FMA Logo

21. Algeria và Ba Lan



Suốt thập niên 1890, cha Rua giới thiệu công cuộc Salêdiêng tới hai quốc gia mới: Algeria và Ba Lan. Việc thành lập ở Algeria không tạo ra nhiều sóng gió. Thay vào đó, ở Ba Lan mọi chuyện ít suôn sẻ hơn nhiều.

Những người Salêdiêng ở Algeria

Năm 1883 ở Paris Don Bosco đã hứa với Đức Hồng y Charles-Martial Lavigerie (1825-1892), Tổng Giám mục Carthage ở Tunisia, là sẽ gửi người Salêdiêng tới châu Phi.[385] Hôm đó là ngày 21 tháng Năm; cả hai người đều ở nhà thờ Saint-Pierre du Gros-Caillou tại Paris. Từ bục giảng Đức Hồng y đã yêu cầu những người Salêdiêng và Don Bosco trả lời: "Thưa Đức Cha, con ở trong tay cha để làm bất cứ điều gì mà Chúa Quan phòng yêu cầu con ở châu Phi. Vâng, vâng, cha hãy tin chắc rằng nếu chúng con có thể làm điều gì đó ở châu Phi, con và toàn thể Gia đình Salêdiêng sẽ thuộc quyền Đức Cha sử dụng. Con sẽ gửi con cái ở Ý và Pháp tới đó".[386] Sau đó Đức Hồng y đã chờ người Salêdiêng ở Tunisia trong vài năm. Vào năm 1891, do phép lịch sự, cha Rua thông báo cho ngài, về một cơ sở mới sắp có mặt ở Oran. Đức Hồng y trả lời vào ngày 2 tháng Bảy với giọng hơi khó chịu:

Cha rất đáng kính,

Tôi đã nhận được thư của cha ở Carthage ngày 16 tháng Sáu, cùng với thư của Cha Bellamy. Tôi phải thú nhận, tôi rất ngạc nhiên khi biết rằng hai vị thánh (dù chưa được phong thánh) như Don Bosco và Cha Rua, đã không giữ lời hứa công khai với tôi trong việc lập một nhà ở Tunisia; Cha rất đáng kính nay lại bình tĩnh và lặng lẽ cho tôi biết về việc mở một công cuộc tại giáo phận Oran. Chắc chắn tôi có thể tha thứ cho sự xúc phạm, và tôi phải làm, vì Chúa đã truyền lệnh và nêu gương cho chúng ta; nhưng để cảm ơn và chúc mừng những người đứng sau việc này thì vượt quá nhân đức của tôi, vốn hẳn nhiên là rất mỏng dòn. Vì vậy, tôi có đôi lời hạn hẹp lưu ý rằng tôi đã nhận được thư của cha gửi vào tháng trước và tôi bảo đảm với cha rằng tôi là

người tôi tớ hèn mọn và vâng phục,

nhưng không tuyệt vọng của cha,

Charles Card. Lavigerie.[387]

Người đứng chủ yếu đằng sau mưu mẹo này là Đức Giám mục Oran, Géraud-Marie Soubrier (1826-1899). Tháng Mười năm 1889, ngài đã yêu cầu vị Tổng Đại diện của mình gặp cha Giám tỉnh Phaolô Albera, ở Marseilles. Việc chăm sóc giới trẻ ở Oran thật khẩn cấp. Thành phố này có gần bảy mươi ngàn cư dân thuộc nhiều quốc tịch khác nhau, đặc biệt là Tây Ban Nha. Rất đông thanh niên lang thang trên đường phố, mà không có chút khái niệm giáo lý nào; mà nếu như thế thì họ không được rước lễ lần đầu.[388] Cha Rua nói với Đức Giám mục là ngài chấp nhận đề nghị này, nhưng ngài đang chờ thêm chi tiết. Chi tiết đã có. Cha Rua không trả lời ngay. Vì vậy, ngày 31 tháng Tám năm 1890, Đức Giám mục Soubrier viết: “Cha Albera đáng kính, trong một lá thư gửi đến tôi ngày hôm qua, cha Rua nói rằng ngài rất ngạc nhiên khi cha chưa viết cho tôi. Biết rằng cha rất bận rộn, tôi không ngạc nhiên và tôi cũng yêu cầu điều mà các môn đệ của Thánh Gioan Tẩy Giả đặt ra với Thầy Chí Thánh: Tu es quy venturus es, an alium expectamus? [Thầy có phải là Đấng sẽ đến hay chúng tôi phải trông đợi ai khác?]. Thực sự tôi tin cha có ý định đáp lại lời cầu khẩn của tôi, nhưng cho phép tôi nói với cha lời cầu nguyện của người Macedonia với Thánh Phaolô: Transiens ad citivatem episcopalem nostram adiuva nos. [Hãy đến Macedonia giúp chúng tôi]".[389]

Cha ​​Rua thận trọng nói với Đức Giám mục rằng ngài sẽ cử hai linh mục đến thăm những ngôi nhà mà giám mục muốn cho những người Salêdiêng. Thực vậy, cha Celestine Durando và cha Charles Bellamy, khi ấy làm tập sư ở Marseilles, đến Oran vào tháng Mười Hai năm 1890. Khi trở về, cha Durando đã giải thích cho cha Rua và Tu Nghị Bề trên rằng Đức Giám mục sẽ cho những người Salêdiêng hai căn nhà vốn thuộc về ngài, một ở trung tâm thành phố, cái kia trên đỉnh Eckmühl. Căn nhà thứ nhất là một tòa án cũ bên cạnh một tòa nhà được gọi là "Trường dạy hát nhà thờ chính tòa", với một hội trường rộng có thể biến thành một nhà nguyện. Theo Đức Giám Mục, căn nhà này, có thể tổ chức Nguyện xá ngày lễ, trường của nhà thờ Chính tòa (có nghĩa là các người giúp lễ mà Giám mục coi như vườn ươm ơn gọi linh mục) và các lớp học ban ngày. Đức Giám mục dự định mướn người tu sửa, dự chi cho nó mười hai ngàn franc. Còn nhà kia có thể dùng làm trường nội trú. Hai Cộng Tác viên, các Nữ tu, đã sẵn sàng cho người Salêdiêng một mảnh đất liền kề để phát triển công cuộc thứ hai này.

Thỏa thuận giữa Turin và Oran nhanh chóng kết thúc. Thỏa thuận đã được cha Rua ký tại Turin ngày 2 tháng Hai năm 1891, Lễ Dâng Chúa vào Đền Thánh, và được Đức Giám mục Géraud Soubrier ký tại Oran ngày 12 tháng Tư, Chúa nhật Chúa Chiên Lành.[390] Có mười điều khoản. Phần giới thiệu bày tỏ ý định của hai bên và nói về cha Rua mong muốn bám sát lời hứa của Don Bosco với Đức Hồng y Lavigerie vào năm 1883: "Đức Giám mục Soubrier muốn cung cấp nền giáo dục Kitô giáo cho giới trẻ ở thành phố Oran, đặc biệt là người nghèo và bị bỏ rơi; ngài đã đề xuất với cha Rua mở trong thành phố này những công cuộc lấy cảm hứng từ tinh thần và Quy luật của Tu hội được Don Bosco thành lập. Cha Rua chấp nhận lời đề nghị với lòng tri ân, và vui sướng có thể thực hiện mong muốn của Don Bosco gửi những người con của mình đi vào các khu vực châu Phi để cứu các linh hồn".

Người Salêdiêng sẽ thực hiện dự án trong các điều khoản được thiết lập trong thỏa thuận này. Như điều khoản đầu tiên vạch ra, tháng Mười năm 1891, cha Rua đã gửi các nhân viên cần thiết tới Oran để bắt đầu công cuộc, ít nhất sáu người Salêdiêng, bao gồm cả các linh mục, tư giáo và sư huynh. Họ bắt đầu điều hành Trường Công giáo Thánh Lu-y, mở thêm các lớp học chính và một Nguyện xá (điều khoản 2). Vào tháng Mười năm 1892, các khóa học tiếng Latinh bắt đầu (điều khoản 3). Các lớp học không miễn phí (điều khoản 4). Bên cạnh đó, "Vì mục đích chính của Hội đạo đức Salêdiêng Don Bosco là chăm sóc giới trẻ nghèo và bị bỏ rơi, các bề trên dự định mở một phần nội trú hoặc viện mồ côi, một khi Chúa Quan phòng cung cấp các nguồn lực cần thiết" (điều khoản 7). Khi xem xét cơ sở này, Đức Giám mục Soubrier cho người Salêdiêng căn nhà và mảnh đất mà ngài sở hữu gần nhà thờ giáo xứ Oran-Eckmühl (điều khoản 8). Các điều khoản khác liên quan đến các vấn đề tài chính, mà Cha Rua luôn quan tâm, cũng như Đức Giám mục Soubrier, để làm rõ và có thể sửa đổi các chi tiết: chi phí sửa lại tòa án cũ cho thích hợp, chi phí đi lại và khung cảnh (sống) cho các Tu sĩ, lương giáo viên.

Người Salêdiêng Pháp, Charles Bellamy (1852-1911), xuất thân từ Chartres, được Cha Rua giao vai trò Giám đốc-người sáng lập công cuộc đó. Đức Giám mục mến cha trong chuyến thăm khám phá của ngài. Vị Giám mục đã viết cho cha Rua ngày 4 tháng Giêng năm 1891: "Tôi hy vọng những người Salêdiêng sẽ hoàn thành công việc tuyệt vời ở Oran. Tôi thấy dường như cha Bellamy được ban nhiều đức tính."

Cơ sở Oran năm 1891

Bảy thành viên của đoàn viễn chinh truyền giáo Oran, cha Bellamy, một linh mục, hai tư giáo, một sư huynh làm thợ mộc chính và hai sư huynh trẻ làm việc trong vườn nho, tham dự lễ chia tay truyền thống dành cho những người truyền giáo trong nhà thờ Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu ở Turin ngày 16 tháng Tám . Cyprien Beissière, một người trong nhóm, nói rằng cha Rua đã quy tụ họ lại vào buổi sáng trong nhà nguyện cũ trong phòng của Don Bosco để trò chuyện với họ. Ngài nói: "Cha phái anh em đi như thiên thần vào giữa sói".[391] Thực tế có nhiều phiền toái hành chính, quá phức tạp không thể mô tả ở đây. Hai người đến Marseilles và Saint Léon Oratory từ Turin. Ở đó cha Giám tỉnh Albera, đã trịnh trọng tiễn họ lên đường. Bài phát biểu đầy cảm động của ngài, như thường lệ, khai triển một chủ đề Kinh Thánh: "Đẹp thay bước chân những người đi công bố Tin mừng bình an"!" Dân chúng rất xúc động. “Những trở ngại, thử thách và đau khổ của những nhà truyền giáo, máu có lẽ sẽ nhuộm triều thiên của họ, không bao giờ bị lãng quên". Tôi đặc biệt chào đón ba người Salêdiêng của nhóm người đã từng là "chàng trai từ Saint-Léon". Theo mục tin tức trong Tập san Salêdiêng: "chúng tôi nhắc mọi người rằng người đứng đầu đoàn thám hiểm [Charles Bellamy] đã là một nhà hảo tâm thân thiết của công cuộc Don Bosco, và luôn là một đứa con xứng đáng".

Ngày 22 tháng Tám, bảy người ra đi trên chiếc tàu hơi nước La Città di Rôma thẳng đến Oran. Ngày 24 họ đến nơi. Họ không gặp bất kỳ đại diện dân sự hay giáo hội nào: tất cả đều đang nghỉ lễ ở châu Âu. Được Cha Bellamy dẫn đầu, vốn biết phải đi đâu, những người Salêdiêng liền đi tới Nhà thờ Đức Bà để chào Chúa và gặp gỡ các nhân viên giáo phận: Tổng thư ký của Đức Giám mục và những người đại diện của nhà thờ Chính tòa; các ngài đã cố hết sức chăm sóc những người Salêdiêng. Sau đó họ đi tìm đường Ménerville để kiểm tra tình trạng của tòa án cũ: họ thấy nó trong một điều kiện thảm thương. Nhưng họ đã can đảm và tràn đầy tinh thần hy sinh, như chúng ta thấy trong một bức thư của Bellamy gửi cho cha Rua ngày 26 tháng Tám .[392] Họ xắn tay áo lên và thích nghi với hoàn cảnh. Khi từ Pháp trở về, Đức Giám mục cảm thấy có lỗi với họ, đã đưa ra một đề nghị hào phóng. Ngày 5 tháng Mười, các lớp học bắt đầu (tiểu học và trung học cơ sở), không phải trong tòa án cũ, vẫn đang được tu sửa, nhưng trong trường giáo xứ mà Đức Giám mục Soubrier đã làm sẵn để dùng. Họ muốn mở Nguyện xá ngày 1 tháng Mười Một, nhưng chỉ thành công vào ngày 15 tháng Mười Hai (ngày giáo phận mừng Lễ Mẹ Vô Nhiễm), với sự hiện diện của Đức Giám mục Soubrier, người làm phép ngôi nhà nguyện trong tòa án cũ. Ngày hôm đó kết thúc bằng buổi trình diễn. Nhờ một số nam diễn viên trẻ đã biểu diễn một cách ngẫu hứng nhưng nhanh nhẹn, Ngôi nhà may mắn, một trong những vở kịch của Don Bosco đã được trình diễn; và Đức Giám mục ngồi ở hàng ghế đầu khán giả đã hài lòng hết mức.

Bây giờ chỉ còn các điều khoản 7 và 8 của thỏa thuận sẽ được đưa ra thực hiện. Tài sản được Đức Giám mục Soubrier cho trên đỉnh Eckmühl bao gồm một ngôi nhà và một khu vườn lớn. Ngày 31 tháng Giêng năm 1893, người Salêdiêng thành lập ở đó. Khu vực nông trại phát triển và nhanh chóng được cải thiện. Họ trồng cây, thiết lập các nhà ngủ, lớp học. Chẳng bao lâu có bốn xưởng được tổ chức cho các thiếu niên lao động, một khu cho học sinh (cho độ tuổi 10-12), một khu đệ tử, gồm cả một số ơn gọi muộn. Một Nguyện xá thứ hai cũng được mở ra với Hội Vui, Joyeuse Union, được mô phỏng theo Hội Vui, Società d'Allegria, do Don Bosco thiết lập. Công cuộc Eckmühl trong những năm 1890 chỉ là một ngôi nhà Salêdiêng thu nhỏ, với khoảng chín mươi học sinh. Nhưng họ có những ước mơ lớn để phát triển.

Cho đến năm 1896 hai công cuộc ở Oran hoạt động dưới sự lãnh đạo của vị sáng lập, Charles Bellamy. Đôi khi họ gặp phải vấn đề nghiêm trọng. Vào năm 1895, tờ báo Le Petit Africain cầm đầu một chiến dịch dữ dội chống lại người Salêdiêng. Ngày 26 tháng Mười, không lời giải thích, chính quyền Quận đã ra lệnh đóng cửa nhà nguyện tại Ménerville, "cùng lúc đó lại cho phép mở một chi nhánh của Hội Tam Điểm", Cha Bellamy cay đắng nhận xét. Ngày 30 tháng Mười ngài phản ứng lại trong một bức thư ngỏ gửi Quận trưởng. May mắn là mọi thứ dừng lại ở đó.[393]

Bronisław Markiewicz người Salêdiêng Ba Lan

Chúng ta hãy đổi hướng hoàn toàn và di chuyển từ châu Phi đến tỉnh Ba Lan Galicia, thuộc chính quyền Áo quản trị cho đến năm 1919. Theo yêu cầu của Đức Giám mục Przemyśl, cha Rua đã cử cha Bronisław Markiewicz đến đó vào năm 1892 với tư cách là trợ lý trong giáo xứ Miejsce Piastowe, trở thành công cuộc Salêdiêng đầu tiên ở Ba Lan.

Năm đó, Bronisław Markiewicz (1842-1912), mặc dù đã năm mươi tuổi, vẫn là một "người Salêdiêng trẻ tuổi".[394] Sinh ra ở Pruchnik, gần thành phố Przemyśl, ở Galicia, cha vào đại chủng viện, không phải là không do dự, lúc hai mươi mốt tuổi và được phong chức linh mục ba năm sau đó. Là một linh mục có năng khiếu, cha học ngành sư phạm và triết học, đầu tiên tại Leopoli sau đó là Krakow. Vì vậy, cha đã có thể thành công vượt qua kỳ thi xin việc ở giáo xứ (27 và 28 tháng Mười năm 1875). Cha là linh mục giáo xứ Gać (1875) và Błażowa (1877-1882) trong bảy năm. Cha sốt sắng dấn thân vào công việc mục vụ: dạy giáo lý, rao giảng, giải tội, chăm sóc người nghèo và người bệnh, thành lập một "hội không bao giờ uống rượu", trong một khu vực nơi nghiện rượu là căn bệnh địa phương. Cha rất được ngưỡng mộ. Vì vậy, Đức Giám mục Łukasz Solecki, vốn đã chứng kiến ​​những đức tính của cha, đã bổ nhiệm cha làm giáo sư thần học mục vụ trong đại chủng viện (1882). Tuy nhiên, ở tuổi bốn mươi ba, Bronisław bắt đầu mơ về một đời sống thiêng liêng đòi hỏi khắt khe hơn, phù hợp với việc thực hành sứ vụ của mình. Tháng Mười Một năm 1885, được sự đồng ý của Đức Giám mục, cha đã đi Rôma để tìm kiếm một hội dòng có thể đáp ứng được những kỳ vọng của mình. Lúc đầu cha nghĩ về tu sĩ Theatine. Nhưng cha đã bị gây ấn tượng bởi lối sống và linh đạo của những người Salêdiêng ở Rôma, nơi cha đã tới để cử hành Thánh Lễ, và vì vậy quyết định chuyển ngay sang Don Bosco. Ngày 30 tháng Mười Một năm 1885, cha gặp Don Bosco ở Turin và bị ngài thu hút rất mạnh, cha hỏi liệu mình có thể bước vào Tu hội của ngài không.

Cuốn niên giám chung của Tu hội năm 1887 đặt cha trong số những ascritti (tập sinh) trong nhà San Benigno Canavese. Cha bắt đầu năm tập tháng Ba năm 1886, sau hai tháng ở thỉnh viện. Không còn tồn tại tài liệu nào về lời khấn của cha. Cha luôn nói cha đã khấn trong tay Don Bosco ngày 25 tháng Ba năm 1887. Thư ký Viglietti đã ghi lại tất cả những hoạt động của bề trên mình. Vào ngày đó Don Bosco ở Turin. Vậy thì vào ngày 25 tháng Ba, Bronisław gặp ngài ở Valdocco, tại đây, khi ghi nhận tuổi tác và các đức tính của cha là một linh mục tốt lành, ngài cho phép cha, trong phòng riêng của ngài và chỉ trước mặt ngài mà thôi, tuyên khấn vâng phục, khó nghèo và khiết tịnh. Có lẽ tổng thư ký không được nói về nó; chính vì thế, niên giám Tu hội Salêdiêng năm 1888 không bao gồm cha trong danh sách những người khấn tạm cũng như không nằm trong danh sách những người khấn trọn. Thay vào đó, chúng tôi thấy cha được liệt kê là khấn trọn trong các bản in từ năm 1889 đến năm 1892. Cha trải qua hai năm tại giáo xứ Thánh Gioan Tẩy Giả ở Turin, và hai năm ở nhà nghỉ tại Mathì. Cha bị bệnh lao. Cha nói trong những cộng thể này, cha chăm sóc các tư giáo khi dạy các môn lịch sử và thần học, và đôi khi, giảng cho người Salêdiêng. Cha có một quan điểm rất khắt khe về đời sống tâm linh. Ngày 30 tháng Tám năm 1888 Cha viết trong những ghi chú thiêng liêng: "Linh đạo của Don Bosco hệ tại ở việc phủ nhận chính mình vì yêu Thiên Chúa và người lân cận. Người lân cận được giao phó cho chúng ta chăm sóc thường chống đối chúng ta: chúng ta cần thinh lặng, kiên nhẫn chịu đựng những lời sỉ nhục, nghi ngờ, vu khống, luôn đáp lại bằng đức ái. Nếu người lân cận của chúng ta không muốn bất cứ điều gì từ chúng ta, chúng ta cần phải độ lượng và để người khác lo lắng cho họ. Vì vậy, cần phải liên tục quên bản thân mình, kiềm nén bản ngã chúng ta".[395] Ngài luôn luôn rao giảng sự bỏ mình, lòng tốt và sự khiêm nhường.

Khi tuyên khấn, Bronisław mơ ước trở về Ba Lan để hiến mình phục vụ quê hương, đặc biệt là Galicia nghèo nàn mà trong lòng cha thường so sánh với Piedmont giàu có. Bạn bè muốn cha là một người Salêdiêng trong giáo xứ tại Miejsce vốn phụ thuộc vào giáo phận gốc của cha, nhưng nó nằm dưới sự bảo trợ thế tục.[396] Khi giáo xứ được tự do, người "bảo trợ" giáo xứ đã chính thức viết cho cha Rua xin ngài nhận giáo xứ như một công cuộc của Tu hội và cho cha Markiewicz làm phụ tá. Hoàn toàn đồng ý với đề xuất này, ngày 19 tháng Mười năm 1891, cha Rua viết (bằng tiếng Latinh) cho Đức Giám mục Przemyśl: "Trong một lúc con đã có ý định mở một công cuộc ở Ba Lan để đón nhận người trẻ, đặc biệt là người nghèo. Cho đến bây giờ, việc thiếu linh mục và giáo viên đã luôn ngăn cản con. Lúa chín đầy đồng nhưng thợ gặt lại ít. Giờ đây để thỏa mãn khao khát đạo đức của cha Bronisław Markiewicz, con sẵn lòng cấp cho cha ấy quyền đi đến đó và đảm nhiệm công việc giáo xứ".[397] Cha Markiewicz bắt đầu làm việc vào cuối năm 1891,[398] và cha Rua đã chính thức cho phép cha.[399]

Cơ sở Ba Lan vào năm 1892

Sau khi trở về Ba Lan, Cha Bronisław đến Miejsce Piastowe ngày 24 tháng Ba năm 1892. Cha bắt đầu phục vụ giáo xứ, nhưng đặc biệt bắt đầu chăm sóc thanh thiếu niên bị lãng quên. Cha biết cha Rua đang nghĩ đến một công cuộc thường xuyên của người Salêdiêng, nên cha khởi sự "Don John Bosco Istituto" (danh hiệu thực sự trong danh mục của Salêdiêng từ 1894 đến 1897 tại "ngôi nhà" ở Miejsce).

Cha Markiewicz hăng say lao vào công cuộc này. Cha sống ở nhà xứ trong khi các trẻ nam nữ bị bỏ rơi sống trong một tòa nhà bên ngoài. Các em làm việc ở nông trại và vùng thôn quê thuộc “ân nhân” của giáo xứ. Năm 1895, cha cũng lập các xưởng thợ cho các em đóng giày, may mặc và các ngành nghề khác. Cha bắt đầu chọn những thiếu niên tốt nhất để trở thành những người Salêdiêng phục vụ các bạn đồng trang lứa của chúng. Trẻ nữ cũng có tổ chức riêng của họ. Cha Markiewicz áp dụng một phương pháp giáo dục lấy cảm hứng từ truyền thống của Salêdiêng, dựa trên lý trí, tôn giáo và lòng tốt.[400] Trong danh sách nhân sự tại Miejsce niên giám Salêdiêng năm 1894 liệt kê mười một "đệ tử ": ba sư huynh và tám học sinh. Vào năm 1895, ba người trong số đó thành "ascritti", có nghĩa là tập sinh, và số đệ tử đã tăng lên mười bảy (năm thiếu niên làm việc và mười hai học sinh). Turin thấy những con số này hấp dẫn. Các niên giám năm 1896 và 1897 chỉ liệt kê thêm hai "ascritti", nhưng không có đệ tử. Năm 1898, cộng đoàn tại Miezsce biến mất khỏi danh mục. Chúng ta có thể thấy ngay lý do.

Trong thư gửi cho các Cộng Tác viên trong Tập san Salêdiêng tháng Giêng năm 1895, cha Rua đã nhiệt liệt nói về công trình của Markiewicz: "Vài năm trở lại nay tại Ba Lan có một linh mục dòng Salêdiêng đã được cử làm linh mục giáo xứ cho Miejsce, một thị trấn ở Galicia. Cha bắt đầu tập hợp các thanh thiếu niên nghèo túng trong những giáo khu để hướng dẫn và hỗ trợ các em. Một lưu xá nhỏ bắt đầu phát triển dần dần. Cần phải gửi nhân sự để giúp linh mục giáo xứ nghèo này vốn không thể tự mình quản lý, và vào cuối năm trước số người đã tăng lên khoảng năm mươi".[401]

Năm 1896, cha Rua đã ủy quyền cho một nữ tu Salêdiêng tham gia vào việc huấn luyện các giáo viên (họ đang chuẩn bị tận hiến), những người muốn sống đời tu trì.[402] Nhưng những sáng kiến ​​táo bạo hơn bao giờ hết của cha Markiewicz sắp thử thách hệ thống đến mức đổ vỡ, như biên bản của Tu Nghị Bề trên trong cuộc họp ngày 23 tháng Mười Một năm 1896 ghi tóm tắt: "Từ Miejsce, cha Markiewicz đang đề xuất những danh sách mới [tập sinh] và một số người tuyên khấn. Hội đồng quyết định cử cha Veronesi đến cộng đoàn này để có được một ý tưởng rõ ràng về những gì đã xảy ra. Trong khi đó không ngừng lại những danh sách [tập sinh] mới và những người tuyên khấn".[403]

Cuộc khủng hoảng năm 1897

Nghèo khổ ngự trị trong nhà Don John Bosco ở Miejsce Piastowe. Con số thanh thiếu niên nhận vào hiện giờ đã đến gần một trăm. Nhưng một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng sắp diễn ra. Tháng Sáu năm 1897, quan ngại bởi tin tức đến tai ngài từ viện mồ côi ngoài tầm kiểm soát đó, cha Rua đã hành động theo quyết định của Tu Nghị Bề trên và phái cha Giám Tỉnh Moses Veronesi làm vị Kinh Lược. Cha được tiếp đón nồng hậu. Nhưng những kết luận của cha Moses khiến Bronisław Markiewicz bối rối.

Sau khi được cha Rua phê chuẩn các quyết định để gửi tới cha Markiewicz bằng thư (một bức thư không được lưu giữ), vị Kinh Lược lúc ấy đang sống tại Mogliano Veneto, đã viết những quyết định của mình trong một bức thư gửi cho linh mục quản hạt ở Rymanow ngày 14 tháng Tám năm 1897.[404] Nữ phải ở trong một tòa nhà riêng biệt; các thiếu niên không được sống trong nhà cha xứ nữa; cần có một chế độ ăn uống đa dạng hơn cho những thanh niên và tu sĩ; không nên có hơn hai mươi thiếu niên; không được mang trẻ nữ vào; cha Markiewicz cần chăm sóc giáo xứ, hai mươi cậu bé ở lại, và gửi những em khác đến nơi khác.[405]

Đối mặt với một tình thế quyết liệt như vậy, cha Mark Markicicz quyết định rời khỏi Tu hội của cha Rua và thành lập một Hội, theo như cha nghĩ, trung thành hơn với ý định ban đầu của Don Bosco. Ngày 29 tháng Mười Hai năm 1897, thư ký của Tu Nghị Bề trên đã viết trong biên bản: "Một báo cáo được đọc lên liên quan đến việc cha Markiewicz muốn tiếp tục ly khai khỏi Tu hội. Cha đã thực hiện một nghi lễ mặc áo cho các tư giáo và nhận lời khấn của vài thiếu nữ". Đó là tất cả.[406] Chúng ta có lá thư dài của Cha Markiewicz, ngày 28 tháng Mười Hai năm 1897, để hồi đáp Đức Giám mục Przemyśl, người đã hỏi cha lý do tách khỏi người Salêdiêng. Đây là những điểm chính: 1) Các người Salêdiêng đã thay đổi Quy luật nguyên thủy của họ, vốn dành vị trí nổi bật nhất cho khẩu hiệu "Làm việc và Tiết độ"; họ đang chăm sóc tầng lớp trung lưu và đã bỏ qua "người nghèo và bị bỏ rơi". 2) Họ đã trung ương hóa tập viện của họ. 3) Họ đã trung ương hóa việc quản lý tài chính có lợi cho người Ý. 4) Họ muốn Ý hóa những người Ba Lan đến với họ. 5) Đức Cha thấy xu hướng tương tự trong truyền giáo: "Ý hóa những quốc gia này, đặc biệt là Nam Mỹ, là mục tiêu chính của những người truyền giáo Salêdiêng, thay vì cải đạo những người bán khai". Kết cục là, "sau khi mệt mỏi tranh cãi suốt mười một năm, giờ con có thể thấy rõ ràng rằng vì con, vì tu viện của con, vì Ba Lan và vì Giáo hội, tách khỏi những người Salêdiêng Ý và thành lập một Tu hội riêng biệt vốn nắm giữ Quy luật nguyên thủy của Don Bosco quả là hữu ích hơn đối với con. Vì mục đích này, ngày 23 tháng Chín năm nay, con đã trình yêu cầu của con cho Đức Giám mục Przesmysl và cho Đức Thánh Cha".[407] Điều này đã chứng kiến ​​sự khởi đầu của Tu hội Làm việc và Tiết độ, và chính quyền dân sự sẵn sàng chấp thuận cho vị linh mục này.

Về phần mình Đức Giám mục không tin rằng ngài "cần phải phản đối ý tưởng thành lập một Tu hội theo tinh thần sơ khởi của Don Bosco, lấy cảm hứng từ những ví dụ tương tự trong lịch sử Giáo Hội", như chúng ta đọc trong biên bản của Tu Nghị Bề trên ngày 14 tháng Ba năm 1898 "Cha Rua trả lời rằng Markiewicz từ chối vâng phục sau khi chúng ta viết cho cha yêu cầu cha lập lại trật tự trong nhà của mình theo lời khuyên mà chính Đức Giám mục đã truyền đạt cho cha; rằng chúng ta không thể cho phép Tu hội mới này mang tên gọi của chúng ta; rằng chúng ta sẽ tháo cởi lời khấn của Markiewicz phù hợp với Quy luật chúng ta, và kết quả là ngài không còn chia sẻ những đặc quyền của chúng ta nữa". Hội đồng đó quyết định gửi cho Tổng Đại diện tại Rôma, Caesar Cagliero, một bản sao lá thư của Đức Giám mục và câu trả lời để ngài có thể trình bày cho Bộ lo về các Giám mục và Dòng Tu, có nghĩa là Tòa thánh.[408]

Thực thế, Cha Markiewicz đã nài nỉ Rôma, nhưng họ đã phớt lờ. Vào cuối lá thư dài gửi cho Đức Giáo Hoàng đề ngày 5 tháng Tư năm 1898, sau khi liệt kê những sự dè dặt của mình liên quan đến những gì cha gọi là "Tu hội Salêdiêng mới", cha viết:

..] Khi người vừa được nhắc đến [Cha Veronesi], trước tiên bằng lời nói sau đó bằng chữ viết, dưới sự vâng phục nhấn mạnh đến việc đưa vào những điều này [những tục lệ của Ý], do lương tâm thôi thúc, con đã ngừng liên lạc với các bề trên của cha ấy và thành lập một Tu hội riêng biệt đi theo Quy luật và sự tuân giữ nguyên thủy của Don Bosco, bởi vì, ngoài kỳ tĩnh tâm thường niên theo tinh thần của Thánh Ignatius Loyola, nhà Don Bosco ở Miejsce nổi bật rõ ràng so với những nhà khác Salêdiêng khác ở Ý, đặc biệt là vì học sinh của nó tỏ rõ những đức tính mà Don Bosco nhấn mạnh, như là làm việc và tiết độ, đặc biệt đối với khía cạnh tuyệt vời của sự tiết độ đó là sự khiêm nhường.

Người ký tên dưới đây có bốn tư giáo và bốn anh em khấn trọn với con và bốn mươi tập sinh. Con khiêm nhường cầu xin Đức Thánh Cha ban cho Tu hội này những đặc quyền mà Tòa Thánh đã ban cho Tu hội được Gioan Bosco đáng ghi nhớ sáng lập mà con là một người con và là kẻ bắt chước trung tín nhất.[409]

Cha Markiewicz đặt Hội của mình dưới sự bảo trợ của Tổng lãnh Thiên thần Micae. Đây là nguồn gốc của các Tu hội nam và nữ được biết đến với tên Michaelites, được Rôma công nhận sau khi vị Sáng lập của họ qua đời.

Trong sự kiện này, chúng ta quan tâm đến những cảm xúc của cha Rua hơn hết. Chúng ta biết những điều này trong các lá thư gửi cho Đức Giám mục Przemyśl vào năm 1897 và Đức Giám mục Solecki vào năm 1898. Ngày 19 tháng Mười Hai năm 1897, ngài chỉ loan báo rằng cha Markiewicz đã rời Tu hội Salêdiêng:

Đối mặt với sự bướng bỉnh cố chấp của ngài, sau khi kiên nhẫn chờ ba tháng để ngài rút lại, chúng con không thể làm gì khác ngoài việc tháo cởi [cho Cha Markiewicz] lời khấn của ngài và loại cha khỏi danh sách các thành viên của Tu Hội chúng con. Tuy nhiên, chúng con không muốn thực hiện bước cuối cùng này mà không thông báo trước cho Đức Cha và không được nghe ý kiến ​​của Đức Cha trước. Nếu Đức Cha đồng ý, bắt đầu từ bây giờ, từ lá thư này, chúng con đặt cha Markiewicz dưới quyền xét xử của Đức Cha và loại cha khỏi danh sách các thành viên của Tu hội chúng con.[410]

Ngày 27 tháng Ba năm 1898, theo sau một lá thư từ Đức Giám mục, được trích dẫn ở trên, và được xem xét tại cuộc họp của Tu Nghị Bề trên ngày 14, cha Rua đã gửi thêm một lá thư bằng tiếng Latinh, trong đó chứa đựng những lời phê bình chi tiết sau đây:

Xin chân thành cám ơn lá thư của cha, tràn đầy tính nhân văn và lòng tốt mà con vui mừng nhận được. Con sẽ không nói thêm nhiều về cha Bronisław Markiewicz; sự bất tuân và cứng đầu của ngài đã làm cá nhân con cũng như các bề trên khác đau khổ. Đức Cha biết rằng ngài đã lập một nhà cho các thiếu niên và thiếu nữ ở Miejsce vốn vi phạm luật lệ của Tu hội chúng con. Việc này nguy hiểm cho những thói quen tốt và do đó đi ngược lại ý muốn của con. Khi vị Kinh lược, cha Veronesi, người mà con phái đến Miejsce, đưa ngài tất cả các nhận xét và cảnh báo có liên quan, trong tinh thần bác ái và đưa ngài những chỉ thị theo mong muốn của chính Đức Cha; cha Markiewicz, đã trơ tráo giữ ý kiến ​​của mình, tự nhận rằng ngài là người duy nhất tuân theo Quy luật của Tu hội Thánh Phanxicô Salê và rằng tất cả các bề trên khác đã đi chệch khỏi con đường đúng đắn năm xưa. Thật là trơ tráo! Hay đúng hơn, thật là ngu xuẩn! Khi mọi người biết rằng không một dấu chấm phết nào được thay đổi trong Quy luật nhận được từ Đấmg Sáng lập đáng kính nhất của chúng con. Sự bất trung và bất tuân phục của một số ít không ảnh hưởng đến Quy luật. Vậy thì trước hết, mong cha Markiewicz thân yêu của chúng ta học cách vâng lời và khiêm nhường; thì ngài sẽ thấy rằng không có gì thay đổi trong Quy luật của chúng con. Theo Hiến Luật chúng con (Ch. II, điều 5), vì sự bất tuân và sự bỏ chạy nghiêm trọng như vậy, cha Markiewicz đã chính đáng bị loại khỏi Tu hội Thánh Phanxicô Salê, được xác nhận bằng bức thư này. Ngài trở về tình trạng linh mục triều đơn thuần, dưới quyền Đức Giám mục của ngài và sẽ không còn được hưởng các đặc quyền của Tu sĩ. Con tiến cử ngài cho Đức Cha, hy vọng ngài có thể là một cha xứ xuất sắc. Nhưng con sẽ không bao giờ cho phép ngài chiếm đoạt bằng bất kỳ cách nào danh xưng của người Salêdiêng và người cha Gioan Bosco tôn kính nhất của chúng con. Con sẽ dùng hết sức mình phản đối điều đó. Nếu ngài dự định lập một Tu hội, ngài có thể gọi nó theo tên Thánh Stanislaus Kotska hoặc Thánh Gioan Berchmans. Nhưng ngài không thể chiếm đoạt một danh xưng đã được biết đến, điều này sẽ tạo ra sự lẫn lộn rất lớn, chống lại ý kiến ​​của Đức Thánh Cha Lê-ô XIII, người đã cố hết sức hướng dẫn các Gia đình Dòng tu hợp nhất.

Dù bất xứng, con giao phó bản thân và Tu hội của con cho những lời cầu nguyện mạnh mẽ của Đức Cha.

Tôi tớ hèn mọn và tận tụy của Đức Cha,

Micae Rua, linh mục,

Bề Trên Cả của Tu hội Salêdiêng.[411]

Vào tháng Tư năm 1898, trong một lá thư mới được viết bằng tiếng Latinh gửi Đức Giám Mục, và được viết theo yêu cầu của Đức Giám mục Phụ tá Weber, cha Rua đã nhắc lại câu chuyện của cha Markiewicz ở Ba Lan một lần nữa.[412] Sao chép lại toàn bộ thì quá dài vì vậy tôi chỉ trích dẫn những than phiền mới về ngài. Bất chấp việc Quy luật cho phép điều này, cha Markiewicz đã cấm các người Salêdiêng vốn được gửi đến giúp ngài không được giãi bày những than phiền của họ với các bề trên của họ. Ngài tuyên bố rằng người Salêdiêng nắm giữ tiền thu được ở Ba Lan để sử dụng riêng cho họ, trong khi trên thực tế nó được dùng để huấn luyện các thanh niên Ba Lan trong các nhà tại Foglizzo, Ivrea hoặc Lombriasco. Ngôi nhà được nêu danh cuối cùng đây được công chúng gọi là ngôi nhà Ba Lan. Cha Rua kêu lên: "Tại sao phải ngạc nhiên khi các Cộng Tác viên Ba Lan nhận thức rõ ràng là họ đã giúp chúng con và chấp thuận việc sử dụng số tiền họ gửi cho chúng con!". "Gửi một số thanh niên này trở về chăm sóc lớp trẻ là không khả thi vì họ chưa học xong; nhưng mọi người đều biết đây là ý định của con". Bản thân ngài đích thân hỗ trợ người nhập cư Ba Lan đến Mỹ hoặc Anh: "Điều này đủ để bác lại sự phản đối của cha Markiewicz rằng cho đến bây giờ, người Salêdiêng đã không làm gì cho Ba Lan". Ngài kết thư, rõ ràng cay đắng về mọi thứ, với điều mà ngài coi là vấn đề nghiêm trọng nhất:

Xin Đức Cha đừng ngạc nhiên vì con phàn nàn về sự ly giáo này đã bị Cha Markiewicz gây ra cách đau đớn trong Tu hội chúng con, bởi sự bất tuân của ngài, và cách riêng sự trơ tráo của ngài khi vu khống toàn Tu hội như thể nó đã phản bội tinh thần ban đầu của mình. Nếu cha Markiewicz thực sự muốn phục vụ Thiên Chúa và làm việc để cứu rỗi các linh hồn một cách độc lập với các bề trên hợp pháp của mình, thì chiếm đoạt danh xưng Salêdiêng, hay gọi mình là một người con của Don Bosco, hay làm cho các linh mục Ba Lan và các giáo sĩ xa khỏi ơn gọi của họ quả là không đúng đối với ngài.

Thực vậy, thật đau buồn khi Cha Markiewicz, trong nhiều lá thư khác nhau, đã thúc giục những người Salêdiêng khác rời khỏi Tu hội để đến và tham gia với ngài. Một số người đã từ chối đề nghị này, nhưng một giáo sĩ tên là Orlemba, sau khi khấn, đã đến Miejsce và, để người này không cảm thấy có lỗi vì đã làm như vậy, Markiewicz bổ nhiệm ông làm giám đốc trường nội trú. Tư Giáo Orlemba chưa bao giờ được miễn chuẩn lời khấn của mình. Hãy để ngài đặt tên khác cho Tu hội của mình và không được phép làm các linh mục và giáo sĩ xa lánh ơn gọi của họ hoặc viết cho các Cộng Tác viên xin tiền, khi tạo ra nhiều lẫn lộn. Điều này đã xảy ra trong các lá thư ngày 2 tháng Tư vừa rồi khi ngài kêu gọi các linh mục dâng lễ theo ý chỉ của ngài và gửi tiền cho cái mà ngài gọi là "Nhà Don Bosco".

Quỳ dưới chân Đức Cha, con phó mình cho những lời cầu nguyện sốt mến của Đức Cha, cho cá nhân con và Tu hội mà con dẫn dắt, dẫu con bất xứng.

Vị Tổng Thỉnh viên cho Án phong thánh của cha Markiewicz nói với tôi: "Có một sự thiếu hài hòa giữa hai vị Thánh". Chắc chắn như vậy, khi thấy rằng Giáo hội, bằng cách công nhận bản chất anh hùng của các nhân đức của các ngài, đã phong thánh cho cả hai, Micae Rua vào năm 1972, Bronisław Markiewicz vào năm 2005 ... Nhưng chúng ta cần thú nhận rằng vào năm 1897 và 1898, người đau khổ nhiều nhất trong "cuộc chiến giữa hai vị thánh" chắc chắn là cha Rua chúng ta. Cơ sở đầu tiên trên đất Ba Lan khiến ngài đau khổ cực kỳ. Ngài rất thận trọng khi bắt chước Don Bosco, trung thành theo bước chân ngài. Công khai cáo buộc ngài thiếu trung tín với Vị Thày của ngài, khi tưởng tượng xem có một phiên bản nghiêm nhặt hơn của Quy Luật nguyên thủy, một thứ gì đó thực tế chưa bao giờ tồn tại, và do đó tạo ra một luồng đối kháng, nếu không phải là một sự chia rẽ thực sự trong Tu hội: tìm ra một hình thức tra tấn tinh tế hơn quả là khó khăn.

Vào năm 1898, cơ sở mới, chắc chắn là cứng rắn nhưng thành công, nhà ở Oświęcim là dầu thơm làm dịu nỗi đau trong tim ngài.[413] Miejsce có thể bị lãng quên, Oświęcim chiếm vị trí nổi bật nhất trong số các công cuộc Salêdiêng ở Ba Lan.

Chú thích

[385] Về nguồn gốc của sứ vụ Salêdiêng ở Oran, x. Oran Dossier, 1890-1892, in FdR 3517A11-3518A6. Cũng xem bài tường thuật trong Annali II, 306-312.

[386] Theo Don Bosco à Paris, par un ancien magistrat, Paris, 1883, 108-111.

[387] FdR 3758C9-10

[388] Thư của Cha Albera gửi M. Rua, Marseilles, ngày 22 tháng Mười, 1889, trong FdR 3676B2-4.

[389] FdR 3517B8-10.

[390] FdR 3517E5-7.

[391] C. Beissière, Cinquante ans d'apostolat en Afrique du Nord, Tunis, 1941, 21.

[392] Cf. «Les Salésiens en Afrique», in Bulletin Salésien, tháng Mười Một, 1891, trg. 179-181, khi thư của Cha Bellamy được in lại.

[393] Về nguồn gốc của nhà Oran, x. Bài báo dài của Charles Bellamy, «Les Oeuvres salésiennes d'Oran», trong Bulletin Salésien, tháng Tư năm 1899, 97-107.

[394] Thư mục Bronisław Markiewicz quan trọng. Ở đây tôi chỉ tham khảo những tài liệu và bài tường thuật ít nhiều liên quan trực tiếp đến ngài: Văn khố Salêdiêng ở Rôma, đặc biệt là: FdR 4206B2-4209A5; Congregatio de Causis Sanctorum, Premislien. Latinorum Canonizationis Servi Dei Bronislai Markiewicz, Positio super vita et virtutibus, Rome, 1990; Id., Premislien. Latinorum Beatificationis et Canonizationis Servi Dei Bronislai Markiewicz... Relatio et Vota congressus peculiaris super virtutibus die 30 novembris an. 1993 habiti, Rôma, 1993; Maria Winowska, Aux portes du Royaume. Père Bronislaw Markiewicz, curé de paroisse et fondateur des Michaélites, nouvelle édition, Paris, Téquy, 1994; Mariano Babula, P. Bronislao Markiewicz, fondatore della Congregazione di San Michele Arcangelo, Rome, 2000.

[395] Positio super vita et virtutibus, 61.

[396] Tài liệu trong Positio super vita et virtutibus, 53-57.

[397] Thư tiếng Latinh được xuất bản trong Positio super vita et virtutibus, 64.

[398] Xem những thư của ngài ngày 23 tháng Mười Một và ngày 21 tháng 12, 1891, trong FdR 4207C11-D4.

[399] Xem những thư gửi Đức Giám mục Solecki, ngày tháng Giêng, 1892, trong FdR 4207E8-9; và những thư làm chứng ghi cùng ngày, trong FdR 4207E6.

[400] Xem có thể những lời chứng của L. Bialoczynski and W. Michulka, trong Positio super vita et virtutibus, 72-75.

[401] Bolletino Salesiano, tháng Giêng, 1895, 3.

[402] Thư của G. Marenco gửi B. Markiewicz, ngày 21 tháng Chín năm 1896, trong Positio super vita et virtutibus, 76-77.

[403] Biên bản Tu Nghị Bề trên, ngày 23 tháng Mười Một, 1896, trong FdR 4242A9.

[404] Bản đánh máy, ASC, dossier Markiewicz.

[405] Xem cũng thư của B. Markiewicz gửi Đức Giám mục T. Lekawski, được trích trong Positio super vita et virtutibus, 82.

[406] Biên bản Tu Nghị Bề trên, ngày 29 tháng 12, 1897, trong FdR 4242C2.

[407] Thư của B. Markiewicz gửi Đức Giám mục Przemyśl, Miejsce, ngày 28 tháng 12, 1897, được đưa cho tôi và được dịch bởi Tadeusz Jania, Krakow.

[408] Biên bản Tu Nghị Bề trên, ngày 14 tháng Ba, 1898, trong FdR 4242C4.

[409] Tài liệu được cung cấp bởi Tadeusz Jania, Krakow.

[410] Trích dẫn trong Positio super vita et virtutibus, 83.

[411] Bản sao tiếng Latinh trong FdR 4207E10-12.

[412] Bản thảo sao chép cho là vào tháng Tư, 1898, trong FdR 4208A8-B3.

[413] Về cơ sở thành lập ở Oswiecim, xem Annali II, 679-685.


FMA Logo

Địa chỉ: 57 Đường số 4, Khu phố 56, P. Tam Bình, TP. Hồ Chí Minh

Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về email: libraryfmavtn@gmail.com

Liên Kết

Truyền Thông FMA

Copyright Dòng Con Đức Mẹ Phù Hộ © 2026