FMA Logo

Điều răn xanh X: Vun trồng nhân đức sinh thái



Một trong những đóng góp quan trọng của Laudato Si' là kiên trì vun trồng các nhân đức sinh thái cho nhân loại của Đức Thánh Cha Phanxicô để chăm sóc ngôi nhà chung cách có trách nhiệm. Trong Thông điệp, Đức Phanxicô lặp lại lời mời gọi của các Giám Mục Braxin về việc vun trồng “nhân đức sinh thái”.243 (88) Theo ngài, chúng ta chỉ có thể bảo vệ và chăm sóc ngôi nhà chung bằng cách áp dụng lối sống hoàn toàn mới, ngài gọi là “những thói quen mới”. (209) Đức Phanxicô ý thức rằng để có những thói quen như vậy là điều khó, nhất là trong bối cảnh chủ nghĩa tiêu thụ và chủ nghĩa tương đối về văn hóa đang lan rộng khiến người ta “cảm thấy không thể từ bỏ những gì thị trường đặt ra trước mắt”. (209) Đức Phanxicô đặc biệt hiểu được những thách đố mà giới trẻ phải đối diện về mặt này. Họ “có sự nhạy cảm sinh thái mới và tinh thần quảng đại, một số bạn trẻ đang thực hiện những nỗ lực đáng nể phục để bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, họ đã trưởng thành trong bối cảnh xã hội tiêu thụ cực độ và sung túc làm cho họ khó phát huy những thói quen khác biệt”. (209)

Trong Tông huấn Laudate Deum gần đây, Đức Phanxicô thừa nhận rằng nhân loại đã có quyền lực chưa từng có đối với chính mình và thế giới tự nhiên, “nhưng không có gì đảm bảo rằng quyền lực đó sẽ được sử dụng cách khôn ngoan, đặc biệt khi chúng ta xem xét cách thức nó hiện đang được sử dụng”.244 Nghịch lý thay, mặc dù “chúng ta đạt được những tiến bộ công nghệ ấn tượng và tuyệt vời”, nhưng “chúng ta lại không nhận ra rằng cùng lúc đó chúng ta biến thành những hữu thể vô cùng nguy hiểm, có khả năng đe dọa tính mạng của nhiều loài khác và sự sống còn của chính chúng ta”.245 Như Đức Thánh Cha nhìn nhận, khi nhắc lại Thông điệp Laudato Si’, chúng ta có thể trở thành nạn nhân của quyền lực kinh tế và công nghệ của chính mình.

“…sự tiến bộ lớn lao về công nghệ không đi cùng với sự lớn lên về trách nhiệm, các giá trị và lương tâm con người… chúng ta thật trần trụi và phơi bày ra trước quyền lực ngày càng tăng của chúng ta, nhưng lại thiếu điều cần thiết để kiểm soát nó. Chúng ta có những cơ chế bề ngoài nhất định, nhưng không có đạo đức, văn hóa và linh đạo có ý nghĩa đúng đắn có thể đặt ra những giới hạn và dạy cho chúng ta giới hạn bản thân cách rõ ràng”.246 Không có gì lạ khi quyền lực lớn như thế nằm trong tay những người này lại có thể hủy diệt sự sống, trong khi tâm lý phù hợp với mô hình kỹ trị lại làm chúng ta mù quáng và không cho phép chúng ta nhìn ra vấn đề cực kỳ nghiêm trọng này của nhân loại ngày nay.247

Hình thành thói quen lành mạnh cho việc quản lý ngôi nhà chung của chúng ta chỉ có thể đạt được nhờ vun trồng “nhân đức sinh thái” thích hợp. Như Đức Phanxicô viết trong Laudate Deum, trích dẫn từ Fratelli Tutti: “Điều thiện hảo, cùng với tình yêu thương, công lý và tình liên đới, không thể đạt được một lần cho mãi mãi; chúng phải được chinh phục mỗi ngày”.248 Theo Đức Phanxicô, “hãy nhớ rằng không có thay đổi lâu dài nếu không có thay đổi về văn hóa, sẽ không có trưởng thành trong lối sống và niềm tin của xã hội, và không có thay đổi văn hóa nào mà không có thay đổi về con người”.249

Đức Phanxicô nhắc nhở trong Laudato Si’ rằng luật pháp và quy định chưa đầy đủ về mặt này và chỉ bằng cách trau dồi các nhân đức sinh thái lành mạnh mới có thể dẫn đến quên mình cho dấn thân sinh thái. Ngài viết:

Sự tồn tại của pháp luật và quy định chưa đủ để ngăn chặn hành vi đối xử tệ hại trong thời gian dài, ngay cả khi có các phương thế bắt buộc hữu hiệu. Để pháp luật mang lại tác động quan trọng và lâu dài, các thành viên của xã hội phải được khích lệ để chấp nhận chúng, và đáp trả bằng cách biến đổi cá nhân. Chỉ bằng cách vun trồng các nhân đức vững chắc thì con người mới có thể quên mình cho dấn thân sinh thái. (211)

Điều răn xanh cuối cùng của chúng ta bàn về các nhân đức sinh thái mà chúng ta cần trau dồi để trở thành những người quản lý ngôi nhà chung. Các nhân đức sinh thái không được liệt kê thành phần riêng trong Thông điệp, nhưng được đề cập nhiều lần trong toàn văn bản. Chúng giống như những tấm biển chỉ đường cho chúng ta chăm sóc ngôi nhà hành tinh chung.

Bây giờ chúng ta sẽ suy tư chi tiết về bảy nhân đức sinh thái trong Thông điệp Laudato Si': ca tụng, biết ơn, chăm sóc, công bằng, lao động, tiết độ và khiêm nhường - những nhân đức giúp chúng ta chăm sóc hành tinh chung cách yêu thương và trách nhiệm hơn.

1. Ca tụng

Ngay tựa đề của Thông điệp đã là một lời mời gọi ca tụng Đấng Tạo Hóa “Laudato Si' mi' Signore”, “Ngợi khen Chúa, lạy Thiên Chúa của con”, là những dòng đầu tiên của Bài ca Vạn vật được thánh Phanxicô Assisi sáng tác bằng phương ngữ Umbria vào khoảng năm 1225, bài thơ tiếng Ý bản xứ đầu tiên trong lịch sử. Ca tụng là một chủ đề cơ bản xuyên suốt Thông điệp và xuất hiện gần ba mươi lần trong bản văn.

Trong Tông huấn Laudate Deum, Đức Thánh Cha Phanxicô nhận xét rằng lời mời ca tụng Đấng Tạo Hóa vì công trình sáng tạo là đặc trưng cuộc đời và công việc của thánh Phanxicô Assisi. Ngài viết trong đoạn mở đầu Tông huấn:

“Hãy ngợi khen Thiên Chúa vì mọi thụ tạo của Người”. Đây chính là sứ điệp mà Thánh Phanxicô Assisi đã công bố bằng cả cuộc đời, bằng những bài thánh ca và mọi hành động của ngài. Bằng cách này, thánh nhân đón nhận lời mời gọi của các Thánh vịnh trong Kinh thánh và họa lại sự nhạy bén của Đức Giêsu trước các thụ tạo của Chúa Cha: “Hãy ngắm xem hoa huệ ngoài đồng mọc lên thế nào mà rút ra bài học: chúng không làm lụng, không kéo sợi; thế mà, Thầy bảo cho anh em biết: ngay cả vua Salômôn, dù vinh hoa tột bậc, cũng không mặc đẹp bằng một bông hoa ấy” (Mt 6,28-29). “Năm con chim sẻ chỉ bán được hai hào phải không? Thế mà không con nào bị bỏ quên trước mặt Thiên Chúa” (Lc 12,6).250 

Theo quan điểm thần học, hiện hữu của mọi thụ tạo và toàn thể Tạo Thành là làm vinh quang và ca tụng Thiên Chúa. Tạo Thành trở thành đền thờ sống động vang lên lời ca tụng Thiên Chúa.251 Sách thánh của các truyền thống tôn giáo khác nhau, và đặc biệt là truyền thống Kinh Thánh có rất nhiều ca khúc của vạn vật ca tụng Đấng Tạo Hóa. Kinh Thánh của Kitô giáo có nhiều tài liệu tham khảo về phụng vụ ca ngợi không ngừng của thụ tạo. Như Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã nói trong Sứ điệp năm 1990: “Kinh Thánh không ngừng nhắc đi nhắc lại về sự tốt lành và vẻ đẹp của công trình sáng tạo, cũng là lời mời gọi tôn vinh Thiên Chúa (x.St 1,4ff; Tv 8,2; 104,1ff; Kn13, 3-5; Hc39,16, 33; 43,1.9).252

Phụng vụ ca tụng của vũ trụ đặc biệt phổ biến trong các Thánh Vịnh. Như Đức Phanxicô đề cập trong Laudato Si’, “các Thánh Vịnh thường xuyên thúc đẩy chúng ta chúc tụng Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa, “Đấng trải mặt đất này trên làn nước bao la, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” (Tv 136, 6). (72) Theo ngài, “Thánh Vịnh cũng mời gọi các loài thụ tạo khác hòa cùng chúng ta trong lời ca tụng này: “Ca tụng Chúa đi, này vầng ô bóng nguyệt, ca tụng Người, muôn tinh tú rạng soi. Ca tụng Chúa đi, hỡi cửu trùng cao vút, cả khối nước phía trên bầu trời. Nào ca tụng thánh danh Đức Chúa, vì Người ra lệnh, là hết thảy được tạo thành” (Tv 148,3-5). (72) Thật vậy, đoạn cuối của sách Thánh Vịnh kết thúc bằng lời mời gọi “Hỡi toàn thể chúng sinh, ca tụng Chúa đi nào!” (Tv 150, 6).

Tuy nhiên, trong phụng vụ ngợi khen của vũ trụ, con người đóng vai trò rất quan trọng. Họ không chỉ cầu nguyện và ca hát với Tạo Thành nhưng còn trở nên tiếng nói thay cho toàn thể thụ tạo không có tiếng nói để ca tụng Thiên Chúa.253 Ơn gọi độc đáo của con người là trở thành tiếng nói cho toàn thể Tạo Thành không có tiếng nói để thờ phượng ca tụng Thiên Chúa. Leontius Byzantium đã viết vào thế kỷ IX: “Tạo Thành không trực tiếp tôn kính Đấng Tạo Hóa, mà chính qua [chúng ta] các tầng trời công bố vinh quang Thiên Chúa, qua [chúng ta] mặt trăng tôn thờ Thiên Chúa, qua [chúng ta] nước và mưa tuôn, sương mù và mọi thụ tạo tôn vinh Thiên Chúa và làm vinh danh Người”.254 Thánh Phanxicô Assisi là mẫu gương tuyệt đẹp về lãnh vực này. Đức Thánh Cha gợi nhắc trong Thông điệp về việc Thánh Phanxicô đã tự nhiên cất lời ca ngợi vẻ đẹp của vạn vật như thế nào:

Như khi chúng ta yêu ai thì luôn hướng về người đó, bất cứ lúc nào ngài nhìn ngắm mặt trời, mặt trăng hoặc các loài động vật nhỏ bé nhất, ngài cũng có thể cất lên thành lời ca, lôi kéo tất cả mọi loài thụ tạo khác vào trong bài ca tụng của ngài. Ngài hiệp thông với toàn thể công trình sáng tạo, thậm chí là giảng cho những bông hoa, mời chúng “ca tụng Thiên Chúa, như thể chúng có lý trí vậy”.255 Ngài tương tác với thế giới xung quanh vượt xa hiểu biết tri thức hay những tính toán kinh tế, vì đối với ngài, mỗi và mọi loài thụ tạo đều là người chị em hiệp nhất với ngài bằng những mối dây liên kết tình cảm. (11)

Chúng ta ca ngợi Đấng Tạo Hóa khi chúng ta có thể nhận ra hình ảnh của Người phản chiếu trên tấm gương của Tạo Thành. Như Đức Phanxicô viết trong Thông điệp, “khi chúng ta có thể nhìn thấy hình ảnh Thiên Chúa phản chiếu trong tất cả mọi sự đang hiện hữu, tâm hồn chúng ta được thôi thúc để chúc tụng Thiên Chúa về tất cả mọi thụ tạo và hiệp nhất với chúng để thờ phượng Người”. (87) Tình cảm này đã được thể hiện cách tuyệt vời trong “Bài ca vạn vật” của Thánh Phanxicô Assisi. Đức Phanxicô trích dẫn bài thánh ca tuyệt đẹp và tinh tế này để ca tụng Đấng Tạo Hóa vì những điều kỳ diệu trong công trình sáng tạo của Người.

“Ngợi khen Chúa, lạy Thiên Chúa của con,

với muôn loài thụ tạo, đặc biệt với Anh Mặt Trời,

Anh là ánh sáng ban ngày,

nhờ Anh, Ngài soi chiếu chúng con.

Anh đẹp và tỏa ánh rạng ngời,

Anh tượng trưng cho Ngài, lạy Đấng Tối Cao.

Ngợi khen Chúa, lạy Thiên Chúa của con,

vì Chị Mặt Trăng và muôn tinh tú,

được Ngài dựng nên trên nền trời lung linh, cao quí và diễm lệ.

Ngợi khen Chúa, lạy Thiên Chúa của con, vì Anh Gió,

Không khí và mây trời, cảnh thanh quang và bát tiết tứ thời

nhờ Anh, Chúa bảo tồn muôn vật.

Ngợi khen Chúa, lạy Thiên Chúa của con, vì Chị Nước,

thật ích lợi và khiêm nhu, quí hóa và trinh trong.

Ngợi khen Chúa, lạy Thiên Chúa của con, vì Anh Lửa,

nhờ Anh, Chúa thắp sáng màn đêm,

Anh thật đẹp, vui tươi, hùng tráng và mạnh mẽ”.256 (87)

Thật ý nghĩa khi Đức Phanxicô kết thúc Thông điệp của mình bằng lời mời hân hoan tham gia vào dàn đồng ca của các thụ tạo trong bài ca tụng ngợi khen. Ngài thôi thúc “chúng ta hãy ca hát khi chúng ta còn đang lữ hành”.257 (244)

Một vấn đề cơ bản của con người hiện đại là câm điếc trước bản hòa tấu ca tụng của vũ hoàn không ngừng dâng lên Đấng Tạo Hóa. Chúng ta sống trong một thế giới thiếu vắng sự ngạc nhiên là bước đệm để cất lời ca tụng. Như Francis Schaeffer viết: “Sự ngạc nhiên không còn nữa. Con người ngồi trong thế giới “suy thoái” tự trị của mình, nơi không có những cái hoàn vũ và không có điều kỳ diệu trong tự nhiên. Quả thực, một cách ngạo mạn và ích kỷ, con người đã biến thiên nhiên thành một ‘thứ’ để sử dụng và khai thác”.258

Ngày nay, khi đối diện với khủng hoảng của ngôi nhà chung, chúng ta cần tái khám phá khả năng ngạc nhiên và ca tụng trước vẻ đẹp của công trình sáng tạo. Như Đức Phanxicô viết: “Hơn là vấn đề cần giải quyết, thế giới là mầu nhiệm đầy vui tươi cần được chiêm ngưỡng bằng niềm hoan hỷ và lời ca tụng”. (12) Khi “chiêm ngưỡng vẻ đẹp” như Đức Thánh Cha lưu ý, “bước nhảy vọt lớn lao xảy ra, đưa tới sự tròn đầy duy nhất chỉ có nơi con người”. (103) Chúng ta chỉ cứu được ngôi nhà chung khi chúng ta học cách nhìn nó với sự ngạc nhiên sâu sắc vọt trào thành lời ca tụng Đấng Tạo Hóa vì tất cả những kỳ công của Tạo Thành.

2. Biết ơn

Liên kết chặt chẽ với ca tụng là lòng biết ơn. Đức Phanxicô cho rằng ngày nay thiên nhiên thường chỉ được xem “như một hệ thống có thể nghiên cứu, hiểu biết và kiểm soát, trong khi công trình tạo dựng chỉ có thể hiểu được như món quà từ cánh tay vươn ra của Thiên Chúa là Cha muôn loài”. (76) Lòng biết ơn vọt trào trong tâm hồn khi chúng ta đón nhận “mỗi giây phút như món quà từ Thiên Chúa để sống cách tròn đầy”. (226) Nền tảng của lòng biết ơn trên Trái đất là nhận thức sâu xa rằng “thế giới là món quà mà chúng ta đón nhận cách nhưng không và phải trao ban cách nhưng không”. (159) Đức Phanxicô còn lặp lại trong Thông điệp rằng “việc nhìn nhận thế giới là món quà yêu thương của Thiên Chúa” một cách tự nhiên “đòi hỏi lòng biết ơn và sự nhưng không”. (220)

Cái nhìn biết ơn về thế giới tự nhiên có hàm ý cụ thể trong cách ứng xử với thực tại. Đức Thánh Cha viết “vì thế giới đã được trao ban cho chúng ta, nên chúng ta không thể nhìn thực tại cách thực dụng thuần túy, trong đó hiệu quả và năng suất chỉ hướng đến lợi ích cá nhân”. (159)

Đức Thánh Cha khen ngợi những cộng đồng bản địa đã giữ gìn lòng biết ơn nguyên thủy đối với món quà của đất và thân xác của họ. “Đối với họ, đất không phải là món hàng nhưng là món quà từ Thiên Chúa và từ ông bà tổ tiên là những người đang yên nghỉ ở đó; đất là không gian thánh thiêng mà họ cần tương tác nếu muốn tiếp tục duy trì bản sắc và giá trị của họ”. (146)

Biết ơn là nhân đức mà chúng ta đang mất nhanh chóng và Đức Thánh Cha mời gọi chúng ta phải phục hồi. Ngài mời gọi thực hành thói quen đơn sơ là cầu nguyện tạ ơn trước và sau bữa ăn. Ngài nói:

Một biểu hiện của thái độ này là dừng lại và dâng lời tạ ơn Thiên Chúa trước và sau bữa ăn. Tôi mời gọi tất cả mọi tín hữu trở về với tập quán đẹp và ý nghĩa này. Thời khắc phúc lành ấy, dù là vắn vỏi, cũng nhắc nhớ chúng ta về sự lệ thuộc vào Thiên Chúa của sự sống; củng cố tâm tình biết ơn của chúng ta về những món quà của công trình tạo dựng; giúp nhận biết công lao của những người làm ra của ăn; và tái khẳng định tình liên đới của chúng ta với những người đang cần trợ giúp. (227)

Thánh Thể là hành động tạ ơn và chúc tụng cao cả nhất mà mọi người có thể dâng lên Chúa. Động từ eucharisteo trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là ngợi khen và cảm ơn. Trong Thánh Thể, món quà của Tạo Thành dưới hình bánh rượu được dâng lên Đấng Tạo Hóa trong lời cầu nguyện và tạ ơn. Như Đức Thượng Phụ đại kết Batôlômêô chia sẻ:

Với bánh và rượu trong Thánh Thể, với tư cách là tư tế trước bàn thờ thế giới, chúng ta dâng Tạo Thành lại cho Đấng Tạo Hóa… Chúng ta ca tụng vẻ đẹp của Tạo Thành và thánh hóa sự sống của thế giới, dâng nó lại cho Thiên Chúa với lòng biết ơn… chúng ta dâng sự toàn vẹn của Tạo Thành trong Bí tích Thánh Thể, và nhận lại nó như một phúc lành, một sự hiện diện sống động của Thiên Chúa.259

Thánh Thể là tưởng niệm tạ ơn, lễ tưởng niệm công trình kỳ diệu của Thiên Chúa trong tạo dựng và cứu chuộc. Louis Bouyer nhận định rằng những lời cầu nguyện Thánh Thể của Kitô giáo thời kỳ đầu được mô phỏng theo hình thức cầu nguyện của người Do Thái trong Hội đường và tại nhà, và trên hết là trong bữa tiệc Vượt Qua, luôn bắt đầu bằng việc chúc lành các món quà của Tạo Thành, tưởng nhớ và tạ ơn Thiên Chúa vì những công trình vĩ đại của Người trong sáng tạo và cứu chuộc.260 Nhà thần học chính thống John Zizioulas, Tổng Giám Mục Pergamon, cho thấy tất cả các phụng vụ Thánh Thể cổ xưa đều bắt đầu bằng việc tạ ơn vì công trình tạo dựng và sau đó tiếp tục bằng việc tạ ơn vì ơn cứu chuộc trong Chúa Kitô, và tất cả đều tập trung vào việc dâng các món quà của Tạo Thành lên Đấng Tạo Hóa.261

Bí tích Thánh Thể thực sự là hành động tạ ơn và thờ phượng mang tính vũ hoàn. Như Đức Phanxicô viết trong Laudato Si’: “Kết hợp với Chúa Con nhập thể đang hiện diện trong Thánh Thể, toàn thể vũ trụ dâng lời tạ ơn Thiên Chúa”. (236) Về vấn đề này, Brandon Gallaher nhận định: “Biểu tượng sống động của lối sống khiêm tốn và biết ơn là Bí tích Thánh Thể. Dưới hình bánh và rượu, nhân loại dâng lại cho Thiên Chúa những gì thuộc về Thiên Chúa, thời gian và không gian được thánh hóa”.262

Là tư tế trong Tạo Thành này, con người được mời gọi sống đặc tính Thánh Thể: “sử dụng tài nguyên của trái đất với lòng biết ơn và dâng chúng lại cho Thiên Chúa”.263 Món quà (tiếng Hy Lạp là doron) của Tạo Thành khi được dâng lại cho Đấng Tạo Hóa với lòng biết ơn trở thành món quà trao lại (tiếng Hy Lạp: antidoron) cho con người. “Thiên nhiên là doron của Thiên Chúa ban cho con người. Antidoron của con người dâng lại Đấng Tạo Hóa và người Cha của nhân loại là sự tôn trọng món quà đó, bảo vệ Tạo Thành cũng như sử dụng cách cẩn trọng và sinh hoa trái”.264 Điều đó cũng có nghĩa là chia sẻ hoa trái của Tạo Thành cách quảng đại với anh chị em đồng loại.

Khủng hoảng ngôi nhà chung cho thấy chúng ta thiếu khả năng nâng cả Tạo Thành lên trong lời chúc tụng và tạ ơn. Việc chúng ta lạm dụng Tạo Thành và tạo vật cho thấy chúng ta vô ơn với Đấng Tạo Hóa. Khủng hoảng sinh thái cho thấy chúng ta không biết sống thánh thể. Chúng ta không chỉ lợi dụng các quà tặng phong phú của Tạo Thành, nhưng còn không biết chia sẻ chúng với anh chị em, nhất là những người khó khăn trong tinh thần hiệp thông (koinonia). Chúng ta phải sống đời mình cách biết ơn trên trái đất này, theo con đường Thánh Thể, dâng lời tạ ơn Thiên Chúa vì món quà Tạo Thành và chia sẻ quảng đại với người khác.

3. Chăm sóc

Chăm sóc là một nhân đức sinh thái quan trọng khác trong Laudato Si’. Thật vậy, ngay trong tựa đề của Thông điệp đã có phụ đề việc chăm sóc ngôi nhà chung của chúng ta. Ở đây có sự thay đổi tinh tế từ cách sử dụng thuật ngữ “quản lý” trong thần học sáng tạo của Kitô giáo nhiều thập kỷ qua sang thuật ngữ “chăm sóc”. Thuật ngữ quản lý thường xuất hiện nhiều trong lời kêu gọi quan tâm đến môi trường dựa trên đức tin, chỉ xuất hiện hai lần trong toàn bộ Thông điệp. Đức Phanxicô nhấn mạnh đến việc chăm sóc công trình tạo dựng hơn là quản lý. Theo Đức Hồng Y Peter Turkson, chăm sóc đi xa hơn quản lý. Ngài viết:

Người quản lý tốt chịu trách nhiệm và hoàn thành nhiệm vụ của mình trong việc quản lý và giải trình. Người ta có thể là một quản lý tốt mà không có kết nối. Tuy nhiên, nếu một người chăm sóc, người ấy sẽ kết nối. Chăm sóc là để cho mình bị ảnh hưởng bởi người khác, đến mức con đường và ưu tiên của mình cũng thay đổi. Cha mẹ tốt hiểu điều này. Họ quan tâm con, họ chăm sóc con nhiều đến mức họ có thể hy sinh tất cả, ngay cả mạng sống, để đảm bảo an toàn và sự lớn lên của con. Với sự chăm sóc, ranh giới giữa tôi và người khác nhỏ lại, mờ đi và có thể biến mất. Đức Thánh Cha Phanxicô đề nghị chúng ta nhìn tương quan của chúng ta với thế giới và với mọi người trong nhãn quan chăm sóc.265

Theo Đức Phanxicô, “hoán cải sinh thái” cần thiết cho khủng hoảng ngôi nhà chung “đòi hỏi thái độ cùng nhau nuôi dưỡng tinh thần chăm sóc đại lượng, dịu dàng”. (220) Chăm sóc mang tính nhân bản đích thực và Kitô giáo đích thực. Như Jon M. Sweeney nhận định “chăm sóc là năng lực thiết yếu của con người, một nhân đức đòi hỏi hành động”, bén rễ sâu trong các Mối Phúc của Tin Mừng và chủ nghĩa nhân văn Kitô giáo.266 Khi chăm sóc ngôi nhà chung và những thành viên yếu đuối trong gia đình chung, chúng ta thực sự đang bắt chước sự chăm sóc yêu thương và dịu dàng của Thiên Chúa đối với thụ tạo. Như Đức Phanxicô viết trong Thông điệp “mọi loài thụ tạo là đối tượng của sự dịu dàng của Chúa Cha, Đấng đặt để nó ở một vị trí trong thế giới”. (77) Chúng ta được kêu gọi “cộng tác như những khí cụ của Thiên Chúa, để chăm sóc công trình sáng tạo, mỗi người theo văn hóa, kinh nghiệm, sự tham gia và tài năng của mình”. (14)

Chiếu tỏa hình ảnh Thiên Chúa trong việc chăm sóc Tạo Thành là nền tảng của ơn gọi làm người. Đó là bản mô tả công việc rõ ràng của chúng ta trong Kinh Thánh.267 Thật vậy, khi chăm sóc, con người bộc lộ căn tính cụ thể của mình là được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa (imago Dei). Như Mark Bredin cho thấy “bản chất được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa là chăm sóc Tạo Thành như chính Thiên Chúa chăm sóc và nuôi dưỡng”.268 Được tạo dựng theo hình ảnh và giống Thiên Chúa, con người được kỳ vọng sẽ chăm sóc Tạo Thành với cùng sự chăm sóc và lòng trắc ẩn như Thiên Chúa. Cựu Tổng Giám Mục Canterbury, Rowen Williams, viết: “sách Sáng Thế cho biết khi chúng ta được mời gọi gắn bó với Đấng Tạo Hóa, đồng thời chúng ta cũng được trao phó trách nhiệm với phần còn lại của thế giới. Đó là cách chúng ta thể hiện tương quan của mình với Đấng Tác Tạo, thể hiện thực tại rằng chúng ta được dựng nên theo hình ảnh của Chúa”.269

Đạo đức chăm sóc có gốc rễ trong cái nhìn về thế giới như mạng lưới các tương quan. Đức Phanxicô viết: “Chúng ta phải trở lại niềm xác tín cần có nhau, chúng ta chia sẻ trách nhiệm với nhau và với thế giới”. (229) Thật vậy, “nhận thức cơ bản về liên hệ giữa con người với nhau làm nảy sinh sự nhìn nhận trách nhiệm đối với nhau”.270 Đức Thánh Cha viết: “Nhất thiết phải quan tâm vô vị lợi dành cho người khác, loại trừ mọi hình thức quy ngã và cô lập nếu chúng ta thực sự mong muốn chăm sóc anh chị em và môi trường thiên nhiên”. (208) Ngài đề xuất những mẫu gương trong truyền thống Kitô giáo về khía cạnh này, nổi bật là Thánh Phanxicô Assisi mà ngài đề cập ngay từ phần dẫn nhập của Thông điệp như mẫu gương tuyệt hảo về chăm sóc. Ngài chia sẻ:

Tôi tin rằng Thánh Phanxicô là mẫu gương hoàn hảo về chăm sóc những gì bị tổn thương và sinh thái toàn diện vui tươi, đích thực... Ngài đặc biệt quan tâm đến công trình sáng tạo của Thiên Chúa, đến người nghèo và những người bị bỏ rơi. Ngài yêu mến và được yêu mến cách sâu sắc vì niềm vui, sự trao ban chính bản thân cách quảng đại và mở rộng tâm hồn của Ngài. Ngài là một nhà thần bí và người lữ hành giản dị, hòa hợp trọn vẹn với Thiên Chúa, với người khác, với thiên nhiên và với chính bản thân. Ngài cho chúng ta thấy mối dây liên kết không thể tách rời giữa quan tâm đến thiên nhiên, công lý cho người nghèo, dấn thân xã hội và bình an nội tâm. (10)

Theo Đức Thánh Cha, động cơ thúc đẩy Thánh Phanxicô chăm sóc các loài thụ tạo là nên một với chúng. Ngài viết: “đối với vị thánh, mỗi và mọi loài thụ tạo đều là người chị hiệp nhất với ngài bằng liên kết tình cảm… Môn đệ của ngài là thánh Bônaventura nói với chúng ta: “từ suy tư về nguồn cội của mọi sự, với lòng thành kính tràn đầy, ngài có thể gọi các loài thụ tạo, bất kể nhỏ bé cỡ nào, bằng cái tên là ‘anh’ hay ‘chị’.271 (11) Ngài tiếp: “Một niềm xác tín như thế không thể được viết ra như kiểu lãng mạn ngớ ngẩn, vì nó ảnh hưởng đến những chọn lựa quyết định việc hành xử của chúng ta”. (11) Ngài cho thấy thái độ chăm sóc như thế có kết quả thế nào trong tự nhiên:

“Nếu chúng ta tiếp cận thiên nhiên và môi trường mà không mở lòng cho sự thán phục và ngưỡng mộ, nếu chúng ta không còn nói ngôn ngữ của tình huynh đệ và vẻ đẹp trong các tương quan với thế giới nữa, thái độ của chúng ta sẽ là những người chủ, người tiêu thụ, người khai thác không biết điểm dừng, không có giới hạn cho những nhu cầu tức thời của chúng ta. Trái lại, nếu chúng ta cảm thấy hiệp nhất gần gũi với tất cả mọi sự đang hiện hữu, tiết độ và chăm sóc sẽ tự động phát sinh”. (11)

Trong Thông điệp, Đức Phanxicô cũng đề xuất những mẫu gương biết chăm sóc khác. Ví dụ như thánh Têrêsa Lisieux “mời gọi chúng ta bước theo con đường nhỏ của tình yêu, không bỏ lỡ một lời nói tử tế, một nụ cười hay một nghĩa cử nhỏ bé để gieo rắc bình an và tình bạn”. (230) Đức Thánh Cha thúc đẩy sự bền tâm trong những bước nhỏ để chăm sóc thế giới đang bị tổn thương. Theo ngài, “sinh thái toàn diện cũng được tạo nên từ những nghĩa cử đơn sơ mỗi ngày, chúng phá vỡ lý luận của bạo lực, khai thác và ích kỷ”. (230)

Trong Laudato Si’, Đức Phanxicô cũng bàn về chiều kích cộng đồng của việc chăm sóc. Ngài nói: chăm sóc “…cũng mang tính dân sự và chính trị, và thể hiện trong mọi hành động nhằm xây dựng thế giới tốt đẹp hơn” (231). Chăm sóc tạo nên văn minh tình yêu trên Trái đất. Theo ngài, chăm sóc diễn tả khía cạnh xã hội của tình yêu hay đức ái Kitô giáo. Ngài khẳng định điều này dựa trên sự phong phú của giáo huấn xã hội của Giáo Hội Công Giáo.

Tình yêu xã hội và dấn thân cho công ích là biểu hiện tuyệt vời của lòng bác ái, không chỉ ảnh hưởng đến các tương quan giữa cá nhân mà còn đến “quan hệ vĩ mô, xã hội, kinh tế và chính trị”.272 Đó là lý do vì sao Hội Thánh đề xuất cho thế giới lý tưởng về “nền văn minh tình yêu”.273 Tình yêu xã hội là chìa khóa cho sự phát triển đích thực: “Để làm cho xã hội nhân bản hơn, xứng hợp với con người hơn, tình yêu trong đời sống xã hội – chính trị, kinh tế và văn hóa – phải mặc lấy giá trị mới, trở thành chuẩn mực thường hằng và cao cả cho mọi hoạt động”.274 Trong bối cảnh này, cùng với tầm quan trọng của những nghĩa cử nhỏ bé hằng ngày, tình yêu xã hội thúc đẩy chúng ta đề xuất những chiến lược hữu hiệu làm giảm suy thoái môi trường và khích lệ “văn hóa chăm sóc” thấm nhuần toàn thể xã hội. (231)

Theo Đức Phanxicô, mẫu gương chăm sóc hoàn hảo là Đức Maria, người mẹ đã chăm sóc Chúa Giêsu. Giờ đây, Mẹ “đang chăm sóc thế giới bị thương tích này bằng tình yêu và lòng trắc ẩn. Cũng như trái tim bị đâm thâu của Mẹ đau đớn trước cái chết của Chúa Giêsu thế nào, thì giờ đây Mẹ đang đau đớn trước nỗi khốn khổ của người nghèo bị đóng đinh và các loài thụ tạo bị sức mạnh con người phá hủy như vậy”. (241) Đức Thánh Cha cũng nói về thánh Giuse đã chăm sóc, bảo vệ Mẹ Maria và Chúa Giêsu qua công việc và sự hiện diện quảng đại của Ngài. Thánh Giuse cũng là người trông coi Giáo Hội hoàn vũ. “Ngài dạy chúng ta cách thể hiện sự chăm sóc; Ngài tạo cảm hứng cho chúng ta làm việc với lòng quảng đại và dịu dàng để bảo vệ thế giới đã được Thiên Chúa ủy thác cho chúng ta”. (242)

4. Công bằng

Công bằng là một nhân đức sinh thái quan trọng trong bối cảnh bất bình đẳng sâu xa tồn tại và góp phần gây ra khủng hoảng ngôi nhà chung. Ngày nay chúng ta phải nói đến “eco-justice” - công bằng sinh thái. Nền tảng của công bằng sinh thái là tất cả mọi của cải vật chất thuộc về mọi người. Đức Phanxicô viết:

Dù là người có niềm tin hay không, ngày nay chúng ta đều đồng ý với nhau rằng trái đất tự bản chất là tài sản thừa kế chung, hoa trái của nó phải dành cho lợi ích của mọi người. Đối với các tín hữu, điều này còn là lòng trung thành với Đấng Tạo Hóa, vì Thiên Chúa dựng nên thế giới cho mọi người. Do đó, mọi cách tiếp cận sinh thái cần phải phối hợp với góc độ xã hội, biết suy xét đến quyền lợi nền tảng của người nghèo và người thiếu thốn. (93)

Mặc dù “môi trường tự nhiên là tài sản tập thể, tài sản của toàn nhân loại… hai mươi phần trăm dân số thế giới lại tiêu thụ các nguồn tài nguyên nhiều đến mức cướp đi điều kiện tồn tại thiết yếu của các quốc gia nghèo và các thế hệ tương lai”.275 (95) Đức Phanxicô nhận định “quan điểm “mạnh thì đúng” làm cho tình trạng bất bình đẳng, bất công và bạo lực chống lại đa số nhân loại ngày càng nhiều hơn, vì các nguồn tài nguyên rốt cuộc rơi vào tay của người tới đầu tiên hoặc người quyền thế nhất: người thắng sẽ nắm tất cả”. (82) Đức Phanxicô không ngần ngại cho thấy tình trạng này “hoàn toàn trái ngược” với “lý tưởng hòa hợp, công lý, tình huynh đệ và hòa bình mà Chúa Giêsu mời gọi”. (82)

Khủng hoảng sinh thái đương thời trở thành hình ảnh thu nhỏ của bất công, vì sự thật đau lòng là phần lớn khủng hoảng do người giàu gây ra nhưng nạn nhân lại là người nghèo và khốn khổ.276 Trong khi khủng hoảng sinh thái ảnh hưởng đến ngôi nhà chung và gia đình chung của chúng ta, thì tác động tai hại của nó lại chủ yếu xảy ra với người nghèo và những thành phần dễ bị tổn thương nhất trong xã hội. Khủng hoảng sinh thái nảy sinh trong sự bất bình đẳng. Bất công do khủng hoảng sinh thái đương thời gây ra thể hiện rõ trong trường hợp biến đổi khí hậu, là thách đố sinh thái lớn nhất mà nhân loại đang phải đối diện. Không có những đánh giá nhấn mạnh đến thực tế rằng biến đổi khí hậu tác động đầu tiên và nặng nề nhất lên 'người nghèo và thiếu thốn nhất trên thế giới'.277 Chúng ta trích dẫn Chris J. Cuomo:

Biến đổi khí hậu được tạo ra trong lò luyện bất bình đẳng, vì nó là sản phẩm của thời đại công nghiệp và nhiên liệu hóa thạch, những sức mạnh lịch sử có được do bóc lột, chủ nghĩa thực dân và sử dụng 'thiên nhiên' như một công cụ không giới hạn. Các quốc gia giàu nhất thế giới, các tầng lớp ưu tú và các bộ phận sở hữu công nghiệp ở hầu hết các quốc gia đã xây dựng sự thịnh vượng và ổn định kinh tế lâu dài nhờ hàng thập kỷ phát triển và tiêu thụ năng lượng không kiểm soát. Qua việc thải chất độc hại vào bầu khí quyển chung, chúng ta đã gây nguy hiểm cho tất cả mọi người, kể cả những người ít hoặc không gây ra một chút hiệu ứng nhà kính công nghiệp nào như các quốc gia 'kém phát triển', thế giới tự nhiên và các thế hệ tương lai.278

Robert Henson trình bày rõ nghịch lý bi thảm của vấn đề sinh thái như biến đổi khí hậu sẽ ảnh hưởng đến người nghèo nhiều nhất, dù họ góp mặt ít nhất vào những nguyên nhân cơ bản gây ra nó:

Nếu tình trạng nóng lên toàn cầu chỉ làm cho cuộc sống của những người tiêu thụ nhiều nhiên liệu hóa thạch nhất trên thế giới trở nên khó khăn hơn một chút, thì hậu quả của nó sẽ gói gọn trong đó. Nhưng khốn thay, biến đổi khí hậu không tập trung các hậu quả của nó như thế. Hành tinh nóng lên là nguyên nhân gây ra hàng loạt hậu quả đối với hàng triệu người chưa bao giờ khởi động chiếc xe hơi hoặc thực hiện một chuyến bay qua nước khác.279

Khủng hoảng sinh thái đương thời cho thấy tình trạng bất công sâu sắc, trong đó lối sống của nhóm nhỏ các xã hội giàu có đang đe dọa sinh kế của những nhóm dân cư dễ bị tổn thương trong hộ gia đình chung của chúng ta. Công bằng đòi phải trả lại các khoản nợ phát sinh. Như Caritas Quốc tế chỉ ra rằng thế giới phát triển đã vay mượn tiềm năng phát triển của các nước nghèo và những 'khoản vay' này phải được hoàn trả.280 Trong bối cảnh khủng hoảng ngôi nhà chung, điều cần thiết ngày nay không phải là bác ái hơn mà là công bằng cho người nghèo. Đức Phanxicô trích dẫn lời của Đức Thánh Cha Biển Đức XVI trong Thông điệp: “Chỉ khi nào “các khoản chi phí kinh tế và xã hội của việc sử dụng nguồn tài nguyên chung được nhìn nhận minh bạch và những người tiêu thụ phải gánh lấy trách nhiệm đầy đủ, chứ không phải người khác hay các thế hệ tương lai phải chịu”281 thì những hành động ấy mới được coi là đạo đức”. (195)

Khủng hoảng sinh thái đương đại tận cùng là vấn đề công bằng. Đó là sự công bằng giữa các cộng đồng của cùng một thế hệ (nội thế hệ), giữa thế hệ hiện tại và tương lai (liên thế hệ). Như Đức Phanxicô viết trong Thông điệp: “Chúng ta có thể là những chứng nhân câm nín trước những bất công khủng khiếp nếu chúng ta nghĩ rằng có thể đạt được lợi ích đáng kể qua việc làm cho toàn thể nhân loại còn lại, hiện tại và tương lai, trả giá đắt cho suy thoái môi trường”. (36)

Công bằng sinh thái trước hết là quan tâm đến những thành viên nghèo khổ và dễ bị tổn thương trong gia đình chung của chúng ta, “những người có cuộc sống trên trái đất này rất ngắn ngủi và không thể tiếp tục chờ đợi”.282 (162) Do đó, “nhu cầu cấp bách mang tính đạo đức là phải có cảm thức liên đới mới trong cùng một thế hệ”. (162) Công bằng sinh thái đòi phải có quyền phát triển cho người nghèo và vấn đề xóa đói giảm nghèo phải được đặt ở trung tâm của việc đáp ứng đạo đức trước khủng hoảng ngôi nhà chung. Một lần nữa Đức Phanxicô viết: “Chúng ta phải suy nghĩ về trách nhiệm của chúng ta trước những người sẽ phải gánh chịu hậu quả đau thương”. (161)

Công bằng sinh thái cũng mang tính liên thế hệ. Theo Đức Phanxicô, “việc không suy nghĩ nghiêm túc về các thế hệ tương lai gắn liền với sự thất bại của chúng ta trong việc mở rộng mối quan tâm và chú ý đến người bị loại trừ khỏi sự phát triển”. (162) Tình liên đới giữa các thế hệ xét cho cùng là vấn đề công bằng.

Sự liên đới giữa các thế hệ không mang tính tùy chọn, nhưng là vấn đề căn bản của công bằng, vì thế giới mà chúng ta đã lãnh nhận cũng thuộc về những người sẽ đến sau chúng ta. Hội đồng Giám Mục Bồ Đào Nha kêu gọi chúng ta nhìn nhận sự công bằng bó buộc này: “Môi trường nằm trong logic tiếp nhận. Nó là một khoản nợ mà mỗi thế hệ nhận và phải tiếp tục trao lại cho thế hệ kế tiếp”.283 (159)

Việc chăm sóc ngôi nhà chung đang hư hại đòi chúng ta phải trở thành tác nhân đầy nhiệt huyết của công bằng sinh thái. Như Đức Phanxicô lưu ý trong Thông điệp, niềm tin nâng đỡ chúng ta trong cuộc đấu tranh cho công bằng chính là “Thiên Chúa, Đấng đã tạo dựng vũ trụ từ hư không, cũng có thể can thiệp vào thế giới này và chiến thắng mọi hình thức sự dữ. Bất công không phải là bất khả chiến bại”. (74)

5. Lao động

Tính chất thực tiễn của Laudato Si’, Thông điệp về việc chăm sóc ngôi nhà chung của Đức Phanxicô, thể hiện rõ trong nhân đức Lao động. Ngài nhận định “Bất kỳ cách tiếp cận nào với sinh thái toàn diện không loại trừ con người cũng phải coi trọng giá trị của lao động, như Thánh Gioan Phaolô II đã khôn ngoan nhấn mạnh trong Thông điệp Laborem Exercens”. (124) Đức Phanxicô dành một số đoạn trong Laudato Si’ để bàn về chủ đề lao động và phẩm giá lao động của con người.

Trong bối cảnh tổng thể của việc chăm sóc ngôi nhà chung đang xuống cấp, Đức Phanxicô hiểu lao động của con người là cộng tác với công trình sáng tạo của Thiên Chúa:

Theo trình thuật Kinh Thánh về sáng tạo, Thiên Chúa đặt người nam và nữ trong khu vườn Người đã dựng nên (x. St 2,15) không chỉ để bảo tồn (“canh giữ”) nhưng còn làm cho nó sinh hoa trái (“canh tác”). Do đó, người lao động và thợ thủ công “giữ cho thế giới trường tồn” (Hc 38,34). Phát triển thế giới cách cẩn trọng là chăm sóc nó cách tốt nhất, như thế chính bản thân chúng ta trở thành khí cụ được Thiên Chúa sử dụng để khơi dậy tiềm năng Người đã khắc ghi trong mọi sự. (124)

Từ các trình thuật tạo dựng, chúng ta hiểu rằng quản lý Tạo Thành là nhiệm vụ đầu tiên và ưu tiên được trao cho Ađam, con người đầu tiên.284 Đó cũng là lệnh truyền đầu tiên cho nhân loại. Một tính chất quan trọng về quản lý được sách Sáng Thế nói đến là con người được kêu gọi trở thành những người cùng chăm sóc Tạo Thành với Thiên Chúa. Chính Chúa đang chăm sóc Tạo Thành của Người. Con người chỉ cần trợ giúp Người mà thôi, chỉ cần tham gia vào việc quản lý thế giới với Thiên Chúa. Đức Thượng phụ Batôlômêô I nhắc chúng ta rằng: “Thiên Chúa không cho phép loài người trở thành khán giả đơn thuần hay người tiêu dùng vô trách nhiệm trên thế giới này. Nhân loại được kêu gọi lãnh nhận nhiệm vụ của người tham gia và chia sẻ trách nhiệm về thế giới đã được dựng nên”.285 Nhờ vậy, lao động của con người tìm được lý tưởng cao cả nhất khi tham dự vào công việc của Thiên Chúa để duy trì ngôi nhà chung của chúng ta.

Trong Laudato Si’, Đức Phanxicô nói về Chúa Giêsu làm việc với đôi tay của Người, phần lớn cuộc đời của Người diễn ra trong hoạt động thường ngày. Vì vậy, Chúa Giêsu đã thánh hóa lao động của con người và những nỗ lực khiêm tốn của chúng ta để trở thành người quản lý tốt của Tạo Thành.

“Chúa Giêsu làm việc bằng đôi tay của Người, tiếp xúc hằng ngày với vật chất do Thiên Chúa dựng nên để tạo ra hình hài cho sản phẩm thủ công tỉ mỉ. Thật ngạc nhiên là phần lớn cuộc đời tại thế của Người dành cho nhiệm vụ này trong một cuộc sống giản dị, không khiến người ta ngưỡng mộ: “Ông ta không phải là bác thợ, con bà Maria sao?” (Mc 6,3). Qua đó, Người thánh hóa lao động của con người và ban cho nó một ý nghĩa đặc biệt cho sự phát triển của chúng ta”. (98)

Trong Thông điệp, Đức Phanxicô cho thấy truyền thống Kitô giáo có “cách hiểu phong phú và quân bình về ý nghĩa của lao động” và nhắc đến những mẫu gương gần đây như Chân phước Charles de Foucauld. (125) Ngài đan cử một thực hành đã có từ lâu trong các đan viện. Trực giác thiêng liêng của đan viện về lao động đặc biệt phù hợp ngày nay trong việc chăm sóc ngôi nhà chung.

Chúng ta cũng có thể nhìn vào truyền thống tuyệt vời của đời sống đan viện. Ban đầu thì đó là hình thức trốn thoát khỏi thế giới, ra khỏi tình trạng suy đồi của các thành phố. Các tu sĩ tìm kiếm sa mạc và tin rằng đó là nơi tốt nhất để gặp gỡ sự hiện diện của Thiên Chúa. Sau này, thánh Benedicto Norcia đề nghị các tu sĩ sống trong cộng đoàn kết hợp cầu nguyện, đọc sách thiêng liêng với lao động tay chân (ora et labora - cầu nguyện và làm việc). Nhìn nhận lao động tay chân có ý nghĩa thiêng liêng là cuộc cách mạng thực sự. Phát triển và thánh hóa cá nhân được thực hiện trong nhịp điệu đan xen giữa hồi tâm và làm việc. Kinh nghiệm làm việc này giúp chúng ta bảo vệ và tôn trọng môi trường hơn; tương quan của chúng ta với thế giới thấm đượm sự điều độ lành mạnh. (126)

Đức Phanxicô có những suy tư sâu sắc về lao động của con người trong Thông điệp. Ngài cho rằng tương quan đúng đắn giữa con người và thế giới tự nhiên đòi phải “hiểu đúng về lao động”. (125) Ngài đề xuất cách hiểu khá toàn diện về lao động. “Chúng ta không chỉ nói đến lao động tay chân hay nông nghiệp mà còn nói đến bất kỳ hoạt động nào làm thay đổi thực tại hiện hữu, từ việc soạn thảo một báo cáo xã hội đến việc thiết kế sự phát triển công nghệ”. (125) Ngài cũng nói rằng “Lao động là cần thiết, tạo nên một phần ý nghĩa của cuộc sống trên trái đất này, một con đường cho sự trưởng thành, phát triển nhân loại và thành toàn cá nhân”. (128) Lao động là khía cạnh cao quý của sự trưởng thành cá nhân của mọi người và các tương quan ở mọi cấp độ. Chúng ta trích dẫn lời của Đức Thánh Cha:

Chúng ta biết người nam và nữ có “khả năng cải thiện đất đai, để tiến xa hơn trên đường đạo đức và phát triển những nguồn lực thiêng liêng của họ”.286 Công việc là bối cảnh cho sự phát triển cá nhân phong phú này, trong đó nhiều khía cạnh cuộc sống đi vào thực tế: sự sáng tạo, việc hoạch định tương lai, phát triển các tài năng, sống các giá trị, liên kết với người khác, làm vinh danh Thiên Chúa. (127)

Theo Đức Phanxicô, “chúng ta được dựng nên với ơn gọi làm việc”. (128) Vì vậy, “mục tiêu không phải là tiến bộ công nghệ dần thay thế công việc của con người, điều này sẽ có hại cho nhân loại”. (128) Quan trọng là đảm bảo con người có “đời sống phù hợp nhân phẩm nhờ lao động”, (128) nhất là những người có thẩm quyền cần ý thức điều đó. Đức Thánh Cha phê bình hệ thống kinh tế hiện tại thường không nhận biết phẩm giá của lao động con người và gây ra tỉ lệ thất nghiệp cao khi tập trung vào tiến bộ kỹ thuật và gia tăng vốn tư bản. Ngài viết:

Định hướng của nền kinh tế cổ võ một loại tiến bộ công nghệ nhằm giảm chi phí sản xuất bằng cách cắt giảm nhân công và thay thế bằng máy móc. Hành động này cuối cùng sẽ chống lại chính con người. Tình trạng mất việc tác động tiêu cực đến kinh tế “ngang qua sự xói mòn tiệm tiến vốn xã hội như mạng lưới các tương quan đáng tin cậy, sự phụ thuộc và tôn trọng luật lệ, tất cả những điều này không thể thiếu trong bất kì hình thức chung sống dân sự nào”.287 (128)

Laudato Si’ được đánh giá là một Thông điệp sinh thái lẫn xã hội. Suy tư sâu sắc của Đức Phanxicô về phẩm giá của lao động như phương tiện để chăm sóc ngôi nhà chung và những thành viên của ngôi nhà chung chắc chắn hỗ trợ tuyên bố này.

6. Tiết độ

Ngày nay, ngôi nhà chung của chúng ta oằn mình trước sự tiêu thụ vô độ của nhóm thiểu số giàu có. Không phải số đông người nghèo phá hoại hành tinh, mà là sự tiêu dùng của người giàu. Thật vậy, chúng ta sống trong hoàn cảnh rất nghịch lý, trong đó người giàu tiêu thụ quá độ và người nghèo phải vật lộn mới đủ sinh sống. Đức Phanxicô nhận xét thẳng thắn: “Chúng ta không nhận ra rằng một số người đang bị đẩy vào nghèo nàn tuyệt vọng mà không có lối thoát, trong khi những người khác lại không biết phải làm gì với khối tài sản của họ; họ khoe mẽ cách kiêu căng sự trổi vượt của họ và bỏ lại phía sau quá nhiều lãng phí; nếu ai cũng lãng phí như họ thì hành tinh này đã bị phá hủy rồi”. (90)

Trong bối cảnh hành tinh của chúng ta đang trên bờ vực sụp đổ vì bị bóc lột tài nguyên thiên nhiên, rất cần phải tái khám phá giá trị của tiết độ trong lối sống của chúng ta. Đức Phanxicô mời gọi “cách mạng văn hóa quyết liệt” về tiết độ trong thời đại chúng ta. Khủng hoảng ngôi nhà chung đòi nhân loại phải chuyển từ lối sống xa hoa và lãng phí sang vừa đủ và thiết yếu.288 Lối sống bền vững sinh thái đòi phải có mức độ khổ chế nhất định, đó là thuốc giải cho những căn bệnh của xã hội tiêu thụ hiện nay. Đây là nhân đức bị che khuất trong nền văn hóa tiêu thụ của chúng ta, cần phải tái khám phá nó nếu chúng ta muốn cứu hành tinh và bảo vệ những thành viên yếu kém của gia đình nhân loại. Theo Đức Phanxicô, khi chúng ta sẵn lòng sống khổ chế thì chúng ta thực sự có thể dâng mình cho Thiên Chúa “như của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Người” (Rm12,1). (220)

Truyền thống Kitô giáo Đông phương rất phong phú về thần học khổ chế. Vì thế Đức Phanxicô mời gọi chúng ta chú ý đến giáo huấn của Đức Thượng Phụ Đại kết Batôlômêô I về điểm này.

Đức Thượng Phụ mời gọi chúng ta thay thế tiêu thụ bằng hy sinh, lòng tham bằng lòng quảng đại, lãng phí bằng tinh thần chia sẻ, nhiệm nhặt “đi kèm với học biết cho đi, chứ không buông xuôi. Đó là cách yêu thương, chuyển từ điều tôi muốn đến điều thế giới cần. Đó là giải thoát khỏi sợ hãi, lòng tham và cưỡng bách”.289 (9)

Bất kỳ giải pháp lâu dài và triệt để nào cho khủng hoảng ngôi nhà chung đều bao hàm sự sẵn lòng thay đổi lối sống kiêu căng. Điều đó không dễ, nhưng không thể thay thế. Theo Đức Thượng Phụ “giảm bớt tiêu dùng và sống đời giản dị là thiết yếu để bảo tồn tài nguyên cho các thế hệ tương lai và cho người nghèo”.290 Chúng ta không có tương lai chung nếu chúng ta không cứu lấy hành tinh và sẵn sàng chia sẻ tài nguyên của nó với anh chị em nghèo khổ qua lối sống bền vững sinh thái. Chúng ta nhắc lại đây lời cảnh báo mang tính ngôn sứ của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II trong Sứ điệp năm 1990:

Xã hội hiện đại sẽ không tìm ra giải pháp nào cho vấn đề sinh thái nếu không có cái nhìn nghiêm túc về lối sống của mình. Ở nhiều nơi trên thế giới, xã hội rơi vào sự thỏa mãn tức thời và chủ nghĩa tiêu thụ nhưng lại thờ ơ với những thiệt hại mà chúng gây ra… Giản dị, chừng mực và kỷ luật cũng như tinh thần hy sinh phải trở thành một phần của cuộc sống hằng ngày, nếu không tất cả phải gánh chịu hậu quả tiêu cực từ thói quen bất cẩn của một số ít người.291

Đức Thánh Cha nói đến tăng trưởng có giới hạn hợp lý hoặc thậm chí cần phải giảm mức tăng trưởng ở các vùng giàu có và phát triển, đi ngược lại với huyền thoại về tăng trưởng kinh tế vô hạn hiện nay. Ngài viết:“đã đến lúc phải chấp nhận phát triển chậm lại ở một số nơi trên thế giới, để cung cấp nguồn lực cho những nơi khác được tăng trưởng lành mạnh”. (193) Trong Tông huấn Laudate Deum, Đức Phanxicô lên án lối sống tham lam và vô trách nhiệm của kiểu mẫu phương Tây đang ngày càng thịnh hành trên thế giới. Ngài nói:

Nếu biết rằng lượng khí thải bình quân đầu người ở Hoa Kỳ xấp xỉ gấp đôi lượng phát thải của người dân Trung Quốc và cao gấp bảy lần so với mức trung bình của các nước nghèo nhất,292 thì chúng ta có thể khẳng định rằng sự thay đổi rộng rãi lối sống vô trách nhiệm gắn liền với kiểu mẫu phương Tây sẽ có tác động lâu dài đáng kể.293

Lời mời gọi bước đi nhẹ nhàng trên Trái đất bằng cách áp dụng lối sống tiết độ và giản dị là cốt lõi của linh đạo Kitô giáo. Đức Phanxicô viết:

Linh đạo Kitô giáo đề xuất cách nhìn khác về phẩm chất cuộc sống, khích lệ lối sống ngôn sứ và chiêm niệm, có khả năng vui hưởng cách sâu xa sự tự do thoát khỏi nỗi ám ảnh về tiêu thụ. Chúng ta cần học được bài học cổ xưa trong các truyền thống tôn giáo cũng như trong Kinh Thánh, xác tín nguyên tắc “ít là nhiều” (less is more). Cơn lũ liên tục của hàng tiêu dùng mới có thể làm hư hỏng tâm hồn và cản trở chúng ta trân trọng mỗi sự vật và mỗi khoảnh khắc. Hiện diện cách thanh bình với mỗi thực tại, cho dù nhỏ bé thế nào cũng đều mở ra cho chúng ta chân trời hiểu biết và hoàn thiện bản thân. (222)

Đức Phanxicô nhận định “Tiết độ khi được sống cách tự do và ý thức sẽ là sự giải thoát. Không phải cuộc sống kém hơn hay cường độ thấp hơn, nhưng hoàn toàn ngược lại, đó là cuộc sống tròn đầy hơn”. (223) Theo ngài, “hạnh phúc là biết giới hạn một số nhu cầu làm hạ giá chúng ta và mở ra với nhiều khả năng khác mà cuộc sống có thể mang lại”. (223) Tiết độ có nghĩa là nhìn thế giới với đôi mắt của Thiên Chúa và quan điểm của người nghèo. Đức Phanxicô nói chuyện về tiết độ với nhân viên giáo triều Roma vào Giáng Sinh năm 2015:

Tiết độ… là khả năng từ bỏ những gì dư thừa và chống lại não trạng tiêu thụ đang thống trị. Tiết độ là thận trọng, giản dị, thẳng thắn, quân bình và chừng mực. Tiết độ là nhìn thế giới bằng đôi mắt của Chúa và từ phía người nghèo. Tiết độ là phong cách sống hướng đến ưu tiên cho người khác và thể hiện bằng sự quan tâm và phục vụ người khác. Người tiết độ nhất quán và thẳng thắn trong mọi việc, vì họ có thể giảm bớt, phục hồi, tái chế, sửa chữa và sống cuộc sống chừng mực.294

Ngày nay, trong bối cảnh khủng hoảng ngôi nhà chung, chúng ta cần thay đổi não trạng hiện tại và lối sống tiêu xài hoang phí nếu muốn bảo vệ hành tinh cho chúng ta và các thế hệ tương lai. Đã đến lúc phải khôi phục các truyền thống khôn ngoan của nhân loại luôn đề cao nhân đức vừa đủ, chừng mực và bằng lòng. Giải phóng mình khỏi sự tham lam và sống niềm vui giản dị là nguyên tắc căn bản của hầu hết các tín ngưỡng.295 Nhờ quay về lối sống giản dị mà chúng ta trở về với lòng của mẹ Đất là nơi đáp ứng đầy đủ nhu cầu của mọi người, nhưng không thể cung ứng cho lòng tham của mọi người, như Mahatma Gandhi từng phát biểu. Lời kêu gọi của Gandhi “sống đơn giản để người khác có thể đơn giản sống” cũng là lời khuyên của Đức Phanxicô trong Laudato Si’.296 Chỉ có lối sống tiết độ mới có thể cứu hành tinh đang bị chìm trong lối tiêu thụ liều lĩnh của chúng ta. Trong Tông huấn Laudate Deum, Đức Phanxicô cũng cho thấy càng nhiều người tiêu dùng cách tiết độ và ít gây ô nhiễm thì càng có thể kiến tạo văn hóa mới tốt hơn. Ngài viết:

Nỗ lực của các gia đình nhằm giảm ô nhiễm, giảm lãng phí và tiêu dùng khôn ngoan đang tạo ra văn hóa mới. Thực tế đơn giản là việc thay đổi thói quen cá nhân, gia đình và cộng đồng làm dấy lên mối lo ngại về trách nhiệm chưa được hoàn thành của các thành phần chính trị và sự phẫn nộ trước thái độ thờ ơ của người nắm quyền. Do đó, cần lưu ý rằng, ngay cả khi những điều nhỏ này không tạo ra tác động đáng kể từ quan điểm định lượng, nó vẫn góp phần hiện thực hóa các quá trình chuyển đổi lớn từ sâu bên trong xã hội.297

7. Khiêm nhường

Khiêm nhường là mẹ của mọi nhân đức sinh thái. Đức Thánh Cha lưu ý “tiết độ và khiêm nhường không được ưa chuộng trong thế kỷ vừa qua. Tuy nhiên, khi việc thực hành nhân đức sút giảm trong đời sống cá nhân và xã hội, sẽ gây ra một số mất cân bằng, bao gồm mất cân bằng về môi trường”. (224) Theo ngài, thiếu khiêm nhường sẽ dẫn đến thống trị vô tâm trên hành tinh:

Một khi chúng ta đánh mất đức khiêm nhường và say sưa với khả năng chi phối vô hạn trên mọi sự, chắc chắn chúng ta sẽ gây tổn hại cho xã hội và môi trường. Không dễ đạt được thái độ khiêm nhường lành mạnh hay tiết độ vui tươi nếu chúng ta tự tôn, nếu chúng ta loại trừ Thiên Chúa ra khỏi đời sống chúng ta hay thay thế Người bằng cái tôi của riêng mình, cho rằng cảm giác chủ quan của chúng ta có thể xác định được điều gì đúng và điều gì sai. (224)

Khủng hoảng sinh thái đương đại bắt nguồn từ việc chúng ta từ chối nhìn nhận bản chất khiêm hạ của mình là thụ tạo. Thật vậy, tội kiêu ngạo của con người đưa đến việc quản lý vô trách nhiệm đối với công trình sáng tạo của Thiên Chúa và ngôi nhà chung của chúng ta. Michael S. Northcott nhận định rằng tận cùng của khủng hoảng ngôi nhà chung là do chúng ta từ chối nhận mình là thụ tạo. “Trọng tâm bệnh lý của khủng hoảng sinh thái là con người hiện đại từ chối nhận mình là thụ tạo, vốn có sự ràng buộc trong mạng lưới tương quan với các thụ tạo khác và với Đấng Tạo Hóa”.298

Khủng hoảng sinh thái là hậu quả của việc chúng ta phủ nhận lệ thuộc triệt để vào Đấng Tạo Hóa, và "từ chối chấp nhận những giới hạn đặt ra cho loài người trong tư cách là thụ tạo".299 Tình trạng bất ổn sinh thái hiện tại là hậu quả của việc chúng ta ngoan cố từ chối những giới hạn – cả về sức chứa của Trái Đất trong trường hợp “dấu chân sinh thái” của cá nhân, cộng đồng và quốc gia, hay trong trường hợp “dấu chân cacbon” liên quan trực tiếp đến biến đổi khí hậu, như chúng ta đã bàn ở trên. Sâu xa hơn, sự chối từ này là nổi loạn chống lại trật tự tự nhiên của Tạo Thành do Chúa thiết định, và cuối cùng là nổi loạn chống lại chính Đấng Tạo Hóa. Thật vậy, từ chối chấp nhận giới hạn phát sinh từ tình trạng thụ tạo của chúng ta chính là “tội nguyên thủy” của nhân loại, như chúng ta đã đọc trong chương III của sách Sáng thế. Thái độ kiêu ngạo như vậy che đậy ham muốn vô độ của con người là thống trị toàn bộ vạn vật, phủ nhận quyền thống trị tuyệt đối của Thiên Chúa trên Tạo Thành.

Hy Lạp cổ đại mô tả sự kiêu ngạo (hubirs) chính là "mong muốn trở nên vĩ đại hơn các vị thần" (Euripides). Con người thách thức quyền thống trị của Thiên Chúa trên Tạo Thành và muốn chiếm đoạt quyền lực và sự ưu việt của Đấng Tạo Hóa, thể hiện rõ trong câu chuyện xây Tháp Babel (St 11,1ff). Như Alister McGrath nhận định: “Đó là biểu tượng ấn tượng cho thấy con người từ chối chấp nhận những giới hạn dù tự nhiên hay sắp đặt và tìm kiếm sự thống trị và thay đổi. Gốc rễ thực sự của khủng hoảng sinh thái nằm trong sự ra đời của tư duy này”.300 Vai trò làm vua của chúng ta đối với thụ tạo được trao cho chúng ta cách nhưng không dù chúng ta hoàn toàn chẳng là gì, như Thánh vịnh 8 diễn tả, chúng ta không thể thực hiện “một mình mà phải phụ thuộc vào Thiên Chúa, Đấng Tạo Hóa, Đấng Duy Trì, Thiên Chúa Cứu Độ”.301 Chúng ta là imago Dei (hình ảnh Thiên Chúa), chứ không phải là hình ảnh của chính chúng ta. Đức Thánh Cha Biển Đức XVI bình luận về vấn đề này như sau: “Bước đầu tiên để có tương quan đúng đắn với thế giới xung quanh là con người phải nhìn nhận vị trí thụ tạo của mình. Con người không phải là Chúa; con người là hình ảnh của Người mà thôi”.302 Theo Anna Rowlands, một trong những tư tưởng trọng tâm của Laudato Si’ là “gốc rễ cuộc khủng hoảng sinh thái đến từ việc không chấp nhận ý tưởng về giới hạn và sự thật về tương quan giữa Đấng Tạo Hóa và thụ tạo”.303

Khủng hoảng ngôi nhà chung cho thấy chúng ta phủ nhận bản chất thụ tạo của mình là imago mundi – được tạo ra giống mọi thụ tạo khác từ bụi đất, từ humus, nguyên ngữ của chữ khiêm nhường. Ngày nay, chúng ta cần tái khám phá căn tính của mình là imago mundi, được tạo ra từ bụi đất. Bản chất thụ tạo của chúng ta là imago mundi, tình đồng loại thân thiết của chúng ta cùng sự phụ thuộc lẫn nhau với phần còn lại của Tạo Thành được thể hiện rõ ràng trong những trang đầu của Kinh thánh, đặc biệt trong câu chuyện sáng tạo theo truyền thống Giavit cũ. Đối với tác giả Giavit, sự sống và bản chất con người phát sinh từ đất canh tác. Tên Adam gốc tiếng Do Thái adamah, nghĩa là 'đất'. Vì vậy, về cơ bản, chúng ta là ‘bụi đất’, chúng ta là thụ tạo của đất, với đôi chân bằng đất.304 Nhận biết nguồn gốc ‘đất’ của mình sẽ giúp chúng ta lấy lại ý thức khiêm nhường đích thực trước Đấng Tạo Hóa và Tạo Thành. Rất ý nghĩa khi chữ humilitas, gốc tiếng Latin có nghĩa là khiêm nhường, theo nghĩa đen là "nằm trên đất". Sự khiêm nhường của thụ tạo sẽ là phương thuốc chắc chắn cho thói kiêu ngạo của chủ nghĩa duy con người hiện đại, trong đó chứa một vài nguyên nhân chính của khủng hoảng ngôi nhà chung.

Trong Thông điệp, Đức Phanxicô nhắc đến Thánh Giuse là người công chính, chăm chỉ và mạnh mẽ nhưng cũng vô cùng dịu hiền. Ngài nhận định sâu sắc rằng dịu hiền “không phải là dấu hiệu của kẻ yếu mà là của người mạnh”, của người “hoàn toàn ý thức thực tế, sẵn sàng yêu thương và phục vụ trong khiêm nhường”. (242) Ngôi nhà chung đang bị đe dọa đòi hỏi những người tận tụy sẵn sàng phục vụ trong khiêm nhường. Khiêm nhường sinh thái thực sự rất quan trọng đối với việc cứu rỗi Trái đất và nhân loại ngày nay. Như một trong những mối phúc của Tin Mừng đã nêu: “Phúc cho ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất làm gia nghiệp” (Mt 5,5).


Chú thích

243 Xem Hội đồng Giám Mục Braxin, A Igreja e a Questão Ecológica (1992), 61.

244 Đức Thánh Cha Phanxicô, Laudate Deum: Apostolic Exhortation to All People of Good Will on the Climate Crisis (Vatican City: Libreria Editrice Vaticana, 2023), 23.

245 Ibid., 28.

246 Laudato Si’, 105: AAS 107 (2015), 889.

247 Đức Thánh Cha Phanxicô, Laudate Deum, 24.

248 Đức Thánh Cha Phanxicô, Fratelli Tutti, 11; Đức Thánh Cha Phanxicô, Laudate Deum, 34.

249 Đức Thánh Cha Phanxicô, Laudate Deum, 70.

250 Ibid., 1.

251 Xem Edward Brown, Our Father’s World: Mobilizing the Church to Care for Creation (South Hadley, MA: Doorlight Publications, 2006), 38-39.

252 Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, Peace with God the Creator, Peace with All of Creation. Sứ điệp ngày Thế giới Hòa Bình (01/01/1990), 14.

253 Xem Daniel Castillo, “‘To Praise, Reverence and Serve’: The Theological Anthropology of Pope Francis” in The Theological and Ecological Vision of Laudato Si’: Everything Is Connected, ed. Vincent J. Miller (London: Bloomsbury, 2017), 95-108.

254 Leontius of Byzantium, Apologetic Sermon II on the Holy Icons, in Patrologia Graeca, ed. J. Migne 161 vols. (Paris, 1857-1928), 93:1604.

255 Thomas of Celano, The Life of Saint Francis, I, 29, 81: in Francis of Assisi: Early Documents, vol. 1, New York-Lon­don-Manila, 1999, 251.

256 Canticle of the Creatures, trong Francis of Assisi: Early Docu­ments, New York-London-Manila, 1999, 113-114.

257 Xem Elizabeth T. Groppe, “‘The Love that Moves the Sun and the Stars’: A Theology of Creation” in The Theological and Ecological Vision of Laudato Si’: Everything Is Connected, ed. Vincent J. Miller (London: Bloomsbury, 2017), 91.

258 Francis A. Schaeffer, Pollution and the Death of Man: The Christian View of Ecology (Wheaton, Ill.: Tyndale House, 1970), 89.

259 Đức Thượng Phụ Đại kết Batôlômêô I, “Diễn văn tại Hội nghị Môi trường Santa Barbara, 8/11/ 1997” trong Cosmic Grace Humble Prayer: The Ecological Vision of the Green Patriarch Batôlômêô, ed. John Chryssavgis (Grand Rapids, MI – Cambridge, UK: William B. Eerdmans, 2009), 188.

260 Louis Bouyer, Life and Liturgy (London: Sheed and Ward, 1956), 15-28.

261 John Zizioulas, “Preserving God’s Creation,” King’s Theological Review 12 (1989), 4.

262 Brandon Gallaher, “Common Themes for Our Common Home,” The Tablet (4 July 2015), 13.

263 Đức Thượng Phụ Đại kết Batôlômêô I, “Sứ điệp ngày 01/9/1994” trong Chryssavgis (ed.), Cosmic Grace Humble Prayer, 44.

264 Đức Thượng Phụ Đại kết Batôlômêô I, “Toast during the Banquet in Constanza, Second International Symposium, September 26, 1997” trong Chryssavgis (ed.), Cosmic Grace Humble Prayer, 179-80.

265 Peter K.A. Turkson, “Catholicism and the Environment: Reflections on Laudato Si’,” Hội nghị quốc tế các Giám Mục Công Giáo (Lisbon, 22/01/2016).

266 Jon M. Sweeney, “A Kinship of Harmony,” The Tablet (20/06/2015), 4.

267 Dave Bookless, Planet Wise: Dare to Care for God’s World (Nottingham: Inter-Varsity Press, 2008), 90.

268 Mark Bredin, “God the Carer: Revelation and the Environment,” Biblical Theology Bulletin 38/2 (2008), 85.

269 Rowan Williams, “The Ark and the Covenant,” The Tablet (24/10/2009), 10.

270 Carol Gilligan, In a Different Voice: Psychological Theory and Woman’s Development (Cambridge, MA: Harvard University Press, 1982), 30.

271 The Major Legend of Saint Francis, VIII, 6, in Francis of Assisi: Early Documents, vol. 2 (New York-London-Manila, 2000), 590.

272 Đức Thánh Cha Biển Đức XVI, Thông điệp Caritas in Veritate (29/06/2009) 2: AAS 101 (2009), 642.

273 Đức Thánh Cha Phaolô VI, Sứ điệp ngày Thế giới Hòa bình năm 1977: AAS 68 (1976), 709.

274 Ủy ban Công lý và Hòa Bình, Compendi­um of the Social Doctrine of the Church, 582.

275 Hội đồng Giám Mục New Zealand, State­ment on Environmental Issues (01/09/2006).

276 Xem Joshtrom Isaac Kureethadam, Creation in Crisis: Science, Ethics, Theology (New York: Orbis Books, 2014), 254-57.

277 Chris J. Cuomo, “Climate Change, Vulnerability, and Responsibility,” Hypatia 26 (2011), 693.

278 Ibid.

279 Robert Henson, The Rough Guide to Climate Change (London: Rough Guides Ltd., 2006), 139.

280 Caritas Internationalis, Climate Justice: Seeking a Global Ethic (2009), 4.

281 Đức Thánh Cha Biển Đức XVI, Thông điệp Caritas in Veritate (29/06/2009), 50: AAS 101 (2009), 686.

282 Đức Thánh Cha Biển Đức XVI, Sứ điệp ngày Thế giới Hòa Bình năm 2010, 8: AAS 102 (2010), 45.

283 Hội đồng Giám Mục Bồ Đào Nha, Thư Mục Vụ Re­sponsabilidade Solidária pelo Bem Comum (15/09/2003), 20.

284 Xem Kureethadam, Creation in Crisis, 329-31.

285 Đức Thượng Phụ Đại kết Batôlômêô I, “Sứ điệp ngày 01/09/1992” trong Chryssavgis (ed.), Cosmic Grace Humble Prayer, 39. Chữ nghiêng theo bản gốc.

286 Đức Thánh Cha Phaolô VI, Thông điệp Populorum Progressio (26/03/1967), 34: AAS 59 (1967), 274.

287 Đức Thánh Cha Biển Đức XVI, Thông điệp Caritas in Veritate (29/06/2009), 32: AAS 101 (2009), 666.

288 Khái niệm vừa đủ trái ngược với tiêu thụ quá mức, xem Hélène Gorge et al, “What Do We Really Need? Questioning Consumption Through Sufficiency,” Journal of Macromarketing 35 (2015), 11-22.

289 Đức Thượng Phụ Đại kết Batôlômêô I, Lecture at the Monastery of Utstein, Norway (23/06/2003).

290 Ibid.

291 Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, Peace with God the Creator, Peace with All of Creation, số 13.

292 Cf. United Nations Environment Program, The Emissions Gap Report 2022: https://www.unep.org/resources/emissions-gap-report-2022.

293 Đức Thánh Cha Phanxicô, Laudate Deum, 72.

294 Đức Thánh Cha Phanxicô, Chúc mừng Giáng Sinh ở Giáo triều Roma (21/12/2015), số 12.

295 O’Riordan et al, “The Legacy of the Papal Encyclical,” 3.

296 Susan Jacobson – Bill Weis – Abigail B. Schneider, “Laudato Si’ and the Consumption Challenge: Giving Students a Visceral Exercise in Saving Our Planet,” Jesuit Higher Education: A Journal 6 (2017), 87.

297 Đức Thánh Cha Phanxicô, Laudate Deum, 71.

298 Michael S. Northcott, A Moral Climate: The Ethics of Global Warming (London: D.L.T. – Christian Aid, 2007), 14. Xem thêm pp. 5 and 16.

299 Alister McGrath, The Reenchantment of Nature: The Denial of Religion and the Ecological Crisis (New York – London: Doubleday, 2002), 79.

300 McGrath, The Reenchantment of Nature, 79.

301 Dave Bookless, Planet Wise: Dare to Care for God’s World (Nottingham: Inter-Varsity Press, 2008), 95.

302 Đức Thánh Cha Biển Đức XVI, Tiếp kiến chung (9/03/2011).

303 Anna Rowlands, “Laudato Si’: Rethinking Politics” (Guest Editorial), Political Theology 16/5 (2015), 418.

304 Bookless, Planet Wise, 31-32.


FMA Logo

Địa chỉ: 57 Đường số 4, Khu phố 56, P. Tam Bình, TP. Hồ Chí Minh

Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về email: libraryfmavtn@gmail.com

Liên Kết

Truyền Thông FMA

Copyright Dòng Con Đức Mẹ Phù Hộ © 2026