờ mong được sống hài hòa với sự thần hiện hùng vĩ của thiên nhiên trinh trong, mà vẫn thờ ơ và dửng dưng trước Nguồn Mạch của sự thần hiện đó là Đấng siêu vượt trên cả thiên nhiên và trung tâm của con người”.216 Trên thực tế, các truyền thống tín ngưỡng luôn nhấn mạnh rằng để có hòa bình và hòa hợp với thế giới tự nhiên, con người phải hòa hợp và giữ quân bình với Trời, và tận cùng là với Nguồn Mạch và Nguồn Gốc của vạn vật.217 Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đánh giá vấn đề này cách sâu sắc:
Phải chăng việc sử dụng Tạo Thành cách vô trách nhiệm bắt đầu tại chính nơi Thiên Chúa bị gạt ra ngoài lề hoặc thậm chí bị phủ nhận? Nếu tương quan giữa con người và Đấng Tạo Hóa bị quên lãng, vật chất sẽ trở thành đối tượng của sở hữu ích kỷ, con người trở thành 'tiếng nói cuối cùng', và mục đích tồn tại của con người chỉ là tranh giành số lượng sở hữu tối đa.218
Giống như hậu quả của tội giáng xuống đất, ngoài những hậu quả xảy đến cho cộng đồng loài người và tương quan với Thiên Chúa, thì việc hoán cải của dân Chúa cũng dẫn đến chữa lành đất đai. Đó là chân lý sinh thái sâu sắc mà chúng ta tìm được trong Kinh Thánh. Khi mọi người trở về với Chúa và giữ giao ước của Người, Chúa sẽ chữa lành đất đai. Sách Sử biên niên 2 viết: “nếu dân Ta, dân vốn kêu cầu Danh Ta, mà biết hạ mình xuống khẩn nguyện và tìm kiếm Nhan Ta, từ bỏ con đường xấu xa mà trở lại, thì Ta, từ trời, Ta sẽ nghe và thứ tha tội lỗi nó và sẽ phục hưng xứ sở của nó (2Sbn 7,14). Dave Bookless viết về vấn đề này:
Chữa lành môi trường không chủ yếu đến từ việc tái chế, giảm bớt hay quản lý tài nguyên, mà từ sám hối và trở về với Thiên Chúa. Đất chỉ có thể được chữa lành khi cư dân ở đó nhận ra đất là của ai và hàn gắn tương quan đã rạn nứt của họ với Chúa và với nhau. Nếu khủng hoảng sinh thái cuối cùng là khủng hoảng thiêng liêng, thì chữa lành sinh thái cũng là chữa lành thiêng liêng.219
Trở về với Đấng Tạo Hóa trong tinh thần sám hối khiêm nhường và chân thành là điều cơ bản nếu chúng ta muốn chữa lành đất đai và chữa lành chính chúng ta.
Thứ hai, hoán cải sinh thái đòi “trở về” với Tạo Thành. Như Đức Phanxicô nêu trong Laudato Si’ khi nói đến gương của Thánh Phanxicô Assisi, “tương quan lành mạnh với Tạo Thành là chiều kích hoán cải cá nhân toàn diện”. (218) Vì thế, hoán cải sinh thái cuối cùng là trở về với Trái đất, với bụi đất nơi con người phát xuất ra, và nhiệm vụ đầu tiên họ được trao phó là quản lý đất. Đối diện với khủng hoảng ngôi nhà chung là hậu quả của tội nguyên tổ, mệnh lệnh của Đấng Tạo Hóa dành cho nhân loại là trở về với đất và canh tác chính mảnh đất nơi họ xuất thân:
…cho đến khi trở về với đất,
vì từ đất, ngươi đã được lấy ra.
Ngươi là bụi đất, và sẽ trở về với bụi đất.
…Đức Chúa là Thiên Chúa đuổi con người ra khỏi vườn Ê-đen
để cày cấy đất đai, từ đó con người đã được lấy ra (St 3,19.23).
Sám hối trở về với Trái đất là cốt lõi của hoán cải sinh thái đích thực. Sự cứu rỗi trái đất gắn kết mật thiết với sự trở về khiêm tốn của chúng ta với đất. Đây là một đoạn văn sâu sắc của học giả Thánh Kinh Brigitte Kahl.
Cho đến khi ngươi trở về với đất, vì từ đất, ngươi đã được lấy ra. Trong suốt nhiều thế kỷ, việc “trở về với đất” trong St 3,19 hầu như chỉ được ghi nhớ tại mộ của người chết. Thách đố này hiếm khi được lắng nghe trong việc thực hành đời sống Kitô hữu. Nhưng bản văn nói rất rõ về sự thay đổi phương hướng, vì từ “trở về” trong tiếng Do Thái bao hàm chiều kích thần học của sự ăn năn, quay về với Thiên Chúa. Việc ăn trái cấm đã làm tổn hại đến tương quan không chỉ giữa Thiên Chúa và Ađam, mà còn giữa Ađam và Adama (đất), đất trổ sinh gai góc. Khi Adam bị đuổi khỏi vườn, Thiên Chúa nhắc lại nhiệm vụ của ông là phục vụ trái đất.220
Hoán cải sinh thái trước hết ở cấp độ cá nhân. Thật vậy, đôi khi chỉ một người cũng có thể tạo ra khác biệt mang tính quyết định. Minh họa điều này, Đức Phanxicô nhắc lại câu chuyện mang tính xây dựng của ông Nôê trong Cựu Ước, sự công chính của ông không chỉ cứu ông và người thân khỏi lụt đại hồng thủy, mà còn cứu phần còn lại của cộng đồng sinh vật qua những nhóm đại diện. Đức Phanxicô viết: “Mặc dù “sự gian ác của con người quả là nhiều trên mặt đất” (St 6,5) và Thiên Chúa “hối hận vì đã làm ra con người trên mặt đất” (St 6,6), tuy nhiên, qua ông Nôê, một người vô tội và công chính, Thiên Chúa quyết định mở ra con đường cứu độ. Nhờ đó, Người đã ban cho nhân loại khởi đầu mới. Cần một người tốt lành để khôi phục niềm hy vọng!”. (71)
Tuy nhiên, Đức Phanxicô cũng nhanh chóng lưu ý rằng do tính chất nghiêm trọng và toàn cầu của ngôi nhà chung đầy bất ổn, những nỗ lực của cá nhân tự nó là chưa đủ. Hoán cải sinh thái tập thể hoặc cộng đoàn cũng quan trọng như vậy:
Tuy nhiên, chỉ có cá nhân tự cải thiện thì không đủ để giải quyết tình hình cực kỳ phức tạp của thế giới hôm nay. Các cá nhân riêng lẻ có thể dần mất khả năng và tự do để thoát khỏi não trạng thực dụng, và cuối cùng đầu hàng trước chủ nghĩa tiêu thụ vô đạo đức đang tước đoạt ý thức xã hội và sinh thái. Các vấn đề xã hội phải được mạng lưới cộng đồng quan tâm, chứ không chỉ bởi một tổng thể các cá nhân có hành vi tốt… Hoán cải sinh thái cần thiết cho sự thay đổi dài lâu cũng là hoán cải cộng đồng. (219)
Đức Phanxicô yêu cầu “tất cả các Kitô hữu nhận biết và sống trọn vẹn chiều kích hoán cải [sinh thái] này”. (221) Ngài mong muốn và cầu nguyện cho “năng quyền và ánh sáng của ân sủng mà chúng ta đã lãnh nhận cũng thể hiện trong tương quan của chúng ta với các loài thụ tạo khác và với thế giới xung quanh. Bằng cách này, chúng ta giúp nuôi dưỡng tình huynh đệ tuyệt vời với tất cả công trình tạo dựng mà Thánh Phanxicô Assisi đã nêu gương ngời sáng”. (221) Do đó, hoán cải sinh thái đích thực là trọng tâm của linh đạo sinh thái đích thực.
2. Một linh đạo nhập thể
Một linh đạo đích thực không thể không tuôn chảy vào cuộc sống. Hơn thế nữa, trong trường hợp linh đạo sinh thái, đó là học biết sống hiện hữu của mình có trách nhiệm và vui tươi trong ngôi nhà chung của chúng ta. Như nhà thần bí thời Trung cổ Hildergard Bingen viết: Chúa đã tạo ra loài người để chúng ta có thể “vun trồng trần gian và từ đó tạo ra thiên đàng”.221
Nền tảng của linh đạo sinh thái là nhận thức sự hiệp thông sâu xa của chúng ta với phần còn lại của Tạo Thành và đồng trách nhiệm với đồng loại. Đức Thánh Cha Phanxicô viết:
[Linh đạo sinh thái]… bao hàm nhận thức trìu mến về sự liên kết của chúng ta với toàn thể thụ tạo, cùng dự phần trong sự hiệp thông hoàn vũ tuyệt vời. Là tín hữu, chúng ta không nhìn thế giới từ bên ngoài mà từ bên trong, ý thức về mối dây mà Chúa Cha đã liên kết chúng ta với tất cả mọi hữu thể... Chúng ta đừng hiểu sự ưu việt của chúng ta là một lý do tôn vinh cá nhân hay thống trị cách vô trách nhiệm, nhưng đó là trách nhiệm nghiêm túc xuất phát từ niềm tin của chúng ta. (220)
Linh đạo sinh thái về cơ bản là thái độ của con tim, “thái độ tiếp cận cuộc sống với sự chú tâm trong sáng, hiện diện trọn vẹn với một người mà không bận tâm điều gì sẽ xảy đến sau đó, thái độ đón nhận mỗi khoảnh khắc như món quà từ Thiên Chúa cần được sống cách tròn đầy”. (226) Theo Đức Phanxicô, đây là thái độ của chính Chúa Giêsu.
Chúa Giêsu dạy chúng ta thái độ này khi Người mời gọi chúng ta chiêm ngắm hoa huệ ngoài đồng và chim muông trên trời; hoặc khi thấy người thanh niên giàu có và nỗi trăn trở của anh, “Người đưa mắt nhìn anh và đem lòng yêu mến” (Mc 10, 21). Người hiện diện trọn vẹn với mọi người và mọi sự, qua đó, Người chỉ cho chúng ta con đường vượt thắng nỗi lo lắng không lành mạnh biến chúng ta thành những người tiêu thụ hời hợt, nóng nảy và thiếu kiềm chế. (226)
Như Đức Phanxicô nêu rõ trong Thông điệp, linh đạo Kitô giáo đề xuất một lối sống khác và “khích lệ lối sống ngôn sứ và chiêm niệm, có khả năng vui hưởng cách sâu xa sự tự do thoát khỏi nỗi ám ảnh về tiêu thụ”. (222) Lối sống này đặc biệt ý nghĩa trong thời đại chủ nghĩa tiêu thụ tàn nhẫn của chúng ta đang dần làm xói mòn ngôi nhà chung và các hệ sinh thái duy trì sự sống của nó. Linh đạo Kitô giáo thực sự là lựa chọn thay thế về mặt này. “Trở về với sự giản dị giúp chúng ta biết dừng lại và trân quý những điều nhỏ bé, biết ơn vì những cơ hội cuộc sống mang lại cho chúng ta, không dính bén với những thứ chúng ta đang sở hữu, và không đau buồn vì những điều chúng ta không có”. (222) Linh đạo sinh thái đích thực thể hiện trong lối sống tiết độ.
Đức Phanxicô với trực giác tuyệt vời cho thấy rằng “không ai có thể xây dựng đời sống tiết độ và vui tươi mà không bình an với chính mình”. (225) Đối với ngài, linh đạo sinh thái cũng là vun trồng bình an nội tâm sâu sắc trong mỗi người. “Bình an nội tâm có liên hệ gần gũi với việc chăm sóc sinh thái và công ích, vì khi sống cách đúng đắn, bình an được phản chiếu trong lối sống quân bình cùng với khả năng biết kinh ngạc giúp chúng ta hiểu sâu hơn về đời sống”. (225) Trong thế giới đầy bất ổn và hoạt động điên cuồng, chỉ có bình an nội tâm sâu sắc mới có thể đảm bảo sống hài hòa với Tạo Thành. Đức Thánh Cha viết:
Thiên nhiên đầy tràn những lời của tình yêu, nhưng làm thế nào chúng ta có thể nghe được giữa tiếng ồn liên tục, mất tập trung thường xuyên và căng thẳng thần kinh, hoặc sùng bái hình thức bên ngoài? Nhiều người ngày nay cảm thấy mất cân bằng sâu sắc, dẫn họ đến hoạt động điên cuồng, luôn cảm thấy bận rộn, vội vã triền miên đến độ chỉ lo thực hiện các kế hoạch riêng và coi thường mọi thứ xung quanh. Điều này cũng ảnh hưởng đến cách họ đối xử với môi trường. Sinh thái toàn diện bao gồm việc dành thời gian để khôi phục sự hòa hợp thanh bình với công trình tạo dựng, suy tư về lối sống và lý tưởng của chúng ta, chiêm ngưỡng Đấng Tạo Hóa đang sống giữa và xung quanh chúng ta, sự hiện diện của Người “không phải được tạo ra mà phải tìm kiếm, khám phá”.222 (225)
Linh đạo sinh thái với bản chất nhập thể phải được sống trong không gian và thời gian. Về vấn đề này, chúng ta nhấn mạnh hai thực hành quan trọng trong truyền thống lâu đời của chúng ta, đó là ngày Sabat của Do Thái giáo và Chúa nhật của Kitô giáo.
Đức Phanxicô đề cập đến ngày Sabat trong Thông điệp. Ngài nhắc lại ngày Sabat được thực hiện thế nào theo trật tự thời gian, trải dài theo nhịp điệu các ngày trong tuần, chu kỳ bảy năm và chu kỳ Năm Thánh vĩ đại là bốn mươi chín năm, ngày Sabat tiếp tục được tuân giữ giúp xác định những đường nét trong lịch sử dân Chúa. Như Đức Phanxicô nhận định “Luật này ra đời như một nỗ lực để đảm bảo sự quân bình và công bằng trong các tương quan của họ với người khác và với đất đai, nơi họ sinh sống và làm việc”. (71) Việc tuân giữ ngày Sabát mang hàm ý rất cụ thể và thực tế trong Cựu Ước như được thấy rõ trong điều răn về ngày Sabát nêu trong sách Xuất Hành, trong đó việc tôn trọng quyền tối thượng của Giavê, việc chăm sóc trái đất, quan tâm đến người nghèo, nhạy cảm với nhu cầu của thú vật đồng hoang, tất cả đều đan xen hòa lẫn với nhau.223 Như Đức Thánh Cha viết, ngày Sabát là “nhìn nhận rõ ràng rằng quà tặng trái đất và hoa trái của nó thuộc về mọi người. Những ai canh tác và gìn giữ đất buộc phải chia sẻ hoa trái với người khác, nhất là người nghèo, các bà góa, cô nhi và ngoại kiều ở ngay giữa họ”. (71) Cử hành ngày Sabát là sống hòa bình với đồng loại, nhất là người nghèo – anawim của Đức Chúa, và với toàn thể Tạo Thành.
Việc tuân giữ Chúa nhật như ngày của Chúa trong Kitô giáo có ý nghĩa sinh thái sâu sắc. Trên hết, Chúa nhật là “ngày Phục Sinh, “ngày thứ nhất” của Tạo Thành mới mà hoa trái đầu mùa là nhân loại được phục sinh, đảm bảo cho cuộc biến hình sau cùng của tất cả mọi thực tại”. (237) Đức Phanxicô nhận định “như ngày Sabat của người Do Thái, Chúa nhật là ngày chữa lành các tương quan của chúng ta với Thiên Chúa, với chính mình, với người khác và thế giới… Chúa nhật cũng loan báo “sự nghỉ ngơi vĩnh cửu của con người trong Thiên Chúa”.224 (237) Đức Phanxicô cho thấy việc cử hành Chúa nhật có thể thực sự nhập thể linh đạo sinh thái thế nào, kết hợp giữa nghỉ ngơi và làm việc, thư giãn và lễ hội. Chúng ta trích dẫn lời ngài:
Linh đạo Kitô giáo hợp nhất giá trị của nghỉ ngơi và lễ hội. Chúng ta có xu hướng xem nghỉ ngơi chiêm niệm là điều gì đó không hiệu quả và không cần thiết, nhưng như thế là loại bỏ nền tảng quan trọng của công việc: ý nghĩa của nó. Chúng ta được mời gọi để đưa chiều kích cảm thụ và nhưng không vào công việc, nó rất khác với việc ở yên cách thụ động. Nghỉ ngơi là một cách làm việc khác, hình thành nên một phần yếu tính của chúng ta. Nó ngăn cản con người khỏi rơi vào tình trạng hoạt động trống rỗng; ngăn ngừa lòng tham không đáy và cảm giác cô lập khiến chúng ta chỉ tìm kiếm lợi ích cá nhân đến mức loại bỏ tất cả mọi thứ khác... Nghỉ ngơi mở tầm mắt chúng ta đến bức tranh rộng lớn hơn và canh tân sự nhạy bén của chúng ta với quyền lợi của người khác. Vì thế ngày nghỉ ngơi, mà trung tâm là Thánh Lễ, dọi chiếu ánh sáng trên cả tuần, và thúc đẩy chúng ta quan tâm hơn đến thiên nhiên và người nghèo. (237)
Đức Phanxicô lưu ý rằng linh đạo giúp chúng ta “khôi phục sự hòa hợp thanh bình với công trình tạo dựng, suy tư về lối sống và lý tưởng của chúng ta, chiêm ngưỡng Đấng Tạo Hóa đang sống giữa chúng ta và xung quanh chúng ta”. (225) Linh đạo cống hiến tầm nhìn Bí tích về thế giới tự nhiên thấm nhuần sự hiện diện của Thiên Chúa, chúng ta sẽ tiếp tục thảo luận trong phần kế tiếp.
3. Chiều kích Bí tích về thế giới tự nhiên
Linh đạo sinh thái mang tính Bí tích sâu sắc vì nó giúp chúng ta “khám phá Thiên Chúa trong mọi sự” (233), như Đức Phanxicô khẳng định trong Thông điệp. Vì “vũ trụ mở ra trong Thiên Chúa, Người sẽ đem nó đến thành toàn. Vì vậy, có ý nghĩa nhiệm mầu trong từng chiếc lá, trên vách núi, trong giọt sương, trên khuôn mặt của người nghèo”. (233) Về điểm này, Đức Phanxicô trích dẫn lời của nhà thần bí Sufi Ali al-Khawas.
Học giả thiêng liêng Ali al-Khawas nhấn mạnh từ kinh nghiệm của chính mình rằng không cần thiết phải đặt khoảng cách quá xa giữa các thụ tạo trên thế giới với trải nghiệm nội tâm về Chúa. Ông nói: “Thành kiến không được làm chúng ta chỉ trích những người tìm kiếm cảm giác ngây ngất trong âm nhạc hoặc thơ ca. Có một huyền nhiệm tinh tế trong mỗi chuyển động và âm thanh của thế giới này. Người khởi xướng sẽ nắm bắt được sứ điệp của gió thổi, cây lắc lư, nước chảy, ruồi vo ve, cửa kẽo kẹt, tiếng chim hót, hay tiếng đàn tiếng sáo, tiếng thở dài của người bệnh, tiếng rên rỉ của người đau khổ...”.225
Trên hết, linh đạo cống hiến cho chúng ta một nhận thức khác về thế giới tự nhiên, thấm nhuần sự hiện diện thánh thiêng. Như Đức Phanxicô chia sẻ “gặp gỡ Thiên Chúa không có nghĩa là chạy trốn khỏi thế giới này hay quay lưng lại với thiên nhiên”. (235) Các vị thánh và các nhà thần bí chú ý nhiều nhất đến sự hiện diện dường như bị che khuất của Thiên Chúa trong thế giới tự nhiên. Về điểm này, Đức Phanxicô trích dẫn lời của thánh Bonaventura dạy rằng “càng chiêm ngắm càng giúp chúng ta đào sâu cảm nghiệm về tác động của ân sủng Chúa trong tâm hồn chúng ta, giúp chúng ta học biết gặp gỡ Chúa trong những thụ tạo bên ngoài chúng ta”.226 (233) Đức Phanxicô đặc biệt đề cập đến nhà thần bí Công Giáo vĩ đại - Thánh Gioan Thánh Giá, người dạy rằng “mọi sự thiện hảo trong các thực tại và kinh nghiệm của thế giới này “đều hiện diện tuyệt đối và vô biên trong Thiên Chúa, hay nói đúng hơn, mỗi thực tại cao cả đều là Thiên Chúa”.227 (234) Đức Thánh Cha giải thích thêm “nói như thế không có nghĩa là những thứ hữu hạn trong thế giới này đều thánh thiêng, nhưng vì mầu nhiệm của sự nối kết thiết thân giữa Thiên Chúa và mọi hữu thể làm cho chúng ta cảm nhận “mọi sự là Thiên Chúa”.228 (234) Ngài trích dẫn một đoạn hay từ tác phẩm của Thánh Gioan Thánh Giá để cho thấy các thụ tạo thực sự có thể nói với chúng ta về Thiên Chúa ra sao:
“Ngọn núi thật cao, thật hùng vĩ, bao la, uy nghi, tươi đẹp, sáng láng và tỏa hương, đó là món quà của Người Yêu dành cho tôi. Những thung lũng hẻo lánh, yên tĩnh, dễ chịu, mát mẻ và đầy nước trong lành; trong những lùm cây có tiếng hót ngọt ngào của chim muông, đem lại niềm vui và cảm giác thích thú, trong sự cô tịch và tĩnh lặng, làm cho chúng ta được hồi phục và nghỉ ngơi. Tất cả là món quà Người Yêu của tôi dành cho tôi”.229 (234)
Chân lý về quyền năng Bí tích của các thụ tạo trở thành phương thế hiệp thông với Thiên Chúa được thể hiện rõ nhất trong thực hành Kitô giáo và thần học về các Bí tích, nơi hoa trái của Trái đất có thể biểu thị sự hiện diện của Thiên Chúa và trở thành kênh dẫn đến sự hiện diện và phúc lành của Thiên Chúa. Đời sống Bí tích của Giáo Hội rút ra từ mạng lưới sự sống.230 Đức Phanxicô viết “Các Bí tích là con đường ưu biệt, trong đó thiên nhiên được Thiên Chúa nâng lên thành phương thế trung gian cho đời sống siêu nhiên”. (235) Do đó, chúng trở thành phương tiện cho hành động cứu độ của Thiên Chúa trong thời gian và không gian, ở đây và bây giờ.
Nguyên mẫu của mọi hành động Bí tích là mầu nhiệm Nhập Thể của Chúa Kitô, của Logos trở thành nhục thể; của sự gặp gỡ mật thiết và gắn bó chặt chẽ giữa tinh thần và vật chất.231 Đối với Hans Urs Von Balthasar, “mầu nhiệm Nhập Thể ở trọng tâm tạo nên thế giới quan mang tính Bí tích của truyền thống Kitô giáo, trong đó Tạo Thành chính là phương tiện mặc khải về Thiên Chúa”.232 Chúng ta trích dẫn lời của Đức Phanxicô:
Đối với các Kitô hữu, tất cả mọi loài thụ tạo của vũ trụ vật chất đều có ý nghĩa thực sự trong Ngôi Lời nhập thể, vì Con Thiên Chúa đã mặc lấy thế giới vật chất vào trong con người của Người, gieo vào đó hạt giống của sự biến đổi cánh chung. “Kitô giáo không chối bỏ vật chất, trái lại nó có giá trị lớn lao trong cử hành phụng vụ, nơi đó thân xác con người bày tỏ bản chất sâu xa là đền thờ của Chúa Thánh Thần và được hiệp nhất với Chúa Giêsu, Đấng đã mặc lấy xác phàm để cứu độ thế giới”.233 (235)
Chính nhờ mầu nhiệm nhập thể mà Thiên Chúa đã bước vào và ôm lấy toàn thể Tạo Thành, và qua đó thánh hóa mọi thực tại, vì thế “Giáo Hội không ngần ngại chúc lành và sử dụng một cách dồi dào các vật chất của trái đất trong cử hành phụng vụ và Bí tích”.234 Đức Phanxicô viết: “Bàn tay chúc lành là khí cụ của tình yêu Thiên Chúa và phản ánh sự gần gũi của Đức Giêsu Kitô, Đấng đã đến để đồng hành với chúng ta trên hành trình cuộc sống. Nước đổ trên cơ thể của em bé trong Bí tích Thánh Tẩy là dấu chỉ của sự sống mới”. (235) Điều này cũng đúng với các yếu tố tự nhiên khác như dầu, lửa và màu sắc “được nâng lên thành sức mạnh biểu tượng và được tháp nhập trong lời ngợi khen của chúng ta”. (235) Đức Phanxicô cho thấy rằng điều đó đặc biệt rõ ràng trong linh đạo Kitô giáo Đông phương. “Vẻ đẹp, một trong những danh xưng được Đông Phương yêu thích nhất, thể hiện sự hài hòa thánh thiêng và khuôn mẫu của nhân loại được biến hình, xuất hiện ở khắp mọi nơi: trong kiểu dáng của ngôi thánh đường, trong âm thanh, màu sắc, ánh sáng và hương thơm”.235 (235)
Linh đạo Nhập thể qua đó Thiên Chúa hiện diện với chúng ta dưới hình thái các dấu hiệu vật chất đạt đến đỉnh cao trong Bí tích Thánh Thể.236 Như Đức Phanxicô khẳng định trong Thông điệp: “Chính trong Thánh Thể mà mọi thụ tạo tìm thấy đỉnh điểm của hạnh phúc”. (236) Đức Thánh Cha gợi ý một số suy tư sâu sắc về mầu nhiệm Thánh Thể:
Ân sủng, có khuynh hướng bày tỏ cách hiển nhiên, tìm được cách thể hiện tuyệt vời trong mầu nhiệm Thiên Chúa làm người và trao ban chính Người làm của ăn cho thụ tạo. Trong đỉnh cao của mầu nhiệm Nhập Thể, Thiên Chúa chạm đến chiều sâu tận cùng của chúng ta qua xác thể. Người không đến từ trên cao, nhưng từ bên trong, Người đến để chúng ta có thể tìm thấy Người trong thế giới. Trong Thánh Thể, sự viên mãn đã thành toàn; đó là trung tâm sống động của vũ trụ, tràn đầy tình yêu và sự sống bất diệt. (236)
Khi các Kitô hữu tụ họp để cử hành Bí tích Thánh Thể, họ mang Trái đất và tất cả các thụ tạo, và một cách nào đó, toàn thể vũ trụ, đến bàn thờ.237 Bí tích Thánh Thể thực sự là hành vi thờ phượng hoàn vũ, một liên kết cao cả giữa trời và đất. Đức Phanxicô viết:
Dự phần vào Chúa Con nhập thể đang hiện diện trong Thánh Thể, toàn thể vũ trụ dâng lời tạ ơn Thiên Chúa. Quả thật, Thánh Thể chính là hành động của tình yêu vũ trụ: “Đúng thế, vũ trụ! Bởi vì ngay cả khi Thánh Thể được cử hành trên bàn thờ nhỏ của một nhà nguyện thôn quê đi nữa, Bí tích Thánh Thể vẫn luôn được cử hành theo một nghĩa nào đó trên bàn thờ thế giới”.238 Thánh Thể kết nối trời với đất; Thánh Thể ôm lấy và bao bọc toàn thể công trình tạo dựng. Thế giới xuất phát từ bàn tay Thiên Chúa được trở về với Người trong sự thờ phượng bất phân ly: trong bánh Thánh Thể, “Tạo Thành hướng về sự thần hóa, hướng đến tiệc cưới thánh, hướng đến sự hiệp nhất với chính Đấng Tạo Hóa”.239 (236)
4. Dấu ấn Ba Ngôi và chiều kích cánh chung
Trong Laudato Si’, Đức Phanxicô giải thích tại sao Thiên Chúa Ba Ngôi là nguồn gốc, môi trường và vận mệnh của toàn thể Tạo Thành và mỗi Ngôi trong Ba Ngôi hiện diện mật thiết và duy nhất ra sao với toàn thể Tạo Thành.
Chúa Cha là nguồn mạch tối hậu của mọi sự, là nền tảng yêu thương và thông truyền của tất cả mọi sự đang hiện hữu. Chúa Con, phản chiếu hình ảnh Chúa Cha, nhờ Người mà muôn vật được tạo thành, đã nhập thể vào trái đất này khi Người được thành hình trong cung lòng Mẹ Maria. Thánh Thần, mối liên kết vô biên của tình yêu, đang hiện diện thiết thân trong trung tâm của vũ hoàn, Ngài khơi dậy và mở ra những nẻo đường mới. Vũ hoàn được tác tạo bởi Ba Ngôi hành động như một nguyên lý thánh thiêng duy nhất, mỗi ngôi vị thực hiện công trình chung này theo bản chất riêng biệt. (238)
Theo Đức Phanxicô, “đối với các Kitô hữu, tin kính một Thiên Chúa hiệp thông ba ngôi vị dẫn đến niềm xác tín Ba Ngôi đã để lại dấu ấn trên mọi thụ tạo”. (239) Đức Thánh Cha nhắc lại tư tưởng của Thánh Bonaventura:
Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi phản chiếu trong thiên nhiên “khi cuốn sách ấy được mở ra cho con người và đôi mắt chúng ta chưa ra tối tăm”.240 Vị Thánh dòng Phanxicô dạy chúng ta rằng mỗi loài thụ tạo có cấu trúc cụ thể theo khuôn mẫu Ba Ngôi, hiển nhiên đến nỗi con người có thể chiêm ngắm bất cứ lúc nào nếu cái nhìn của con người đừng quá nửa vời, tăm tối và mỏng manh. Theo đó, ngài thúc đẩy chúng ta phải nỗ lực đọc thực tại bằng chìa khóa Ba Ngôi. (239)
Đức Phanxicô chỉ ra rằng “các Ngôi vị thần linh là những tương quan tự hữu” và thế giới của chúng ta là “mạng lưới các tương quan” chính xác vì nó được “tạo ra theo khuôn mẫu thần linh”. (240) Mầu nhiệm hiệp thông Ba Ngôi phản chiếu trong sự liên kết sinh thái hỗ tương trong thế giới cũng cho thấy ơn gọi của chúng ta là kiến tạo các liên kết hiệp nhất và nuôi dưỡng các tương quan. Đó cũng là con đường để hoàn thiện con người đích thực. “Con người ngày càng phát triển, trưởng thành và được thánh hóa cho đến tầm mức con người đi vào các tương quan, ra khỏi chính mình để sống trong sự hiệp thông với Thiên Chúa, với người khác và với mọi loài thụ tạo”. (240) Theo Đức Phanxicô, linh đạo sinh thái cuối cùng dẫn đến tình liên đới toàn cầu xuất phát từ mầu nhiệm hiệp thông Ba Ngôi. Theo cách này, con người “làm cho mình có động lực Ba Ngôi mà Thiên Chúa đã in dấu vào họ khi được dựng nên”. (240)
Linh đạo sinh thái được xây dựng trên vận mệnh cánh chung của mọi thụ tạo để được quy tụ lại trong Chúa Kitô. Thiên Chúa là điểm đến cánh chung của mọi thụ tạo như Đức Phanxicô viết trong Laudato Si’: “mọi loài thụ tạo đang tiến bước cùng với chúng ta và qua chúng ta, hướng về mục tiêu chung là chính Thiên Chúa, trong sự viên mãn siêu việt ấy, Đức Kitô phục sinh ôm lấy và chiếu sáng mọi sự”. (83) Quan trọng phải nhớ rằng toàn bộ Tạo Thành, toàn bộ vũ trụ vật chất, chứ không chỉ riêng nhân loại, được định sẵn để được cứu chuộc và biến đổi trong Chúa Kitô.241 Đức Phanxicô viết:
Sau cùng, bản thân chúng ta sẽ diện đối diện với vẻ đẹp vô biên của Thiên Chúa (x.1Cr 13,12), với sự thán phục và niềm hạnh phúc, chúng ta có thể hiểu được mầu nhiệm bí ẩn của vũ trụ sẽ cùng tham dự với chúng ta trong sự viên mãn bất tận. Thậm chí ngay bây giờ, chúng ta đang trên hành trình tiến về ngày Sabat vĩnh cửu, thành Giêrusalem mới, hướng về ngôi nhà chung của chúng ta trên thiên đàng. Chúa Giêsu nói: “Ta sẽ đổi mới mọi sự” (Kh 21,15). Sự sống vĩnh cửu sẽ là một trải nghiệm chung về sự kinh ngạc, trong đó mỗi thụ tạo được biến đổi huy hoàng, sẽ có được vị trí đúng nhất và có điều gì đó để trao ban cho những người nghèo khó cuối cùng đã được giải thoát mãi mãi. (243)
Chân lý sâu sắc về ơn cứu độ phổ quát trong Chúa Kitô là telos (mục đích) cuối cùng của Tạo Thành, đặt mọi thụ tạo trong ánh sáng cánh chung. Đức Thượng phụ Đại kết Batôlômêô I nhắc nhở chúng ta: “cùng đích của thụ tạo không phải là bị sử dụng hay lạm dụng để thỏa mãn thú vui cá nhân của con người, mà cao cả và thiêng liêng hơn nhiều”.242 Định mệnh thực sự của thụ tạo là được biến đổi và đổi mới trong Chúa Kitô phục sinh. Vai trò của con người, như Đức Phanxicô nhắc nhở trong Thông điệp, là “dẫn dắt mọi thụ tạo trở về với Đấng Tạo Hóa của chúng”. (83)
Chú thích
208 Venugopalan Ittekkot và Eleanor Milne, “Encyclical Letter ‘Laudato Si’: A Gentle But Firm Nudge from Pope Francis,” Environmental Development 17 (2016), 2.
209 Clemens Sedmark, “Traditional Concerns, New Language? Reflections on Laudato Si’,” The Heythrop Journal 58 (2017), 949.
210 Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, Tiếp kiến chung (17/01/2001)
211 Hội đồng Giám Mục Công giáo Úc, A New Earth – The Environmental Challenge (2002).
212 John Hart, “Common Commons: Social and Sacred Space” trong The Wiley Blackwell Companion to Religion and Ecology, ed. John Hart (Oxford: Wiley Blackwell, 2017), 472.
213 Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, Peace with God the Creator, Peace with All of Creation, n. 13.
214 Xem Joshtrom Isaac Kureethadam, Creation in Crisis: Science, Ethics, Theology (New York: Orbis Books, 2014), 359-62.
215 Frederick Quinn, To Heal the Earth: A Theology of Ecology (Nashville: Upper Room Books, 1994), 26.
216 Seyyed Hossein Nasr, Man and Nature: The Spiritual Crisis of Modern Man (London – Boston: Unwin, 1990), 9. The first edition of the book goes back to 1968.
217 See Ibid., 136.
218 Đức Thánh Cha Biển Đức XVI, Tiếp kiến chung (26/08/2009).
219 Dave Bookless, Planet Wise: Dare to Care for God’s World (Nottingham: Inter-Varsity Press, 2008), 58.
220 Brigitte Kahl, “Fratricide and Ecocide: Rereading Genesis 2-4” in Earth Habitat: Eco-Injustice and the Church’s Response, eds. Dieter Hessel and Larry Rasmussen (Minneapolis: Fortress Press, 2001), 57.
221 Meditations with Hildergard of Bingen, do Gabriele Ulhein biên soạn và chuyển ngữ (Rochester, Vt: Bear, 1983), 88.
222 Đức Thánh Cha Phanxicô, Tông huấn Evangelii Gaudium (24/11/2013), 71: AAS 105 (2013), 1050.
223 Xem Seán McDonagh, The Greening of the Church (New York: Orbis Books, 1990), 127
224 Giáo lý của Hội Thánh Công Giáo, 2175.
225 Eva De Vitray-Meyerovitch [ed.], Anthologie du soufisme, Paris 1978, 200.
226 Bonaventure, In II Sent., 23, 2, 3.
227 Thánh Gioan Thánh Giá, Cántico Espiritual, XIV, 5.
228 Ibid.
229 Ibid., XIV, 6-7.
230 Xem Sandra Yocum, “Liturgy: the Exaltation of Creation” trong The Theological and Ecological Vision of Laudato Si’: Everything Is Connected, ed. Vincent J. Miller (London: Bloomsbury, 2017), 127.
231 Philip Sherrard, The Rape of Man and Nature: An Enquiry into the Origins and Consequences of Modern Science (Suffolk: Golgonooza Press, 1987), 92.
232 Matthew T. Eggemeier, “A Sacramental Vision: Environmental Degradation and the Aesthetics of Creation,” Modern Theology 29 (2013), 352.
233 Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, Tông thư Orientale Lumen (02/05/1995), 11: AAS 87 (1995), 757.
234 Hội đồng Giám Mục Canada, “You Love All That Exists … All Things Are Yours, God, Lover of Life.” Thư Mục vụ của Ủy ban Xã hội về Mệnh lệnh Sinh thái Kitô giáo (4/10/2003), 7.
235 Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, Tông thư Orientale Lumen (2/05/1995), 11: AAS 87 (1995), 757.
236 Phần trình bày tuyệt vời về Thánh Thể dưới ánh sáng của Laudato Si’, xem: L. Briola, The Eucharistic Vision of Laudato Si’: Praise, Conversion, and Integral Ecology (Washington, DC: Catholic University of America Press, 2023).
237 Denis Edwards, “Eucharist and Ecology,” SEDOS Bulletin 41 (2009), 169.
238 Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, Thông điệp Ecclesia de Eucharistia (17/04/2003), 8: AAS 95 (2003), 438.
239 Đức Thánh Cha Biển Đức XVI, Bài giảng Thánh lễ Mình Máu Thánh Chúa (15/06/2006): AAS 98 (2006), 513.
240 Bonaventure, Quaest. Disp. de Myst. Trinitatis, 1, 2 concl.
241 Xem Kureethadam, Creation in Crisis, 324-25.
242 Đức Thượng Phụ Đại kết Batôlômêô I, “Greeting during the Symposium at Holy Trinity Monastery, Halki, June 1, 1992” in Cosmic Grace Humble Prayer: The Ecological Vision of the Green Patriarch Batôlômêô, ed. John Chryssavgis (Grand Rapids, MI – Cambridge, UK: William B. Eerdmans, 2009), 84.