FMA Logo

Điều răn xanh V: Nhận biết gốc rễ nhân bản của cuộc khủng hoảng ngôi nhà chung



Trong Laudato Si’, Đức Thánh Cha Phanxicô phân tích sâu sắc về sự bất ổn của nhân loại trên trái đất.129 Yếu tố nền tảng trong quá trình đánh giá khủng hoảng ngôi nhà chung là tìm kiếm những nguyên nhân sâu xa hơn. Như Đức Phanxicô đã nói ở phần đầu chương III của Thông điệp, “sẽ chẳng ích gì nếu mô tả các triệu chứng mà không thừa nhận gốc rễ nhân bản của cuộc khủng hoảng sinh thái”. (101) Thật vậy, chịu trách nhiệm về một vấn đề mình gây ra chính là bước đầu tiên để giải quyết vấn đề đó. Theo đó, Đức Phanxicô mời gọi chúng ta nhìn nhận trách nhiệm của mình đối với tình trạng nguy hiểm của ngôi nhà chung. Ngài dành toàn bộ một chương cho “Gốc rễ nhân bản của khủng hoảng sinh thái”. Ngài muốn đưa ra một “chẩn đoán” sâu sắc hơn về nguồn gốc cơ bản của sự hư hoại, trước khi tiếp tục đề xuất hành động, khuyến nghị chính sách và giáo huấn thiêng liêng trong Thông điệp.

Điều răn xanh thứ năm bàn về nguồn gốc nhân bản sâu xa đối với sự suy thoái ngôi nhà chung của chúng ta như được trình bày trong Laudato Si’. Chúng ta bắt đầu bằng việc suy tư về bản chất nhân chủng học của khủng hoảng sinh thái đương đại, nghĩa là nhận thức rằng khủng hoảng này là do hoạt động của con người gây ra. Sau đó, chúng ta tiếp tục truy tìm nguồn gốc nhân bản của khủng hoảng sinh thái trong mô hình kỹ trị đang bao trùm thế giới mà theo Đức Phanxicô, nó tìm cách thống trị và bóc lột thế giới tự nhiên. Tuy nhiên, với trực giác tuyệt vời, ngài cho rằng đằng sau mô hình đó ẩn chứa những nguyên nhân gốc rễ sâu xa hơn của khủng hoảng sinh thái. Theo sự dẫn dắt của ngài, chúng ta sẽ xác định hai trong số nhiều nguyên nhân: chủ nghĩa nhân chủng học hiện đại dẫn đến sự thống trị áp bức của loài người đối với thế giới tự nhiên và quan niệm cơ học xem thiên nhiên như vật chất vô hồn, nhà kho chứa tài nguyên – đây là một mặc định cốt lõi của nền kinh tế hiện đại. Chúng ta sẽ kết thúc bằng việc xét đến yêu cầu con người phải thay đổi triệt để mô hình văn hóa và khái niệm để có thể chăm sóc ngôi nhà chung của chúng ta.

1. Gốc rễ “nhân bản” của khủng hoảng

Điểm nổi bật của khủng hoảng sinh thái đương đại là tính chất nhân chủng học rõ ràng của nó. Từ "nhân chủng học" ngày càng được sử dụng nhiều trong thuật ngữ khoa học để nhấn mạnh rằng tình trạng nguy hiểm của ngôi nhà chung của chúng ta là do chính "con người" gây ra. Chính nguồn gốc nhân chủng của khủng hoảng sinh thái đã thúc đẩy việc tìm kiếm nguyên nhân sâu xa hơn của sự hư hoại mà Đức Phanxicô đã cố gắng làm trong Laudato Si'.

Nghịch lý thay, tính chất nhân chủng của khủng hoảng sinh thái đương đại, cụ thể là do hoạt động của con người gây ra, vẫn tiếp tục bị một số người phủ nhận mặc dù có đa số bằng chứng khoa học chứng minh điều đó. Càng rõ hơn trong trường hợp những người hoài nghi về biến đổi khí hậu là do con người gây ra. Có những người không phủ nhận cuộc khủng hoảng ngôi nhà chung nhưng vẫn thờ ơ với nó. Đức Phanxicô coi cả hai lập trường này là vô trách nhiệm. "Những thái độ bế tắc, ngay cả của những người có niềm tin, có thể chuyển từ chối bỏ vấn đề sang thờ ơ, lãnh đạm hay tin tưởng mù quáng vào các giải pháp kĩ thuật". (14) Thái độ vô trách nhiệm của sự phủ nhận và thờ ơ thực tế là sự tự hủy hoại trong thời kỳ khủng hoảng.

Trong Laudato Si’, Đức Phanxicô đã cố gắng thừa nhận rằng những biểu hiện khác nhau của khủng hoảng sinh thái đương đại thực sự là do con người gây ra. Ví dụ, liên quan đến biến đổi khí hậu, ngài viết: “rất nhiều nghiên cứu khoa học cho thấy hầu hết việc nóng lên toàn cầu trong những thập kỷ gần đây là do sự tập trung nhiều các loại khí nhà kính (cacbonic (CO2), mêtan, các loại ôxit nitơ và các loại khác) thải ra chủ yếu từ hoạt động của con người”.(23) Trong Tông huấn Laudate Deum, Đức Phanxicô tuyên bố rằng “không còn có thể nghi ngờ nguồn gốc con người – “nhân chủng” – của biến đổi khí hậu”.130

Ngày nay, cộng đồng khoa học gần như nhất trí về tác động của con người đối với biến đổi khí hậu.131 Trách nhiệm của con người đối với khủng hoảng sinh thái hiện nay cũng rõ ràng như vậy khi nói đến vấn đề tuyệt chủng hàng loạt. Đức Phanxicô nhắc lại trong Laudato Si’ sự đồng thuận của khoa học về tình trạng mất đa dạng sinh học do con người gây ra: “Mỗi năm chứng kiến sự biến mất của hàng ngàn loài thực vật và động vật… Phần lớn chúng tuyệt chủng vì những lý do liên quan đến hoạt động của con người”. (33)

Những thay đổi do con người gây ra đối với khí hậu, đất đai, đại dương và sinh quyển của Trái đất hiện rất đáng kể và diễn ra nhanh đến mức có thể nói là một kỷ nguyên địa chất mới đã đến do hành động của con người làm ra.132 Sự biến đổi mạnh mẽ của ngôi nhà hành tinh do hoạt động của con người trong thời gian gần đây đã khiến nhiều nhà khoa học tuyên bố rằng hành tinh hiện đang bị ép buộc bước vào kỷ nguyên địa chất mới hoàn toàn. Thuật ngữ được đề xuất để chứng minh sự thay đổi về mặt định lượng này trong mối quan hệ giữa con người và phần còn lại của thế giới tự nhiên là 'Anthropocene',133 tức là "thời đại của con người". Thuật ngữ này được đề xuất hơn một thập kỷ trước bởi người đoạt giải Nobel Paul J. Crutzen - một thành viên lâu năm và nổi tiếng của viện Hàn lâm Khoa học Giáo Hoàng, đơn vị tư vấn cho Giáo Hoàng về các vấn đề khoa học.134 Hội nghị Planet Under Pressure (Hành tinh dưới áp lực) năm 2012 lưu ý: ngày nay "con người đã trở thành tác nhân hàng đầu của sự thay đổi ở cấp độ hành tinh, làm thay đổi đáng kể các quá trình sinh học, hóa học và vật lý của Trái đất".135

Như Lynn White đã bàn luận trong bài viết rất thức thời năm 1967: “chắc chắn không có sinh vật nào ngoài con người có thể làm bẩn tổ của mình trong thời gian ngắn như vậy”.136 Con người chúng ta đang phá hủy những cột trụ của ngôi nhà chung, được minh chứng trong tính chất nhân chủng của khủng hoảng sinh thái đương đại. Tại sao chúng ta lại làm bẩn chính tổ ấm che chở cho mình? Chúng ta cần khám phá những gốc rễ sâu xa hơn của cuộc khủng hoảng sinh thái đương đại, như Đức Phanxicô đã mời gọi trong Laudato Si’. Đó là nhiệm vụ mà bây giờ chúng ta thực hiện.

2. Gốc rễ của cuộc khủng hoảng sinh thái trong mô hình kỹ trị áp đảo

Điểm độc đáo của Laudato Si’ là Thông điệp này cố gắng phân tích nguồn gốc nhân bản sâu xa của sự suy thoái ngôi nhà chung. Đức Thánh Cha Phanxicô đã tuyên bố trong phần giới thiệu Thông điệp rằng ngài sẽ “cố gắng đi đến gốc rễ của tình trạng hiện tại, để xem xét không chỉ các triệu chứng mà cả nguyên nhân sâu xa hơn của nó”. (15 – chữ nghiêng được thêm vào)

Nguồn gốc nhân bản sâu xa trong khủng hoảng ngôi nhà chung rất nhiều, vì tính phức tạp của nó. (63) Tuy nhiên, Đức Phanxicô nhanh chóng lưu ý rằng tận cùng chúng liên quan đến một não trạng, một thế giới quan, một lối nhận thức đặc thù về thế giới tự nhiên và những gì liên quan đến nó. Ngài gọi đó là mô hình kỹ trị áp đảo.

Có một cách hiểu về đời sống và hoạt động của con người lệch lạc đến mức làm đổ nát nghiêm trọng thế giới xung quanh. Chúng ta có nên dừng lại và suy xét điều này không? Ở phần này, tôi đề nghị chúng ta tập trung vào mô hình kĩ trị đang chiếm ưu thế, vị trí của con người và hành động của con người trong thế giới đó. (101)

Theo Đức Phanxicô, “nhân loại đã bước vào một kỷ nguyên mới mà sức mạnh kỹ thuật đưa chúng ta đến một bước ngoặt”. (102) Theo ngài, “khoa học công nghệ” “có thể tạo ra những phương tiện quan trọng để cải thiện chất lượng cuộc sống con người, từ các thiết bị gia dụng hữu ích đến hệ thống giao thông, các cây cầu, tòa nhà và không gian công cộng tuyệt vời”. (103) Ngài cho biết “Vui hưởng những tiến bộ này và phấn khích với muôn vàn khả năng chúng tiếp tục mở ra trước mắt chúng ta là đúng”. (102) Trích dẫn lời Đức Gioan Phaolô II, ngài nhắc nhở “khoa học và công nghệ là sản phẩm tuyệt vời của sự sáng tạo do Thiên Chúa ban cho con người”137; “việc cải tạo thiên nhiên vì mục đích hữu ích làm cho gia đình nhân loại nổi trội ngay từ đầu” và từ lời của Đức Thánh Cha Biển Đức XVI rằng bản thân công nghệ “thể hiện sự căng thẳng nội tại thôi thúc con người dần vượt thắng những giới hạn vật chất”.138 (102)

Đức Phanxicô nhìn nhận công nghệ trao cho chúng ta “sự thống trị ấn tượng đối với toàn thể nhân loại và thế giới”. (104) Điều Ngài bận tâm là “quyền lực” vô hạn và chưa từng có mà công nghệ trao vào tay con người sẽ ra sao và ngài đã nhắc đến đôi lần trong quá khứ khi công nghệ bị lạm dụng.

Cũng phải nhận thấy rằng năng lượng nguyên tử, công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, tri thức về ADN của chúng ta, và nhiều khả năng khác mà chúng ta đã đạt được, mang lại cho chúng ta sức mạnh to lớn... Chưa bao giờ con người lại có sức mạnh như thế trên chính mình, nhưng chẳng có gì đảm bảo rằng sức mạnh này sẽ được sử dụng cách khôn ngoan, nhất là khi nghĩ đến cách thế nó đang được sử dụng hiện nay. Chúng ta phải nghĩ đến các loại bom nguyên tử đã bị ném vào giữa thế kỷ XX, hoặc hàng loạt công nghệ mà Chủ nghĩa Phát-xít và các chế độ độc tài khác đã sử dụng để tiêu diệt hàng triệu người, đó là chưa nói đến sự gia tăng các kho vũ khí giết người sẵn sàng cho cuộc chiến hiện đại. Tất cả sức mạnh này nằm trong tay ai và liệu nó sẽ kết thúc thế nào? Thật vô cùng nguy hiểm khi một bộ phận nhân loại đang sở hữu sức mạnh này. (104)

Đức Phanxicô tiếp tục đưa ra một số quan sát rất quan trọng về công nghệ hiện đại, theo bước chân của Romano Guardini, một trong những bậc thầy trí tuệ mà ngài yêu thích. Ngài chỉ trích “khuynh hướng cho rằng mọi sự gia tăng về quyền lực đồng nghĩa với “gia tăng sự tiến bộ”, một bước tiến trong “an ninh, hữu dụng, an sinh và sức mạnh;... một sự đồng hóa những giá trị mới vào trong dòng chảy văn hoá”,139 như thể là thực tại, sự tốt lành và sự thật tự động tuôn trào từ sức mạnh kinh tế và công nghệ”. (105) Đức Phanxicô đồng tình với quan sát của Guardini rằng “con người đương đại chưa được đào tạo để sử dụng tốt quyền lực”.140 Theo ngài, “vì sự tiến bộ lớn về công nghệ không đi cùng với sự lớn lên về trách nhiệm, giá trị và lương tâm con người và ‘quyền lực không bao giờ theo tiêu chuẩn của chọn lựa tự do’141”. (105)

Theo Đức Thánh Cha, vấn đề hệ tại sự toàn cầu hóa mô hình kỹ trị đã hoàn toàn thống trị trong sinh hoạt của con người. Công nghệ hiện đang kiểm soát và “làm chủ” cả con người và thế giới tự nhiên. Trích dẫn một lần nữa từ Guardini, ngài viết:

Mô hình công nghệ đã quá thống trị đến nỗi thật khó để thực hiện nếu không có các nguồn lực của nó, và thậm chí còn khó khăn hơn nữa khi sử dụng chúng mà không theo logic nội tại của mô hình ấy. Chọn lựa một lối sống có mục tiêu độc lập khỏi công nghệ, sức mạnh toàn cầu và áp đảo của nó dù chỉ một phần cũng trở thành ngược dòng. Công nghệ có khuynh hướng hấp thụ mọi thứ vào trong lý luận thép của nó, và những người đang bị bao vây bởi công nghệ “biết rõ rằng khi phân tích đến cùng thì nó không đi theo hướng đem lại lợi ích cũng như sự thịnh vượng cho nhân loại”, họ cũng biết rằng “theo nghĩa sát nhất về mặt thuật ngữ thì quyền lực chính là động cơ của nó – quyền làm chủ mọi sự”.142 Hậu quả là “con người nắm giữ những yếu tố trần trụi của cả thiên nhiên và bản chất con người”.143 Khả năng ra quyết định, sự tự do đích thực và không gian sáng tạo của mỗi người bị giảm thiểu. (108)

Trong Thông điệp, Đức Phanxicô lưu ý rằng mô hình kỹ trị hiện đại có xu hướng thống trị nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống con người: xã hội, kinh tế, đạo đức, ... Ở cấp độ xã hội, “nhiều vấn đề của thế giới ngày nay khởi đi từ một khuynh hướng, đôi khi là vô thức, làm cho phương pháp và những mục tiêu của khoa học và công nghệ trở thành mô hình nhận thức khuôn mẫu của nhiều cá nhân và hoạt động xã hội”. (107) Ngài nhận định “sản phẩm công nghệ không trung lập, vì chúng tạo ra một khuôn khổ sẽ điều kiện hóa lối sống và định hình những khả năng xã hội đi theo dòng chảy do lợi ích của nhóm thế lực đề ra”. (107) Mô hình kỹ trị cuối cùng sẽ quyết định “loại xã hội mà chúng ta muốn xây dựng”. (107) Mô hình kỹ trị cũng mở rộng các vòi của nó sang lĩnh vực kinh tế. “Kinh tế chấp nhận mọi tiến bộ trong công nghệ miễn là có lợi nhuận, mà không quan tâm đến ảnh hưởng tiêu cực của nó trên con người. Tài chính bóp nghẹt nền kinh tế thật”. (109) Theo đó, “một kiểu “siêu phát triển” vô cùng lãng phí và một kiểu tiêu thụ tạo nên thế đối lập không thể chấp nhận được với những hoàn cảnh mất hết nhân tính,144 trong khi chúng ta lại quá chậm chạp trong việc phát triển những tổ chức kinh tế và những sáng kiến xã hội đem lại quyền được hưởng nguồn tài nguyên căn bản cho người nghèo”. (109) Đức Phanxicô đau lòng nhận định rằng chúng ta đang sống trong một thế giới bị tước đoạt khỏi “những chân trời đạo đức đúng đắn để người ta tham khảo. Cuộc sống dần dần đầu hàng những hoàn cảnh chịu chi phối bởi công nghệ, xem nó là chìa khóa chính cho ý nghĩa của hiện hữu”. (110)

Do đó, mô hình kỹ trị áp đảo rõ ràng phải bị xét xử trong cuộc khủng hoảng ngôi nhà hành tinh và gia đình nhân loại của chúng ta. Tuy nhiên, Đức Phanxicô tiến thêm một bước và tìm kiếm gốc rễ khái niệm sâu xa hơn đằng sau mô hình kỹ trị đó. Theo ngài, “chúng ta không nhìn thấy gốc rễ sâu xa nhất của những thất bại hiện tại, là những điều cần phải giải quyết bằng sự định hướng, mục tiêu, ý nghĩa và những áp dụng mang tính xã hội của sự tăng trưởng công nghệ và kinh tế”. (109) Đâu là “gốc rễ sâu xa” của mô hình kỹ trị áp đảo đang nắm giữ cách sống và hoạt động của chúng ta trên thế giới ngày nay trong “lý luận thép” của nó? (108) Chúng ta sẽ tập trung chú ý vào điều đó trong phần kế tiếp.

3. Gốc rễ sâu xa của khủng hoảng: chủ nghĩa duy con người hiện đại và cái nhìn cơ học về thế giới tự nhiên

Theo Đức Phanxicô, để đi sâu vào gốc rễ của khủng hoảng sinh thái đương đại, chúng ta cần đi sâu vào nền tảng khái niệm cơ bản của mô hình kỹ trị áp đảo đang thịnh hành. Như ngài lưu ý, “Vấn đề căn bản thậm chí còn sâu xa hơn: con người đã theo đuổi công nghệ và sự phát triển của nó theo mô hình không phân biệt và một chiều”. (106) Các yếu tố cơ bản của mô hình này là: vị thế cao của chủ thể như trong chủ nghĩa nhân chủng học hiện đại; giản lược thế giới thành vật chất đơn thuần như trong quan niệm cơ học xem thế giới tự nhiên là vật chất vô hồn để con người sử dụng và tiêu thụ, do đó dẫn đến tương quan xung đột giữa nhân loại và thế giới tự nhiên. Thật ý nghĩa khi tất cả các yếu tố này đều có trong đoạn sau của Laudato Si’:

Mô hình này tôn vinh quan niệm chủ thể biết sử dụng những quy trình có tính logic và hữu lý để tiếp cận và kiểm soát trên một đối tượng bên ngoài. Chủ thể này nỗ lực mọi cách để thiết lập phương pháp khoa học và thực nghiệm, mà bản thân nó đã là một kĩ thuật chiếm hữu, làm chủ và biến đổi. Dường như chủ thể tìm được chính nó trong sự hiện diện của một điều gì đó vô hình, hoàn toàn mở ra cho sự thao tác. Con người đã từng can thiệp vào thiên nhiên, nhưng trong thời gian dài vẫn theo nhịp độ và tôn trọng những khả năng do chúng mang lại. Vấn đề là biết tiếp nhận điều thiên nhiên cho phép, như đón nhận từ chính bàn tay của chúng. Trái lại, bây giờ chúng ta lại đặt bàn tay mình trên mọi sự, cố gắng rút lấy mọi sự có thể từ chúng, trong khi thường xuyên phớt lờ hoặc lãng quên thực tại trước mắt chúng ta. Con người và vật thể vật chất không còn đưa bàn tay thân thiện ra cho nhau nữa; mối tương quan trở nên đối đầu. (106)

Trong Thông điệp, Đức Phanxicô đặc biệt chỉ trích chủ nghĩa duy con người. Ngài cảnh báo “Thời hiện đại mang dấu ấn của chủ nghĩa duy con người thái quá”. (116) Theo ngài, “những người nam và người nữ của thế giới hậu hiện đại sẽ gặp mối nguy về chủ nghĩa cá nhân rộng khắp, và nhiều vấn đề xã hội có liên hệ với nền văn hóa quy ngã, tìm thỏa mãn tức thời của thời đại chúng ta”. (162) Tình trạng đau thương của ngôi nhà chung có liên quan đến khuynh hướng nhân loại muốn biến mình thành trung tâm tuyệt đối của thực tại. Trích dẫn từ Đức Thánh Cha Biển Đức XVI, Đức Phanxicô viết: Việc lạm dụng công trình sáng tạo bắt đầu khi con người tùy tiện đặt mình vào vị trí trung tâm “nơi mà bản thân chúng ta có tiếng nói chung cuộc, nơi mà mọi thứ đơn giản chỉ là tài sản của chúng ta và chúng ta sử dụng nó cho chính bản thân chúng ta mà thôi. Việc sử dụng sai lầm công trình sáng tạo bắt đầu khi chúng ta không còn nhận biết bất kỳ điều gì cao hơn bản thân chúng ta, khi chúng ta chẳng thấy gì khác ngoài chính mình”.145(6) Theo ngài, khủng hoảng sinh thái chính là một hình thức nổi loạn từ phía thiên nhiên chống lại sự thống trị độc đoán của loài người.

Một khi con người tuyên bố độc lập khỏi thực tại và hành xử bằng sự thống trị tuyệt đối, các nền tảng chính yếu của cuộc sống bắt đầu suy sụp, “thay vì thực thi vai trò của mình là người cộng tác với Thiên Chúa trong công trình sáng tạo, con người lại tự đặt mình vào vị trí của Thiên Chúa và kết cục là kích động cuộc nổi loạn của thiên nhiên”.146 (117)

Trong quan điểm lấy con người làm trung tâm, tương quan của con người với thiên nhiên có xu hướng trở nên chuyên quyền và bóc lột, vì con người chỉ ý thức theo quan điểm lợi ích của mỉnh. Theo chủ nghĩa duy con người hiện đại, thế giới vật chất được xem là tồn tại theo ý muốn của con người và không có khả năng đặt ra bất kỳ giới hạn nào đối với tham vọng chinh phục và làm chủ của con người. Tư tưởng muốn sở hữu và thống trị thiên nhiên chắc chắn sẽ dẫn đến thái độ tham lam và bóc lột đối với thiên nhiên. Về vấn đề này, Đức Phanxicô lưu ý rằng “chúng ta đã tự xem mình là chúa tể và chủ nhân của thiên nhiên, có quyền cướp bóc tùy ý”. (2)

Theo Đức Phanxicô, “chủ thuyết lầm lạc xem con người là trung tâm dẫn đến lối sống lầm lạc… Khi con người tự đặt mình làm trung tâm, họ sẽ dành ưu tiên tuyệt đối cho tiện nghi trước mắt và tất cả những thứ khác trở nên tương đối”. (122) Chủ nghĩa tương đối “xem mọi thứ là không liên quan trừ khi nó phục vụ cho lợi ích tức thời của mình”. (122) Ngài tiếp tục nói thêm rằng một chủ nghĩa tương đối ích kỷ như vậy chắc chắn dẫn đến sự suy thoái không chỉ môi trường mà còn xã hội nữa:

Nền văn hóa của chủ nghĩa tương đối cũng là một thứ lộn xộn, lôi kéo con người lợi dụng người khác, đối xử với người khác như với các đồ vật thuần tuý, áp đặt lao động cưỡng bức hoặc làm cho họ trở nên nô lệ để trả nợ. Cùng một lối nghĩ này dẫn đến việc khai thác tình dục trẻ em, bỏ rơi người già vì họ không còn lợi ích nữa… Không phải cùng một lý luận tương đối đó biện minh cho hành động buôn bán cơ phận của người nghèo hay để sử dụng làm thí nghiệm, hoặc loại bỏ các trẻ em vì cha mẹ chúng không muốn sao? Cùng lối lý luận “sử dụng và vứt bỏ” này tạo ra quá nhiều rác thải, chỉ vì ham muốn tiêu thụ quá mức nhiều hơn điều chúng ta cần. Không nên nghĩ rằng những nỗ lực chính trị hoặc sức mạnh của luật pháp đủ để ngăn chặn những hành động đang ảnh hưởng đến môi trường, vì khi tự thân nền văn hóa bị hư hoại, sự thật khách quan và những nguyên tắc hợp lý phổ quát không còn được tôn trọng nữa, thì luật pháp chỉ là những áp đặt tùy tiện hay những cản trở phải tránh né. (123)

Đức Thánh Cha cho rằng chủ nghĩa duy con người hiện đại đề cao cá nhân hơn mọi thứ khác cũng “đang tiếp tục cản trở mọi con đường của sự hiểu biết chung và những nỗ lực nhằm củng cố mối dây liên kết xã hội”. (116) Theo ngài, chủ nghĩa duy con người hiện đại dựa trên nền nhân chủng học sai lầm và quan điểm lệch lạc về tương quan giữa nhân loại và thế giới tự nhiên. “Một sự trình bày không đầy đủ về nhân chủng học Kitô giáo đã dẫn đến hiểu lầm về mối tương quan giữa con người và thế giới”, cụ thể là “giấc mơ Promethe về quyền bá chủ thế giới”. (116) Thay vào đó, Đức Phanxicô nhắc nhở chúng ta rằng “quyền thống trị của chúng ta đối với vũ trụ phải được hiểu đúng là quản lý có trách nhiệm”.147 (116) Theo ngài, “rõ ràng Kinh Thánh không có chỗ cho chủ nghĩa duy con người chuyên chế không quan tâm đến các thụ tạo khác”. (68)

Trong Laudato Si’, Đức Phanxicô cảnh báo rằng chủ nghĩa duy con người hiện đại cuối cùng sẽ gây bất lợi cho chính con người.

Khi con người không tìm thấy vị trí thật sự của họ trong thế giới này, họ sẽ hiểu lầm chính họ và hành động chống lại chính bản thân: “Thiên Chúa không chỉ ban cho con người trái đất để sử dụng và tôn trọng mục đích tốt lành nguyên thủy của nó, nhưng con người còn là quà tặng của Thiên Chúa dành cho chính con người. Do đó, con người phải tôn trọng cấu trúc tự nhiên và luân lý đã được phú ban”.148 (115)

Theo Đức Phanxicô, một hệ sinh thái đích thực cần có nền tảng nhân chủng học đầy đủ. “Không thể có hệ sinh thái nếu không có nền nhân chủng học tương xứng”. (118) Phản đối lại chủ nghĩa duy con người thái quá không có nghĩa là chấp nhận thuyết sinh học trung tâm của một số trường phái triết học môi trường như Deep Ecology. Chủ nghĩa sinh học trung tâm đẩy con lắc sang thái cực bên kia bằng cách đặt thế giới tự nhiên vào trung tâm và phủ nhận sự độc đáo của con người. Đức Thánh Cha viết về vấn đề này:

Không thể canh tân tương quan của chúng ta với thiên nhiên mà không canh tân chính nhân loại... Khi con người bị xem như một thực thể trong số những thực thể khác, là sản phẩm tình cờ hay định mệnh vật lý, thì “toàn bộ cảm thức trách nhiệm của chúng ta sẽ tan biến”.149 Chủ nghĩa duy con người sai lạc không nhất thiết phải nhường chỗ cho “thuyết sinh học trung tâm” (biocentrism), vì như thế lại dẫn đến một tình trạng mất quân bình khác, nhưng không giải quyết được vấn đề hiện tại và những vấn đề mới phát sinh. Không thể mong chờ con người đảm nhận trách nhiệm với thế giới nếu không nhìn nhận và đánh giá những khả năng hiểu biết, ý chí, tự do và trách nhiệm độc nhất của họ. (118)

Chủ nghĩa duy con người hiện đại có mối liên hệ biện chứng với quan điểm cơ học hiện đại về thế giới tự nhiên. Chủ nghĩa duy con người, khi đề cao con người lên vị trí trung tâm tuyệt đối đã làm mất đi giá trị và lạm dụng thế giới tự nhiên xung quanh. Một khi con người trở thành tâm Archimede như trong chủ nghĩa duy con người, phần còn lại của thực tại vật lý sẽ không có nghĩa lý gì, chỉ như một kho chứa khổng lồ các vật thể hoặc nguyên liệu thô dành cho con người tiêu thụ. Đức Phanxicô trích dẫn lời của Đức Gioan Phaolô II viết trong Thông điệp đầu tiên của mình rằng con người dường như “không thấy một ý nghĩa nào khác của môi trường thiên nhiên ngoài nhu cầu sử dụng và tiêu thụ trước mắt”.150 (5)

Đức Phanxicô trích dẫn tư tưởng của Romano Guardini cho rằng lý lẽ công nghệ hiện đại “xem thiên nhiên như là một trật tự vô tri, một thân thể lạnh lùng với những dữ kiện, một ‘sự cho đi’ thuần túy, một đối tượng của tiện ích, là nguyên liệu thô cần được uốn nắn thành hình thù hữu dụng; tương tự như vậy, thuyết này nhìn vũ trụ như là một ‘không gian’ thuần túy, có thể ném các vật thể vào đó với một thái độ hoàn toàn vô tâm”.151 (115) Trong cái nhìn của cơ học hiện đại, các thực thể được coi là những nguồn tài nguyên đơn thuần để con người sử dụng và tiêu dùng với giá trị bản thể của chúng được đo bằng sự hữu ích của chúng.

Quan điểm cơ học hiện đại coi thế giới tự nhiên là kho chứa tài nguyên thuần túy cũng là nền tảng của nền kinh tế hiện đại và tân tự do. Như Đức Thánh Cha đề cập, trong nền kinh tế hiện đại, “thiên nhiên bị coi như một nguồn lợi nhuận và lợi ích mà thôi, điều này gây ra hậu quả nghiêm trọng cho xã hội”. (82) Ngài chỉ trích “ý tưởng về sự tăng trưởng vô biên hoặc vô hạn, là điều rất hấp dẫn đối với các nhà kinh tế, tài chính và các chuyên gia công nghệ” (106) nhưng lại có hại cho ngôi nhà chung của chúng ta. Theo Đức Phanxicô, khái niệm tăng trưởng vô hạn “dựa trên sự lừa dối rằng có một nguồn cung cấp vô biên các tài sản của trái đất, và dẫn đến việc hành tinh đang bị vắt kiệt vượt quá mọi giới hạn. Thật lầm lạc khi quan niệm rằng “luôn sẵn có nguồn năng lượng và nguồn tài nguyên vô biên, có thể tái tạo cách nhanh chóng, và tác động tiêu cực của việc khai thác trật tự thiên nhiên có thể được hóa giải cách dễ dàng”.152 (106)

4. Cuộc cách mạng văn hóa táo bạo hướng tới chủ nghĩa nhân bản mới

Trong Laudato Si’, Đức Phanxicô mời gọi chúng ta “mở rộng tầm nhìn” (112) vượt lên những chân trời hạn hẹp của mô hình kỹ trị hiện đại. Ngài nhắc nhở rằng “chúng ta có tự do cần thiết để hạn chế và định hướng công nghệ; chúng ta có thể sử dụng nó để phục vụ cho một loại tiến bộ khác, loại tiến bộ lành mạnh hơn, nhân bản hơn, xã hội hơn và toàn diện hơn”. (112)

Đức Phanxicô cho thấy ngày nay “chúng ta có nhu cầu cấp thiết phải tiến lên trong một cuộc cách mạng văn hóa táo bạo”. (114) Theo ngài, cuộc cách mạng văn hóa hướng tới việc tạo ra một nhân loại mới đang diễn ra, bất chấp sự thống trị liên tục của mô hình kỹ trị hiện tại. Ngài viết: “Một nhân loại đích thực dường như vẫn đang cư ngụ ngay giữa nền văn minh công nghệ của chúng ta, dù hầu như mọi người không nhận ra, đang mời gọi một sự tổng hợp mới như giọt sương nhẹ nhàng thấm bên dưới một cánh cửa đóng kín”. (112) Nếu gốc rễ sâu xa nhất của suy thoái ngôi nhà chung cuối cùng là con người, thì việc tái tạo sự hòa hợp với thế giới tự nhiên chỉ có thể được thực hiện thông qua chủ nghĩa nhân bản mới. “Không thể canh tân tương quan của chúng ta với thiên nhiên mà không canh tân chính nhân loại”. (118) Chúng ta cần chữa lành các tương quan cơ bản của con người. Theo Đức Phanxicô, “nếu khủng hoảng sinh thái hiện nay là dấu hiệu bên ngoài của khủng hoảng đạo đức, văn hóa và tinh thần của thời hiện đại, thì chúng ta không thể giả vờ chữa lành tương quan với thiên nhiên và môi trường mà không chữa lành tất cả tương quan nền tảng của con người”. (119)

Ngày nay, chúng ta cần chữa lành các tương quan của mình với thế giới tự nhiên, với đồng loại và với Đấng Tạo Hóa. Một quan điểm toàn diện và thống nhất có tầm quan trọng trong vấn đề này. Đức Thánh Cha viết: “Tương quan đúng đắn với thế giới không hạ thấp chiều kích xã hội của con người trong tương quan rộng mở với người khác, càng không làm suy yếu chiều kích siêu việt rộng mở với “Đấng” là Thiên Chúa. Tương quan của chúng ta với môi trường không thể tách rời khỏi tương quan của chúng ta với người khác và với Thiên Chúa”. (119)

Điều chúng ta cần ngày nay không gì khác hơn là sinh thái toàn diện. Thật ý nghĩa khi Đức Phanxicô dành hẳn một chương cho sinh thái toàn diện trong Laudato Si’. Chúng ta sẽ suy tư về khái niệm này trong điều răn xanh tiếp theo.


Chú thích

129 Mike Hulme, “Finding the Message of the Pope’s Encyclical,” Environment: Science and Policy for Sustainable Development 57/6 (2015), 16

130 Đức Thánh Cha Phanxicô, Laudate Deum: Apostolic Exhortation to All People of Good Will on the Climate Crisis (Vatican City: Libreria Editrice Vaticana, 2023), 11

131 Xem John Cook et al., “Quantifying the Consensus on Anthropogenic Global Warming in the Scientific Literature,” Environmental Research Letters 8 (2013), 024024; Naomi Oreskes, “Beyond the Ivory Tower: The Scientific Consensus on Climate Change,” Science 306 (2004), 1686; National Academy of Sciences Committee on the Science of Climate Change, Climate Change Science: An Analysis of Some Key Questions (Washington, DC: National Academy Press, 2001), 3

132 Jan Zalasiewicz et al., “The Anthropocene: A New Epoch of Geological Time?,” Philosophical Transactions of the Royal Society A 369 (2011), 835-841

133 Từ Anthropocene kết hợp “anthropo” nghĩa là “con người” với “-cene” tương đương với “epoch” (kỷ nguyên) trong niên đại địa chất. Kỷ Anthropocene được phân biệt là một thời kỳ mới, đến sau hoặc trong kỷ Holocene, kỷ hiện tại, bắt đầu cách đây khoảng 10.000 năm (khoảng 8000 TCN) với sự kết thúc của kỷ băng hà.

134 Xem P.J. Crutzen – E. F. Stoermer, “The Anthropocene,” Global Change Newsletter 41 (2000), 17-18; P. J. Crutzen, “Geology of Mankind: the Anthropocene,” Nature 415 (2002), 23. Tiền thân của khái niệm, xem Will Steffen et al., “The Anthropocene: Conceptual and Historical Perspectives,” Philosophical Transactions of the Royal Society A 369 (2011), 843-45

135 Hội thảo quốc tế Planet Under Pressure, Rio+20 Policy Brief (London - 26-29 March 2012), 1

136 Lynn White, “The Historic Roots of Our Ecologic Crisis,” Science 155 (1967), 1204

137 Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, Bài nói chuyện với các Khoa học gia và Đại diện của Đại học Liên hiệp quốc, Hiroshima (25/02/1981), 3: AAS 73 (1981), 422

138 Đức Thánh Cha Biển Đức XVI, Thông điệp Caritas in Veritate (29/6/2009), 69: AAS 101 (2009), 702.

139 Romano Guardini, Das Ende der Neuzeit, 9th ed., Würz­burg, 1965, 87 (bản tiếng Anh: The End of the Modern World, Wilming­ton, 1998, 82)

140 Ibid.

141 Ibid., 87-88 (The End of the Modern World, 83).

142 Ibid., 63-64 (The End of the Modern World, 56).

143 Ibid., 64 (The End of the Modern World, 56).

144 Đức Thánh Cha Biển Đức XVI, Thông điệp Caritas in Veritate (29/6/2009), 22: AAS 101 (2009), 657

145 Đức Thánh Cha Biển Đức XVI, Nói chuyện với các giáo sĩ của Giáo phận Bolzano-Bressanone (6/8/2008): AAS 100 (2008), 634

146 Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, Thông điệp Centesimus Annus (01/5/1991), 37: AAS 83 (1991), 840

147 Cf. Love for Creation. An Asian Response to the Ecological Crisis, Tuyên bố của Hội thảo do Liên Hội đồng Giám Mục Châu Á bảo trợ (Tagatay, 31/01-5/02/1993), 3.3.2.

148 Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, Thông điệp Centesimus Annus (01/5/1991), 38: AAS 83 (1991), 841

149 Đức Thánh Cha Biển Đức XVI, Sứ điệp Ngày Thế giới Hòa Bình 2010, 2: AAS 102 (2010), 41

150 Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, Thông điệp Redemptor Hominis (4/3/1979), 15: AAS 71 (1979), 287

151 Romano Guardini, Das Ende der Neuzeit, 63 (The End of the Modern World, 55)

152 Ủy ban Công lý và Hòa Bình, 462


FMA Logo

Địa chỉ: 57 Đường số 4, Khu phố 56, P. Tam Bình, TP. Hồ Chí Minh

Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về email: libraryfmavtn@gmail.com

Liên Kết

Truyền Thông FMA

Copyright Dòng Con Đức Mẹ Phù Hộ © 2026