FMA Logo

20. Salêdiêng phát triển ở Châu Mỹ



Sự hăng hái của Cha Rua đối với truyền giáo

Đại hội Bologna đã làm cho Truyền giáo Salêdiêng thành một trong những chủ đề chính của nó. Về phần mình, cha Rua không bao giờ ngừng khuyến khích những người Salêdiêng yêu mến việc truyền giáo mà Don Bosco đã khởi xướng năm 1875. Những nỗ lực của ngài đã được đền đáp, và ngài không gặp vấn đề gì trong việc tìm các tình nguyện viên cho những cuộc hành trình truyền giáo mới mà thực tế mỗi năm đều lên đường trong suốt thời gian ngài đương nhiệm.[347] Để có một số ý tưởng nào đó về các điều kiện mà họ phải đối mặt, nghĩ đến phương tiện giao thông và truyền thông được cách mạng hóa như thế nào từ thời của họ cũng đủ thấy: không máy bay, không đài phát thanh, không thư điện tử. Họ đã hoàn toàn bị cô lập, thường trong những khoảng thời gian dài. Thư từ mất ít nhất cả tháng để vượt Đại Tây Dương. Do đó, cha Rua đã làm tất cả những gì có thể hầu bảo đảm cho những người truyền giáo khi lên đường được chuẩn bị tốt cho một chuyến phiêu lưu như vậy.

Tại Nguyện xá ở Turin, trước buổi lễ chia tay truyền thống tại nhà thờ Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu, Cha Rua có tục lệ quy tụ họ lại với nhau trong nhà nguyện nhỏ kế bên phòng của Bosco. Ở đó, ngài thôi thúc họ trở thành những người con xứng đáng của người cha Don Bosco bởi lòng nhiệt tình, tình yêu và sự tuân giữ tu trì của họ; sau đó nhân danh ngài, Don Rua chúc lành cho họ. Dù đôi khi họ là một nhóm lớn, ngài vẫn chọn quy tụ họ ở đó, hơn là trong nhà thờ, để ngài có thể nói chuyện thân tình với họ, như một người cha ngỏ với con cái mình. Vào cuối Thánh Lễ sai đi truyền giáo trong nhà thờ, họ sẽ lần lượt đến ôm hôn ngài: chính lúc đó ngài sẽ thì thầm lời trìu mến cuối cùng với từng người, một lời họ sẽ nhớ mãi.

Một khi họ đã ra đi, như thể ngài không bao giờ không thấy họ. Trên hết, những bài tường thuật chi tiết về hành trình của họ là rất quý đối với ngài. Điều này thể hiện rõ từ những dòng mở đầu của một bức thư dài không thể tin được của Bernardo Vacchina, được viết từ Rawson, kể về chuyến thăm của ông tới người da đỏ Tehuelches vào tháng Mười Một -12 năm 1895: “Cha rất thân mến, ao ước của cha là những người con của cha trong Chúa Giêsu Kitô phân tán khắp nơi tại những điểm truyền giáo khác nhau ở những nước bán khai, luôn gửi cho cha một bản tường thuật chi tiết về hành trình tông đồ của họ và kết quả họ đạt được ... ”.[348]

Đích thân Cha Rua viết thư cho họ khá thường xuyên ngay cả khi chính ngài cũng đang đi công tác, đặc biệt là với những người có trách nhiệm như các giám tỉnh và tập sư. Ví dụ như tôi đã tìm thấy nội trong năm 1890 ngài đã viết tám lá thư (tất cả vẫn còn được lưu giữ) cho Cha Giuse Vespignani, tập sư ở Argentina, lá thứ nhất vào tháng hai từ Nice, lá thứ hai từ Brussels, lá thứ ba từ Turin, một lá khác từ San Benigno, và lá cuối cùng vào tháng mười một từ Turin. Thực thế, những lá thư thật sự của ngài gửi tới cá nhân những người truyền giáo khá hiếm: thông thường, để tiết kiệm thời gian và phí bưu điện, ngài sẽ gom các gói đồ những ghi chú ngắn mà sau đó chúng được hồ hởi đón lấy và giữ gìn cẩn thận. Ngài cố hết sức đóng góp bất cứ khi nào những người truyền giáo xin tiền. Cha Cagliero làm chứng rằng khi ngài ở Patagonia, cha Rua cố hết sức quảng đại đáp lại lời xin giúp đỡ của cha (Cagliero). Ngài cũng làm như vậy đối với Đức Giám mục Fagnano, công việc tông đồ dầy đặc của ngài thường đặt ngài vào tình cảnh rắc rối tài chính nghiêm trọng. Cha Rua muốn làm phần vụ của mình để lan truyền Nước Chúa trong những vùng lãnh thổ xa xôi này.

Nam Mỹ

Khi Don Bosco qua đời, Tu hội có hai tỉnh dòng ở Nam Mỹ: Argentina/Chile và Uruguay/Brasil, liền tiếp theo sau là Ecuador. Hoạt động truyền giáo của Tu hội được gọi đúng đắn như vậy được thực hiện trong hai khu vực của giáo hội vừa mới được Tòa Thánh thiết lập: một Khu Đại Diện Tông Tòa gồm miền bắc và trung Patagonia, và một khu Phủ doãn Tông tòa gồm miền nam Patagonia và Tierra del Fuego. Trong thời gian Cha Rua là Bề Trên Cả và với sự khuyến khích khôn ngoan của mình, những người Salêdiêng đã tiến vào bảy quốc gia mới ở vùng nam và trung Mỹ châu: Colombia (1890), Peru (1891), Mexico (1892) Venezuela (1894), Bolivia và Paraguay (1896) và cuối cùng là El Salvador (1897)

Colombia. Công cuộc mạo hiểm ở Agua de Dios

Colombia đứng đầu danh sách, theo các yêu cầu lặp đi lặp lại từ cả Chính phủ lẫn Tòa Tổng Giám mục của thủ đô Bogota: những yêu cầu không chỉ gởi đến Turin mà còn đến cả Rôma.[349] Bogota cần những người Salêdiêng, dù có khó khăn đến mấy. Đây là nguyên nhân khiến cha Rua thấy bối rối nào đó. Năm 1889, vẫn chịu áp lực từ sự khăng khăng của Đức Giáo Hoàng không thiết lập bất kỳ dự án mới nào, ngài bị tổn thương sâu sắc bởi một lá thư từ Đức Hồng y Bảo trợ Parocchi đề ngày 30 tháng ba, ngài viết: “Tôi vừa đến tiếp kiến Đức Thánh Cha, tôi lấy làm buồn khi nghe những người Salêdiêng thân yêu của tôi vô tình xúc phạm đến Đức Giáo Hoàng. Đức Thánh Cha rất thiết tha mong những người Salêdiêng nhận lời đề nghị mở một nhà mới ở Colombia, nhưng Hội Dòng không sẵn lòng. Tôi có thể hiểu các vấn đề khi phải đối mặt với việc thành lập một cơ sở mới, do thiếu nhân sự và nhiều nhu cầu khác cần được đáp ứng, nhưng cha phải thuận theo mong muốn của Đức Giáo Hoàng. Mặc dù dường như ngài đang yêu cầu điều không thể, hãy tiếp cận nó với đức tin có thể chuyển núi dời non.” Cha Rua lập tức trả lời cho Đức Hồng y Parocchi: “Cha không thể tưởng tượng được tin này làm con đau đầu thế nào. Con sẽ cho cha biết tình thế ngay tức thì.” Người Salêdiêng từ chối mở một nhà ở Colombia thật không đúng. Kể từ tháng Năm năm trước, họ đã làm việc trên một thỏa thuận về chính vấn đề này với một đại diện của chính phủ Colombia. Điểm mắc kẹt là ông ấy muốn những người Salêdiêng có mặt ở đó vào tháng Giêng năm 1890, trong khi những người Salêdiêng “đề nghị năm 1891.”[350] Nhiều buổi thảo luận hơn đã diễn ra. Vị đại diện chính quyền Colombia đã có mặt tại cuộc họp của Tu Nghị Bề trên cuối tháng Tư năm 1889. Đức Lê-ô XIII tiếp tục cố nài. Cuối cùng, cuộc viễn chinh truyền giáo của người Salêdiêng đi Colombia đã lên tàu từ St. Nazaire vào ngày 10 tháng Giêng năm 1890 dưới sự lãnh đạo của cha Micae Unia, một linh mục bốn mươi tuổi. Cùng lúc đó ở Chilê, Cha Evasio Rabagliati đã nhận được chỉ thị đóng hành lý và trở thành Giám đốc của ngôi nhà mới ở Bogota.

Việc truyền giáo ở Colombia mang đặc tính ngoại lệ do công việc của cha Unia tại Agua de Dios.[351] Người ta cho ngài biết có một ngôi làng biệt lập cách Bogota hai hay ba ngày đường, nơi có mấy trăm người phong hủi sống hoàn toàn bị cô lập về vật chất và tinh thần. Thậm chí không được mở những lá thư họ gửi vì sợ bị lây bệnh. Khi đọc Tin mừng kể về mười người phong hủi được Đức Kitô chữa lành, Unia cảm thấy được kêu gọi phục vụ những con người không may này, bị mọi người từ chối, với sự giúp đỡ nhỏ giọt của chính quyền, và không có linh mục nào lo mục vụ cho họ. Cha ​​Rabagliati, giám đốc của ngài, sẵn sàng để ngài đi, miễn là Cha Rua đồng ý. Unia giải thích mong muốn của mình với cha Rua trong một bức thư ngày 18 tháng Tám năm 1891. Trong khi đó, Đức Tổng Giám mục Bogota đã chúc lành cho một việc mạo hiểm mà ai nấy đều cảm thấy đầy hoài nghi.

Đối với những người phong hủi, việc cha Unia đến ở giữa họ giống như một thiên thần từ trời xuống. Họ không thể tin vào mắt mình. Tất cả những người khỏe mạnh, đàn ông, phụ nữ và trẻ em, vây quanh ngài và bắt đầu nhảy múa vui mừng. Sau đó ngài đi vào phòng bệnh phong để thăm những người không thể đứng dậy. Người họ đầy những vết lở loét ghê tởm từ đầu đến chân. Một số không còn trông giống như con người nữa. Bất chấp mọi lời khuyên đừng bao giờ chạm vào họ, và một sự ghê tởm dễ hiểu, Unia thậm chí còn ôm lấy họ. Tòa Tổng Giám mục bổ nhiệm ngài làm cha tuyên úy cho làng Agua de Dios. Ngày 28 tháng Tám, Unia lại viết cho cha Rua, tuyên bố ngài sẽ ở lại đó bất kể rủi ro gì. Tuy nhiên, có vẻ như cha Rua không muốn việc tông đồ ngoại thường này tiến tới. Thực tế là, những lá thư của cha Unia đã bị ngăn trở nơi nào đó trên Đại dương, một lá từ Bề Trên Cả chỉ thị ngài đến Mexico làm Giám đốc một nhà mới ở đó. Cha Unia đã phục tùng, nhưng những người phong hủi, trong một bức thư gửi cha Rua ngày 17 tháng Mười và mang năm mươi bốn chữ ký, đã trút hết nỗi đau khi nhìn thấy linh mục của họ rời bỏ họ, và cầu xin ngài đừng tước đi niềm an ủi tuyệt vời mà cha Unia đã mang đến cho họ.

Thực vậy, cha Unia đã bỏ lại những người phong hủi vào ngày 25 tháng Mười Một giữa những tiếng khóc than của tất cả những con người buồn sầu đó. Các nhà chức trách ở Bogota được báo động: họ gửi điện tín cho Turin và Rôma yêu cầu cha Rua rút lại quyết định của mình. Trong thực tế, điều này đã xảy ra rồi. Ngài đã trả lời cho cha Unia từ ngày 13 tháng Mười, nói rằng: “Tôi rất mãn nguyện với quyết tâm quảng đại của cha, hy sinh bản thân vì lợi ích của những người phong hủi. Tôi hoàn toàn chấp thuận, và tôi cầu xin Chúa ban cho cha những phúc lành trọng đại nhất và dồi dào nhất. Cha sắp sửa hy sinh sự sống mình; vì thế, tôi xin chào mừng cha. Tuy nhiên, tôi đề nghị cha nên hết sức cẩn trọng để tránh cho bản thân không mắc phải căn bệnh khủng khiếp này, hoặc ít nhất là trì hoãn để không bị nó tấn công đến mức tối đa. Có thể một người Salêdiêng khác, theo gương của cha, sẽ sửa soạn tham gia cùng cha và làm việc sát cánh với cha trong mọi nhu cầu thiêng liêng và vật chất. Mặc dù cha đang sống giữa những người phong hủi, chúng tôi vẫn coi cha là người anh em Salêdiêng thân thiết của chúng tôi. Hơn thế nữa, chúng tôi xem Agua de Dios là thuộc địa Salêdiêng mới và chúng tôi muốn giúp những người bệnh đó bằng mọi cách có thể. Điều này sẽ cho chúng tôi sự mãn nguyện tuyệt vời. Giờ đây tôi xin ngừng bút. Xin cho chúng tôi gửi họ lời chào trìu mến và bảo với họ rằng chúng tôi yêu thương họ rất nhiều và chúng tôi cầu nguyện cho họ.”[352]

Cha Unia làm công việc của mười người cho những người phong hủi thân yêu của mình. Ngài đã xây dựng một căn nhà cho trẻ em, lập quỹ cho một bệnh viện mới, trùng tu nhà thờ, đặt ống dẫn nước uống từ một ngọn đồi gần đó, tổ chức các lễ hội tôn giáo và khuyến khích âm nhạc. Bốn năm làm việc cật lực cuối cùng làm ngài kiệt sức. Ngài trở về Ý để phục hồi sức khỏe nhưng đã qua đời tại đó ngày 9 tháng Mười Hai năm 1895 lúc 45 tuổi.

Qua nhiều năm công trình của người Salêdiêng ở Colombia đã trở nên trải rộng hơn. Sau khi thành lập trường kỹ thuật ở Bogota, được gọi là trường Cao đẳng Lê-ô XIII, vào năm 1892 người Salêdiêng được giao trách nhiệm cho một giáo xứ ở Baranquylla, một cảng biển nổi tiếng ở Antilles. Năm 1893, một nhà tập được mở, đầu tiên tại Fontibon, sau đó được chuyển đến Mosquera. Các dự án bắt đầu trong những đồng bằng rộng vùng San Martin, trong vùng Amazon ở phía đông nước này, nhưng cuộc cách mạng năm 1895 và việc thiếu nhân sự ngăn cản bất kỳ bước tiến nào xa hơn những bước khởi đầu thăm dò ấy. Tại Agua de Dios, hai người Salêdiêng, Crippa và Variara, đã tiếp quản và phát triển công việc do cha Unia khởi sự. Tỉnh Dòng Colombia được thành lập năm 1896. Để phát triển nông nghiệp, một trường học được thành lập tại Ibagué vào năm 1905. Dưới thời cha Rua, Tỉnh Dòng Columbia đã vững vàng tiến bước, bất chấp những biến động chính trị đặc thù của lục địa đó vốn luôn gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho công cuộc được chính phủ đương thời hỗ trợ.

Những người Salêdiêng được thành lập ở Peru

Tòa Thánh bày tỏ mối quan tâm sâu sắc khi thấy những người Salêdiêng được thành lập ở Peru, như trường hợp của Colombia. Tháng Ba năm 1890, Đức Hồng y Rampolla thông báo cho cha Rua rằng Đức Lê-ô XIII muốn người Salêdiêng được gửi đến thủ đô Lima sớm bao có thể để đảm nhận việc chăm sóc giới trẻ. Mong muốn tránh lặp lại những tranh cãi ở Colombia, Cha Rua trả lời rõ ràng với Đức Hồng y: "Cha có thể bảo đảm với Đức Thánh Cha rằng chúng con sẽ làm mọi thứ có thể để đáp ứng những mong ước đáng kính của ngài". Tuy vậy các nhà đàm phán cần một ít thời gian.

Văn bản hợp đồng bộc lộ rõ sự hợp tác chặt chẽ giữa các chính phủ Nam Mỹ và Tu hội Salêdiêng. Ngày 6 tháng Sáu, Tu Nghị Bề trên đã sửa đổi nhiều điểm trong một dự án do người Peru đề xuất. Chính phủ Peru chấp nhận chúng. Ngày 25 tháng Bảy, Charles Elias, Bộ trưởng toàn quyền của Peru tại Ý, đã có mặt tại Nguyện xá Turin dự một buổi họp (của Bề trên) để thảo luận về việc thành lập một viện mồ côi cho thiếu niên ở Lima. Trong bản tuyên bố tán thành, chúng ta đọc thấy:

“Với mục đích từ thiện là cung cấp sự dạy dỗ và giáo dục Kitô giáo cho lớp trẻ nghèo và bị bỏ rơi ở thành phố và tỉnh Lima, thỏa thuận sau đây đạt được giữa Bộ trưởng chính phủ và cha Micae Rua đáng kính: 1. Về phần mình, chính phủ sẽ cấp chủ quyền tuyệt đối hoặc sử dụng vĩnh viễn một ngôi nhà và tất cả những phần phụ của nó: sân chơi và khu vườn đủ lớn để phục vụ cho ít nhất ba trăm người trẻ. - 2. Chính phủ sẽ cung cấp tất cả đồ nội thất và thiết bị cần thiết cho nhà ngủ, xưởng thợ, lớp học, nhà bếp, nhà ăn vv, và vải vóc thích hợp. - 3. Họ cũng sẽ cung cấp các phẩm phục và băng ghế cho nhà nguyện, hoặc, ngoài các tài sản phù hợp, như dưới đây, khoản tiền 50.000 lire để thiết lập nó. (Trên thực tế, sự chọn lựa thứ hai này, là điều người Salêdiêng thích hơn.) - 4. Trong mười năm chính phủ cung cấp chi phí đi lại ban đầu của mỗi thành viên trong nhóm điều hành được chỉ định cho trại trẻ mồ côi. - 5. Cha Rua cam kết trong vòng năm (để trống) mở một trường huấn nghệ, cũng như các lớp giáo dục tiểu học và trung học cho các ứng sinh phù hợp. - 6. Giám đốc nhà mồ côi, với vai trò là đại diện của cha Rua, sẽ có quyền tự do hướng dẫn từng người trẻ trong việc học nghề hoặc văn hóa. - 7. Giám đốc sẽ được trao toàn quyền tự do chịu trách nhiệm quản trị và kỷ luật của viện. - 8. Những em trai được chính phủ giới thiệu sẽ ưu tiên được nhận, miễn là các em có độ tuổi từ mười đến mười bốn, sức khỏe tốt và thể chất không có bất kỳ bất thường thể lý nào. - 9. Chính phủ sẽ cung cấp cho mỗi em được giới thiệu khoản tiền 40 đồng vàng một tháng. Nếu một trong các em biểu hiện hành vi xấu, trở thành cớ vấp phạm cho các bạn đồng trang lứa, hoặc bị khổ sở với chứng bệnh mãn tính hoặc truyền nhiễm nào đó, chính phủ sẽ rút tên em ra ngay khi được Giám đốc thông báo. - 10. Bản hợp đồng này có giá trị trong năm năm, và sẽ được coi là hợp lệ thêm năm năm nữa, trừ khi có một bên thông báo trước hai năm trước khi nó hết hiệu lực.”[353]

Các nguyên tắc Don Bosco thiết lập được cha Rua theo dõi chặt chẽ: tìm nguồn hỗ trợ từ xã hội dân sự, nhưng người Salêdiêng tự do tuyệt đối trong việc giáo dục giới trẻ.

Cha Angelo Savio đã dọn đường cho người Salêdiêng hiện diện tại đất nước này thông qua các mối liên hệ với một hội từ thiện ở Lima. Cuối năm 1891 ba người Salêdiêng và chín người Con Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu đến thủ đô. Viện mồ côi khởi đầu là một trường dạy nghề, và Cha Antôn Riccardi, trước đây làm việc tại Argentina, là giám đốc đầu tiên. Không lâu sau, một Nguyện xá được hình thành kế bên. Hội từ thiện Lima giao một trường dạy nghề cho các Nữ tu; vào năm 1896, sau khi hoàn thành năm năm đầu tiên, Thượng viện Peru đã phê chuẩn việc thành lập thêm các trường Salêdiêng. Cuộc cách mạng ở Ecuador đã dẫn đến việc trục xuất một số người Salêdiêng, những người này vì vậy không bị vướng bận để có thể mở thêm hai ngôi nhà mới: một trường nông nghiệp tại Arequypa vào năm 1897 và một trường cao đẳng tại Callao năm sau. Trong mười năm tiếp theo (1905 và 1906), các thị trấn người da đỏ Cusco và Piura cũng thấy những người Salêdiêng hiện diện.

Công việc mạo hiểm ở Ecuador

Từ khi người Salêdiêng đến thủ đô Quito ngày 28 tháng Giêng năm 1888, công cuộc Salêdiêng ở Ecuador phát triển. Ngôi nhà ở Quito có tổng cộng mười bốn xưởng thợ, tất cả đều hoạt động hết công suất và từ đầu những năm chín mươi chính quyền tổng thống bắt đầu tỏ hiện mối quan tâm đặc biệt đến chúng. Các trung tâm khác theo sau: Diorama (1891), Cadence (1892), và một nhà tập được mở tại Angelique. Năm 1894, Cha Rua thấy lập ra Tỉnh Dòng Ecuador là điều phù hợp và ngài bổ nhiệm cha Lu-y Calcagno (1857-1899) làm Cha Giám tỉnh đầu tiên.

Cùng khoảng thời gian đó, Tòa Thánh đã đề nghị với Tu hội một sứ vụ quan trọng ở phía đông nước này, nơi mà dân cư được tạo thành từ các bộ lạc Da Đỏ bán khai.[354] Ngày 26 tháng Ba năm 1889, một lá thư đã được đọc cho Tu Nghị Bề trên từ Thư ký của Bộ lo về các sự vụ ngoại thường diễn đạt mong muốn người Salêdiêng nhận trách nhiệm đối với Đại diện Tông Tòa mới ở Mendez và Gualaquyza. Ngày 6 tháng Chín sau đó, Đức Hồng y Rampolla đã nói rõ ràng với cha Rua: “Ngài Flores, Chủ tịch nước Cộng hòa Ecuador, gần đây đã viết thư cho tôi yêu cầu rằng Toà Thánh nên giao sứ vụ Mendez và Gualaquyza cho các linh mục của Tu hội xứng đáng mà cha, vị linh mục đáng kính, là Bề trên. ”

Yêu cầu được chấp nhận. Năm 1892, cha Angelo Savio đã được phái đi thăm khám phá. Đáng buồn thay, ngài đã mất ở đó ngày 17 tháng Giêng do viêm phổi vì ngủ ngoài trời trong một đêm lạnh khác thường. Tại Turin cha Rua chờ một cơ hội tốt cho đến khi văn kiện từ Bộ lo về về các sự vụ ngoại thường đến vào ngày 8 tháng 2, thông báo việc thành lập Đại diện Tông Tòa mới và các ranh giới địa lý chính xác của nó. Địa điểm của nó gần Cuenca, nơi một ngôi nhà vừa được mở ra, rất tiện cho ngài. Lần này, chuyến thăm khám phá Gualaquyza được giao phó cho Giochino Spinelli (1868-1949), một linh mục trẻ, và Giacinto Pankeri (1857-1947), một sư huynh. Họ khởi hành chuyến đi kéo dài ba mươi sáu ngày, đưa họ đến vào đầu tháng Mười năm 1893. Bất chấp mọi rắc rối, một sứ vụ với một trường kỹ thuật nhỏ đã sớm được thiết lập tại Gualaquyza, mặc dù nó ở trong tình trạng hoàn toàn tệ hại. Các xưởng thợ, lớp học, nhà nguyện, và thậm chí cả ngôi nhà không khác gì những túp lều bằng gỗ với mái rơm thô sơ.

Tuy nhiên, năm 1894, Flores, Tổng thống Cộng hòa đã xin Tòa Thánh cho cha Giacôbê Costamagna, người Salêdiêng mà ông đã biết và quý trọng ở Quito, và hiện tại là Giám tỉnh ở Argentina, được đặt làm vị Đại diện Tông tòa của Mendez và Gualaquyza.[355] Cha Rua không lãng phí thời gian để lo liệu "bài sai" cần thiết. Ngày 3 tháng 12, Costamagna chia tay tất cả mọi người tại trường cao đẳng ở Almagro; vào ngày Giáng Sinh, ngài đã ở Nguyện xá tại Turin.[356] Trong một buổi họp riêng ngày 18 tháng Ba năm 1895, Đức Lê-ô XIII phong cho ngài tước hiệu Giám mục của hiệu tòa danh dự Colonia ở Armenia, và ngày 23 tháng Năm, tại nhà thờ Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu, Đức Tổng Giám mục Turin Riccardi, đã tấn phong ngài làm Giám mục, với hai Giám mục phụ tá phụ phong. Như vậy, sau Đức Giám mục Gioan Cagliero và Đức Giám mục Lu-y Lasagna, ngài trở thành vị Giám mục Salêdiêng thứ ba. Thật không may, vị Đại diện Tông Tòa của Mendez và Gualaquyza này, vốn được mọi người háo hức đợi chờ trên lãnh thổ, đã được tấn phong tại một thời điểm diễn ra bất ổn chính trị nghiêm trọng ở Ecuador, và là người được bổ nhiệm qua ảnh hưởng của Tổng thống Flores, ngài bị xem là persona non grata/nhân vật không được hoan nghênh.

Thực vậy, các vấn đề nảy sinh với tất cả những người Salêdiêng ở Ecuador trong cuộc cách mạng tự do năm 1895. Ở quốc gia đó 'tự do' cũng có nghĩa là 'chống giáo sĩ'. Bạn bè của chính phủ trước giờ bị coi là kẻ thù của chế độ mới. Vào năm 1896 thảm họa xảy ra. Bị cáo buộc tham gia vào các hoạt động chống chính phủ, những người Salêdiêng bị bắt và nhà của họ bị trưng dụng. Chín tu sĩ, bao gồm cha Giám tỉnh Calcagno, phải chịu một cuộc hành trình khủng khiếp đến biên giới Peru. Thử thách của họ kéo dài bốn mươi ngày và khiến họ chết nhiều hơn sống.[357]

Được báo động về tình hình, cha Rua đã tìm sự can thiệp của Bộ trưởng Ngoại giao Ý, Visconti-Venosta, người đã gửi một lá thư đến lãnh sự Ý tại Guayaquyl ở Ecuador, và cũng đến Lãnh sự toàn quyền tại Lima, Tư lệnh Castelli, tìm thông tin chính xác và yêu cầu can thiệp vì các Salêdiêng, tất cả đều là công dân Ý. Việc này đã gây ra một màn náo động trong quan hệ ngoại giao, nhưng chúng tôi sẽ tránh cho độc giả mọi chi tiết về sách lược. Cha Giám Tỉnh Salêdiêng, Calcagno, trình bày trường hợp của mình, và từ đầu năm 1897 toàn bộ vụ việc dường như đã làm sáng tỏ. Nhưng rốt cục việc này chẳng hơn gì một ảo tưởng. Vào tháng chín, cha Rua lại gây áp lực với Bộ trưởng Ngoại giao Ý để có được một phán quyết chính thức từ chính phủ Ecuador. Giacinto Pankeri, Sư huynh Salêdiêng, người đã ở lại nơi đó, đã cố gắng hết sức để bảo vệ tài sản của người Salêdiêng ở Quito. Bộ trưởng Ý đã chọn cách chuyển giao cho bộ trưởng Tây Ban Nha mọi trách nhiệm bảo vệ lợi ích của người Salêdiêng trước chính phủ ở Quito. Ngày 29 tháng Ba năm 1898, chính phủ đã thỏa thuận với Pankeri để thành lập một ủy ban trọng tài. Công việc của ủy ban này tiếp tục cho đến năm 1902 ...[358]

Tuy nhiên, trong khi đó, công việc của người Salêdiêng nói chung lực đẩy ở Ecuador, nhờ các Cộng Tác viên mạnh dạn ở Quito hỗ trợ, những người đã không hề cam chịu nhìn thấy công việc của mình bị đàn áp.[359]

Mexico

Tháng Mười năm 1892, cha Rua quyết định gửi một nhóm người Salêdiêng tiên phong đến Mexico, nơi họ đã được mong đợi ít nhất bốn năm rồi.[360] Ngày 12 tháng Năm năm 1887, khi Don Bosco ở Rome để cung hiến Thánh đường Thánh Tâm, ngài đã tiếp một nhóm học sinh từ một trường cao đẳng Nam Mỹ đến thăm. Một số người trong đám ấy hỏi ngài khi nào người Salêdiêng sẽ đến Mexico. Ngài nói với họ: “Cha không phải là người sẽ gửi người Salêdiêng đến Mexico; người kế nhiệm của cha sẽ làm điều cha không thể. Các con có thể chắc chắn về điều đó.” Cha Rua đã lo việc này.

Sau khi Don Bosco qua đời, danh thơm của người Salêdiêng ở Nam Mỹ lan rộng đến tận Mexico, nhiều đến mức ngày 23 tháng Sáu năm 1889, bảy thành viên của Nhóm Công giáo Mexico, háo hức muốn xem đất nước của họ có thể tận dụng lợi thế của một nhóm đầy hứa hẹn như vậy; họ đã họp lại để nghiên cứu cách tốt nhất biến điều này thành hiện thực. Một trong số các thành viên cho mọi người biết rằng ông là một Cộng Tác viên Salêdiêng, và thế là cả nhóm quyết định đăng ký vào Hiệp Hội này. Một ủy ban hành động được Angel G. de Lascurain thành lập; Đức Tổng Giám mục Pelagius Labastida đã chúc lành cho ông. Ông đã liên lạc với cha Rua để thông báo cho ngài về những bước thăm dò ban đầu ​​này. Cha Rua sung sướng vì sáng kiến ​​của họ và gửi cho mỗi người một giấy chứng nhận là thành viên của hội Cộng Tác viên Salêdiêng. Điều này đã gây ra sự bứt phá lan tràn kiến ​​thức về Don Bosco và công việc của ngài trên khắp nước Cộng hòa này. Ngay cả một số Giám mục Mexico cũng xin trở thành hội viên của Hiệp Hội Cộng Tác viên Salêdiêng. Tên của Don Bosco trở nên rất phổ biến ở thủ đô nơi mà nhiều người bắt đầu mong chờ những người Salêdiêng xuất hiện để làm việc cho giới trẻ.

Vào lúc này, một nữ Cộng Tác viên giàu có đã tặng ngôi nhà của mình cho ủy ban để biến thành trường cao đẳng; nhưng không có triển vọng người Salêdiêng đến ngay tức thì, nhóm bạn hữu đó đã tự xử lý vấn đề. Họ mở một trường dưới sự chỉ đạo của một linh mục, Enrico Perez Capetillo, với các xưởng in và đóng giày, cũng như một lớp tiểu học cho chín trẻ mồ côi, số lượng nhanh chóng tăng lên ba mươi bảy, tất cả từ những gia đình nghèo nhất tại thủ đô. Khi được thông báo, cha Rua đã chúc lành cho dự án, hứa sẽ gửi những người Salêdiêng đến ngay khi có thể. Ngày 4 tháng Hai năm 1891 xảy ra cái chết của Đức Tổng Giám mục Mexico, một người quảng bá nổi bật và là nhà hảo tâm của công trình. Kế đó, linh mục Capetillo rút lui. Việc sụp đổ của toàn bộ công trình dường như không thể tránh khỏi. Tuy nhiên cha Rua thuận theo những lời cầu xin khẩn cấp của người Mexico và được Tòa Thánh khuyến khích, cuối cùng đã quyết định gửi một nhóm người Salêdiêng tiên phong vào tháng Mười năm 1892.

Họ đến Vera Cruz ngày 1 tháng Mười Hai và được các Cộng Tác viên chào đón nhiệt tình. Thủ đô chào mừng họ đến. Có năm người trong số họ: ba linh mục, trong đó có Cha giám đốc Angelo Piccono, một tư giáo và một sư huynh. Không hề chậm trễ họ đến trình cho Đức Tổng Giám mục mới, Alarcon, một lá thư giới thiệu từ Hồng y Rampolla vốn được cha Rua đích thân giao cho họ. Khi Đức Hồng y đưa thư cho ngài ngày 19 tháng Mười năm 1892, ngài cũng viết rằng Đức Thánh Cha đã rất hài lòng khi nghe tin về chuyến thám hiểm truyền giáo mới nhất này. Trong thư giới thiệu chính thức, Đức Hồng y đã viết:

“Lá thư tôi viết sẽ được gởi đến cha qua người đứng đầu nhóm các linh mục đang đến để sở hữu ngôi nhà đã được mở cho họ trong đô thị đó. Tôi hoàn toàn tin tưởng Đức Tổng sẽ chào đón họ trong tình hiền phụ, và ngài sẽ sử dụng địa vị và ảnh hưởng của mình để hỗ trợ và bảo vệ họ trong sứ vụ của họ, và bằng cách này bảo đảm sự thành công cho dự án cao quý của họ; vì sứ vụ này họ lìa bỏ quê hương mình đi đến các vùng xa xôi. Thật vậy, tôi không muốn bỏ lỡ cơ hội cấp cho họ thư giới thiệu này. Tôi muốn Đức Tổng biết rằng sự chào đón của ngài khiến Đức Thánh Cha và chính tôi rất rất hài lòng. Những người con xứng đáng này của Don Bosco đáng được Tòa Thánh hoàn toàn ủng hộ vì việc tốt họ làm, cả về mặt thiêng liêng và vật chất, đặc biệt là bằng cách giáo dục giới trẻ cả về chữ nghĩa lẫn việc làm, và cũng bằng cách đáp ứng những nhu cầu của tín hữu trong một tác vụ rộng khắp.”[361]

Nhờ những lời giới thiệu cao quý như vậy, sứ vụ của người Salêdiêng tiến lên với tốc độ kỷ lục. Ngày 3 tháng Giêng năm 1893, cha Piccono trình bày các kế hoạch của mình cho một nhóm Cộng Tác viên Salêdiêng. Ngay lập tức một người phụ nữ có tên Julia Gomez đã biếu cha một món quà là một mảnh đất rộng hai mươi nghìn mét vuông, và một kỹ sư tên là Sozaya chuẩn bị các bản vẽ cho một trường cao đẳng đủ lớn để nhận bốn trăm người trẻ. Tiền dâng tặng gửi đến tới tấp. Ngày 29 tháng Giêng, Đức Tổng Giám mục đã có thể làm phép đặt viên đá xây dụng trước rất đông người hiện diện. Cộng hòa Mexico đã gia nhập danh sách các quốc gia ở châu Mỹ Latinh nơi người Salêdiêng đã bắt rễ.

Venezuela, Bolivia, Paraguay, El Salvador

Trước hết, chúng tôi đưa ra một bản tóm tắt ngắn gọn về việc những người Salêdiêng đến bốn quốc gia khác của châu Mỹ Latinh trong thời cha Rua, và dưới ảnh hưởng của ngài.

Suốt nhiều năm Venezuela đã hiện lên trong danh sách được Don Bosco và Cha Rua nắm giữ.[362] Trong số những vị tiền thân của công cuộc Salêdiêng ở đất nước này, như ở Mexico, có một linh mục, Richard Arteaga, và một nhóm nhỏ các Cộng Tác viên. Hơn nữa, họ nài xin Đức Tổng Giám mục Crispolo Uzcategui trợ giúp để tác động cha Rua sai cử người Salêdiêng đến Caracas.[363] Đồng thời, Đức Tổng Giám mục đã xin Đức Giáo Hoàng vì mình điều đình với Bộ Truyền Bá Đức Tin ở Rôma.[364] Tất cả việc này rất có lợi cho người Salêdiêng một khi họ đến nơi. Họ khởi hành từ Genova ngày 1 tháng Mười Một năm 1894. Về nguyên tắc, Chính phủ ở Caracas sẽ bàn giao cho họ một trường huấn nghệ, nhưng thực ra đây là chỉ là chuyện tưởng tượng. Sự quản trị và kỷ luật trong trường vẫn nằm trong tay những người dân thường đang hoạt động phụ thuộc trực tiếp vào chính phủ vốn đã tràn ngập với những kẻ chống giáo sĩ. Những người Salêdiêng dần dần rút khỏi trường Caracas, và được Đức Tổng Giám mục giúp đỡ, họ đi nơi khác để phát triển công việc tông đồ của họ.

Chúng ta sẽ ở lại Venezuela một lát. Một linh mục giáo phận Venezuela, Victor Arocha, một con người có tinh thần Salêdiêng, đã được Đức Tổng Giám mục Uzcategui phái đến Turin để xin cha Rua gửi người Salêdiêng đến thành phố Valencia của mình. Ngài đợi ở đó một năm và cuối cùng đã sẵn sàng trở lại vào tháng Mười Một năm 1894 với một nhóm rất nhỏ: Giám đốc, Andrew Bergeretti (1846-1909), một linh mục truyền giáo Salêdiêng đã khấn trọn ngày 23 tháng Chín trước đó, và hai tư giáo. Tại Valencia, họ mở một trường tiểu học trong một ngôi nhà hiện có; vì không biết chút tiếng Tây Ban Nha nào, họ phải mướn giáo viên người đời. Ít nhất đó là bước khởi đầu. Số trẻ nam tăng lên, và họ buộc phải tìm đất đai ở nơi khác. Họ mua một mảnh đất với một vài ngôi nhà cũ nhưng được xây kiên cố. Đây là khởi đầu cho cái sẽ trở thành trường cao đẳng Don Bosco tại Valencia. Năm 1897, Bộ trưởng lo việc dạy công lập được ban nhạc của trường Salêdiêng chào đón tại nhà ga, và tất cả các lớp học đều được thăm viếng chính thức. Qua năm tháng, trường cao đẳng ấy được phát triển, với cả trường tiểu học và trung học, theo tỷ lệ khi nhân sự Salêdiêng tăng trưởng. Các ngày lễ tôn giáo được cử hành long trọng, thu hút rất nhiều người. Vào năm 1899, khi có một đợt bùng phát bệnh đậu mùa nghiêm trọng trong thành phố, Cha Bergeretti nổi bật vì đã tận tụy với người bệnh; do đó chính phủ đã ban tặng cha một huân chương Danh dự và Tri ân. Trong khi người Salêdiêng phải vật lộn với công việc để tự đứng trên đôi chân của mình ở Caracas trong những ngày đầu ở Venezuela quả là đúng, thì lại có một câu chuyện thành công bé nhỏ lộ ra tại Valencia ngay từ đầu.

Người Salêdiêng đầu tiên đặt chân đến Bolivia là cha Lu-y Costamagna (1866-1941), cháu của Đức Giám mục Giacôbê Costamagna. Đất nước này nằm ở chính trung tâm của Nam Mỹ, bao bọc bởi Brasil, Chile và Paraguay.[365] Đức Giám mục tại La Paz, Đức ông Borgue, đã viết thư cho cha Rua ngày 23 tháng Chín năm 1889, xin ngài thương lắng nghe yêu cầu của Đức Cha muốn thành lập một trường huấn nghệ trong thành phố của ngài, nhưng cha Rua không thể cung cấp gì hơn là niềm hy vọng cho tương lai. Một động thái nữa được thực hiện ngày 20 tháng Sáu năm 1891 khi Mariano Baptista, vị Bộ trưởng có toàn quyền cho Bolivia ở Buenos Aires, đã đưa ra một đề nghị ký kết với Chính phủ của ông để thành lập hai trường cao đẳng huấn nghệ, một ở La Paz, một nữa ở nơi chưa được quyết định. Các điều kiện đưa ra không thể thuận lợi hơn.[366] Cha Rua đã đồng ý trên nguyên tắc, nhưng cần thời gian để biến nó thành hiện thực. Trong khi đó, Baptista, người đã trở thành Tổng thống Cộng hòa, đã cho Bộ trưởng Ngoại giao của mình ở Pháp, Manuel de Argandoña, toàn quyền đề ra các điều khoản trong bản hợp đồng với cha Rua. Mãi cho đến ngày 8 tháng Mười năm 1895 văn bản này cuối cùng mới được ký, trong đó đưa ra những dàn xếp tài chính vô cùng thuận lợi. Nó ghi như sau:

1. Linh mục đáng kính cha Micae Rua cam kết cử một nhóm ít nhất mười người Salêdiêng sẵn sàng làm việc tại Bolivia không trễ hơn tháng Mười Một năm nay 1895.

2. Bề trên được chỉ định cho Bolivia, phối hợp với đại diện chính phủ, sẽ có và bảo đảm giao tất cả các vật liệu và thiết bị cần thiết cho hai cơ sở mới đã được đề xuất.

3. Chính phủ Bolivia sẽ chi trả phí đi lại cho tất cả các nhân viên được trù định cho trường cao đẳng ở Bolivia trong mười năm đầu, bao gồm bất kỳ chuyến đi nào được coi là cần thiết vì lợi ích của một trong hai trường.

4. Chính phủ Bolivia sẽ bàn giao cho một linh mục hoặc các linh mục được Tu hội Thánh Phanxicô Salê chỉ định một tòa nhà hoặc các tòa nhà và tất cả các tài sản liền kề được chính phủ ấn định cho việc thành lập các trường cao đẳng huấn nghệ, cùng với tất cả đồ nội thất, máy móc và thiết bị sẽ được mua ở châu Âu.

5. Chính phủ sẽ cung cấp cho bề trên được chọn cho Bolivia, hoặc cho linh mục được chỉ định bởi ngài, tổng số tiền cần thiết để trang trải chi phí ban đầu của việc thiết lập một trường cao đẳng.

6. Tu hội Salêdiêng và các nhà của Tu hội sẽ được miễn bất kỳ giá hoặc thuế nhập khẩu và các loại thuế tài chính khác, và sẽ được hưởng các quyền miễn trừ và đặc quyền tương tự được cấp cho các Hiệp hội Tôn giáo khác.

7. Nếu, vì những lý do không lường trước được, người Salêdiêng rời khỏi các cơ sở này, họ sẽ giao chúng lại cho chính phủ trong tình trạng như khi thành lập và sẽ thông báo trước về việc họ rời đi một năm trước đó.

8. Nếu chính phủ quyết định phá bỏ hợp đồng này, họ phải thông báo với vị bề trên trước bốn năm và hoàn trả mọi chi phí phát sinh trong việc chuyển giao nhân sự.

9. Học sinh ngoại trú sẽ được nhận miễn phí, và để dạy học, chính phủ sẽ lập khoản trợ cấp hàng tháng cho mỗi cơ sở, hoặc sẽ đồng ý trả một tiền thù lao cho mỗi người Salêdiêng hoặc nhân viên do người Salêdiêng thuê.

10. Học sinh nội trú sẽ trả một khoản phí duy trì do chính phủ và cấp trên của mỗi cơ sở thỏa thuận với nhau.

11. Quản lý tổng thể và quản lý nội bộ, cũng như chính sách kỷ luật sẽ phụ thuộc hoàn toàn và độc quyền vào Tu hội Salêdiêng.[367]

Khi ký hợp đồng này, cha Rua đã chặn trước bất kỳ sự lặp lại nào của những thất bại ở Caracas, nơi họ thấy mình hoàn toàn phụ thuộc vào quản trị của người đời. Trên thực tế, nhân sự cho truyền giáo Bolivia đã được bổ nhiệm ngay cả trước khi ký kết. Sẽ có mười bốn người trong số họ, bảy người trong số đó sẽ đến La Paz. Họ đến Buenos Aires ngày 23 tháng Mười Một sau đó, nhưng do một loạt những hiểu lầm và rắc rối trong khi đi qua Chilê, bằng tàu hỏa, thuyền và một loại xe ngựa kéo, họ đã không đến nơi được - trước tiên là La Paz, sau đó là Sucre - cho đến tận tháng Hai năm 1896. Hiển nhiên họ được chào đón nồng nhiệt.[368]

Các cuộc đàm phán giữa Toà Thánh và Don Bosco lẽ ra đã dẫn tới việc những người Salêdiêng đến Paraguay từ năm 1879. Đó là một đất nước liên tục bị những cuộc cách mạng gây bất ổn, ảnh hưởng đến chính các giáo sĩ trong giáo phận duy nhất Asuncion.[369] Lúc ấy, những người Salêdiêng từ Buenos Aires đã chuẩn bị đến đó, nhưng tình trạng bất ổn về chính trị đã ngăn cản họ. Ủy viên Tông tòa sau đó quay sang các tu sĩ Vincent, người sẵn sàng chấp nhận một sứ vụ đầy thử thách như vậy.

Mười ba năm sau, chúng ta tìm thấy người Salêdiêng Angelo Savio ở Paraguay, trong một cuộc hành trình khám phá ở khu vực rộng lớn Gran Chaco.[370] Từ khi đến thủ đô Asuncion, cha Savio gửi các báo cáo dài dòng cho cha Rua về những phát hiện của cha trong một khu vực trước đây được các tu sĩ Dòng Tên truyền giáo ("Bản thu nhỏ của Paraguay"). Cha vẽ ra một bức tranh đáng buồn. “Có thể nhìn thấy hàng ngàn người man rợ sống dọc theo bờ sông. Còn có thể có bao nhiêu người nữa trong đất liền? Một trăm, hai trăm, ba trăm ngàn? Có rất nhiều bộ lạc, và một số dường như đã giữ lại những ký ức xa xôi về các việc truyền giáo trước đó. Nhưng ấn tượng tôi có ngay bây giờ là họ đã quay trở lại tình trạng hoang dã, vì họ không có linh mục để dạy họ tôn giáo, đó là nguồn gốc duy nhất của nền văn minh. Trong quá khứ chính phủ dốt nát đã săn lùng các linh mục, giết các Giám mục và nghĩ rằng họ có thể cai trị mà không có Thiên Chúa.” Cha nói thêm rằng chính phủ quân sự hiện tại đã thực sự trả cho ngài vé khứ hồi và bày tỏ mong muốn thấy một linh mục trở lại ở giữa họ, mặc dù ngài tin rằng đó là từ động cơ chính trị.[371] Ông cũng chia sẻ những suy nghĩ của mình với người quản trị giáo phận, cùng ngày hôm đó người này đã viết cho Đức Hồng y Bộ trưởng của Bộ Truyền bá Đức tin, trong một nỗ lực xin người Salêdiêng gửi một đoàn truyền giáo tới Gran Chaco.[372] Chắc chắn, theo lời chỉ dạy của Đức Lê-ô XIII, Đức Hồng y Rampolla đã khơi gợi cha Rua quan tâm tới ý tưởng này,[373] nhưng nó sẽ chỉ thành hiện thực sau khi nhiệm kỳ của ngài kết thúc.

Người Salêdiêng dũng cảm, Lu-y Lasagna (1850-1895), thụ phong Giám mục của Tripoli vào năm 1893, là người kế tiếp xuất hiện. Ngài đến thăm Chaco và chính ngài thấy người Da Đỏ, và ngài cảm thấy rằng ở một đất nước như thế này, bị tàn phá bởi chiến tranh, nhu cầu cấp thiết nhất là việc đào tạo thanh niên ở các thị trấn và thành thị. Ngày 19 tháng Năm năm 1894, ngài thúc giục cha Rua mở một trường nội trú ở thủ đô cho những trẻ nghèo.[374] Ý tưởng này được các vị lãnh đạo chính trị hỗ trợ, và năm sau, ngày 19 tháng Tám, chính phủ Paraguay thậm chí còn thông qua một đạo luật theo đó bàn giao cho Giám mục Lasagna, như vị Bề trên Salêdiêng, quyền sở hữu một ngôi nhà cũ nhưng được xây dựng kiên cố ở Asuncion với khu đất gần kề. Mục đích là để thành lập một trường huấn nghệ với sức chứa hàng trăm em nội trú mà người Salêdiêng sẽ có toàn bộ trách nhiệm. Nhờ tình bạn thân thiết của ngài với Tổng thống Paraguay vốn là một con người hành động, Giám mục Lasagna đã có thể phục hồi mối quan hệ tốt đẹp giữa Paraguay và Tòa Thánh vốn bị tuyệt giao sau vụ ám sát Giám mục hợp pháp của Asuncion, rồi vụ ám sát của kẻ cướp quyền. Đáng buồn thay, cái chết bất ngờ của vị giám mục nổi tiếng này tại Juiz de Fora (Braxin) ngày 6 tháng Mười Một năm 1895 đã trì hoãn sự hiện diện tình cờ của người Salêdiêng tại thủ đô. Tuy nhiên, Lãnh sự Paraguay tại Montevideo, Matia Alfonso Criado, hành động theo lời khuyên của Giám mục Costamagna, đã viết cho cha Rua vào ngày 25 tháng Mười Một xin ngài tôn trọng những sắp đặt của Giám mục Lasagna. Ông ta viết: "Nước Cộng hòa đáng buồn của tôi đã chịu đựng rất nhiều do ​​cái chết gây sốc của Giám mục Lasagna, khiến chúng tôi than khóc buồn sầu. Chỉ mình ngài, vị Bề Trên Cả xứng đáng nhất của người Salêdiêng, mới ở trong vị thế làm giảm nhẹ được hậu quả của một đại họa như vậy.”[375] Trong khi đó, trở lại Asuncion, các chính trị gia ủng hộ người Salêdiêng đã thành công trong việc xóa bỏ một điều khoản áp bức khỏi luật vốn được thông qua ngày 19 tháng Tám năm 1895.

Những người truyền giáo Salêdiêng đầu tiên đến Paraguay lên đường đi Asuncion từ Montevideo (Uruguay) ngày 14 tháng Bảy năm 1896. Họ có bốn người, tất cả từ Tỉnh dòng Uruguay: Giám đốc, cha Ambrosiô Turriccia, một linh mục khác, một tư giáo và một sư huynh, đi cùng là Cha Giám tỉnh Giuse Gamba.

Họ thực hiện cuộc hành trình bằng thuyền, trước hết là đến Buenos Aires, tiếp đó đến thủ đô đi theo các con sông Parana và Paraguay. Ngày 23, họ lên bờ tại Asuncion, tự giới thiệu mình với các nhà chức trách tôn giáo và dân sự và thấy rằng họ đã được chỉ định một tòa nhà được các tu sĩ Dòng Tên dựng lên một thời gian trước đây. Cùng ngày hôm đó cha Turriccia đã quyết định viết cho cha Rua: “Thiên Chúa đã ban cho chúng tôi, những người đến trễ trong khu vườn nho của Chúa, có thể làm chỉ được một phần ngàn của vô số những điều tốt lành mà những con cái lừng lẫy của Thánh Ignatio Loyola đã thực hiện. Thậm chí ngày hôm nay, rất lâu sau khi họ bị trục xuất, cha vẫn có thể nhìn thấy đức tin vĩ đại mà họ có thể truyền giao cho những dân tộc này.”[376] Tại Asuncion, như thường lệ, người Salêdiêng bắt đầu công việc của họ vào tháng Mười bằng cách mở một Nguyện xá chủ nhật cho bất kỳ thiếu niên nào muốn tham dự, sau đó một trường nội trú huấn nghệ cho ba mươi trẻ mồ côi, được đặt tên là 'trường cao đẳng Monseñor Lasagna'.

Năm 1895, Đức Ông Vecchiaotti người Ý, Tổng Đại diện của giáo phận duy nhất tại nước cộng hòa El Salvador, đã khiến cha Rua chú ý đến nhu cầu của đất nước này.[377] Một ủy ban Công giáo đã mời ngài tham gia đàm phán với Turin về việc cử người Salêdiêng đến đó.[378] Cha Rua nói với Đức ông rằng không thể làm gì được trước năm 1898, nhưng người Salvador đã cầu viện Rôma. Hãy tưởng tượng sự ngạc nhiên của ngài một vài tháng sau khi nhận được một lá thư từ Đức Hồng y Rampolla, thư viết: “Chủ tịch nước Cộng hòa San Salvador gần đây đã thông tri cho Đức Thánh Cha về những nỗ lực của mình để cung cấp giáo dục giới trẻ. Ông tỏ ra rất tin tưởng vào công cuộc của những người Salêdiêng; ông mong sao thấy họ được thiết lập vững chắc trên quê hương mình. Ông ta ước muốn mãnh liệt rằng cha phải sẵn sàng cử một số linh mục của cha đến đó càng sớm càng tốt, thay vì đợi cho đến năm 1898 như cha đã hứa. Tuy nhiên, để đáp lại mong ước đáng khen của Tổng thống của Nước Cộng hòa ấy, Đức Thánh Cha cảm thấy việc này chỉ đúng đắn khi đặt nó vào tay cha, để với lòng nhiệt thành và sự thận trọng cố hữu của cha, cha có thể thực hiện bất kỳ biện pháp nào xem ra phù hợp nhất hầu mang lại một giải pháp tốt đẹp.”[379]

Cha Rua nhượng bộ, hứa sẽ làm tất cả mọi thứ có thể và nói rằng ngài sẽ chờ Tổng thống El Salvador làm sáng tỏ mọi việc. Tuy nhiên, không chỉ là lá thư của Tổng thống mà có một thông điệp khác từ Bộ trưởng Ngoại giao. Bộ trưởng tài chính từ El Salvador đã đến Rôma, với sự giới thiệu của cả Tổng thống và Giám mục, được ủy nhiệm để làm bất cứ điều gì cần thiết để thành lập một trường học và nó sẽ được giao phó cho người Salêdiêng. Bộ trưởng đến Turin với một lá thư từ Đức Hồng y Rampolla thúc giục mọi thứ phải được thực hiện "theo mong muốn của tất cả mọi người có liên quan và vì lợi ích của những người trẻ tuổi ở nước Cộng hòa xa xôi đó."[380]

Cha Rua yêu cầu một người ủng hộ hăng hái của người Salêdiêng, Tổng Đại diện Vecchiotti, để nói chuyện với cha Angelo Piccono, Giám đốc ở Mexico, nhằm điều chỉnh một bản hợp đồng với chính phủ để thành lập một trường huấn nghệ và nông nghiệp ở El Salvador. Dự án của Piccono, sau khi được cha Rua khảo sát kỹ lưỡng, đã chính thức được chính phủ chấp nhận ngày 28 tháng Tư năm 1897. Cuối cùng, người Salêdiêng đã đến vào ngày 3 tháng 12, do Cha Lu-y Calcagno dẫn đầu, ngài vẫn là Giám tỉnh chính thức ở Ecuador dù bị những nhà cách mạng trục xuất. Hai linh mục, ba tư giáo và ba sư huynh tạo thành nhóm. Đức Giám mục đã chăm sóc họ chu đáo, và người Salêdiêng sớm giành được kính trọng của người dân địa phương, thu hút nhiều Cộng Tác viên. Tổng thống Guttierez ngưỡng mộ họ bằng một chuyến viếng thăm.[381]

Mặc dù vậy, Cha Calcagno rất thận trọng. Ngày 17 tháng Giêng năm 1898, ngài viết thư cho cha Rua: “Từng trải với những trường hợp nhà cửa do chính phủ nắm giữ đưa đến kết cục ra sao, chúng ta phải được chuẩn bị tinh thần cho ngôi nhà mà chúng ta hiện đang ở sẽ có cùng số phận như những cái còn lại. Tình hình rất bấp bênh.” Vào tháng Hai ngài nhắc lại vấn đề: chúng ta phải có những ngôi nhà không bị xiềng xích chính trị.[382] Thật vậy, một cơ hội xuất hiện ở thị trấn nhỏ Tecla, không xa thủ đô. Cha Piccono đã giới thiệu cho cha Rua một bác sĩ giàu có từ thị trấn, một Manuel Gallardo nào đó, một người Công giáo xuất sắc và một người đàn ông có trái tim vàng. Cha Rua đã gửi cho ông này giấy chứng nhận thành viên Cộng Tác viên. Trong thư cảm ơn, Gallardo viết: “Con đang làm hết sức mình để xứng đáng với danh dự lớn lao mà Cha đã tỏ cho con. Ghi nhớ điều này, con đang cho xây một tòa nhà để cung cấp chỗ ở cho trẻ em mồ côi. Nó sẽ sẵn sàng trong vòng ít ngày; con hy vọng sẽ giao phó việc giáo dục các em cho những người Salêdiêng. Con sẽ coi đó là một vinh dự lớn nếu Cha chấp nhận.”[383] Cha Calcagno đã hỗ trợ hết mình: ngài nghĩ, ít nhất trong ngôi nhà này người Salêdiêng sẽ hoàn toàn tự do làm mọi thứ theo cách của họ.

Bác sĩ đã thất vọng khi phản ứng đầu tiên của cha Rua là yêu cầu ông đợi đến năm 1901. Nhưng Chúa Quan phòng đã đứng về phía ông. Có sự thay đổi trong chính phủ, và vào đầu năm 1899, các vấn đề bắt đầu nảy sinh với những người Salêdiêng ở thủ đô: không thanh toán các khoản phụ cấp, và làm ngơ đối với bất kỳ khiếu nại nào. Vào cuối tháng Giêng, một nhóm người Salêdiêng do cha Calcagno dẫn đầu, đã đến được Santa Tecla, nơi đây có một ngôi nhà nhỏ bé nhưng hoàn toàn phù hợp đã sẵn sàng cho họ. Những người khác chờ đợi sự phát triển, và đã đến rất nhanh và dồn dập đến nỗi vào năm 1900 họ đến nhập đoàn với các hội viên. Kết quả là, một trường cao đẳng Salêdiêng đích thực, với học sinh và người thợ đã khởi sự ở Santa Tecla dưới sự bảo trợ của Thánh Cecilia, được đặt theo tên theo người vợ quá cố của bác sĩ.

Với cơ sở mới ở El Salvador, người Salêdiêng đã đặt chân đến bảy quốc gia mới ở châu Mỹ Latinh trong suốt mười năm đầu tiên cha Rua nắm chức vụ. Kinh nghiệm đã dạy tất cả Salêdiêng, cách riêng cha Rua là người chịu trách nhiệm sau cùng, cần phải thận trọng khi ký hợp đồng với chính phủ của những quốc gia này. Đối với những gì còn lại, họ sẽ phải liên tục lèo lái cách tốt nhất có thể được theo nhịp của nền chính trị thay đổi như gió trong một lục địa mãi mãi không thể dự đoán trước.

Hoa Kỳ

Trong cùng khoảng thời gian này, người Salêdiêng đến phía bắc lục địa châu Mỹ. Số đông người Ý nhập cư giờ đã định cư tại Hoa Kỳ, đặc biệt là ở bờ biển phía tây. Năm 1896, Cha Angelo Piccono đến từ nước láng giềng Mexico, nơi trước kia ngài đã được bổ nhiệm; ngài tiến tới San Francisco. Ngày 2 tháng Bảy, Đức Tổng Giám mục Patrick Riordan đã gọi ngài: “Ngoài giáo xứ Thánh Phêrô và Phaolô của người Ý trong thành phố, ngài đã tặng cho người Salêdiêng một cánh đồng rộng lớn và màu mỡ nơi họ có thể bắt đầu khi họ thấy phù hợp.” Các cuộc đàm phán với Turin được tiến hành ngay lập tức.

Ngày 23 tháng Mười Một năm đó, Đức Tổng Giám mục tuyên bố chấp nhận một bản ký hợp đồng do Cha Rua đề xuất như sau:

“1. Đức Tổng Giám mục Riordan a) sẽ giao phó cho người Salêdiêng giáo xứ Ý ở San Francisco, b) sẽ cung cấp chi phí đi lại và chi phí ban đầu cho bốn người Salêdiêng sẽ rời Turin đi San Franciscisco vào tháng Mười Hai năm 1896. - 2. Cha Micae Rua a) sẽ gửi một nhóm đầu tiên gồm hai linh mục, một tư giáo và một sư huynh để phụ trách giáo xứ nói trên và khi hoàn cảnh cho phép, mở một 'Nguyện xá ngày lễ', bắt đầu các lớp học ngày và buổi tối, và cuối cùng thành lập một trường huấn nghệ để phục vụ các nhu cầu cách riêng của những người trẻ nghèo và bị bỏ rơi; b) buộc người Salêdiêng hạn chế công việc của họ vào khu vực dân cư người Ý ở San Francisco.”[384]

Đức Tổng Giám mục hăm hở ngăn chặn bất kỳ sự phản đối nào từ hàng giáo sĩ địa phương. Theo đó, vào đầu năm 1897, người Salêdiêng đã sở hữu giáo xứ Ý ở San Francisco; sau đó vào năm 1898, một giáo xứ thứ hai được giao phó cho họ trong một khu khác của thành phố, tiếp theo là một giáo xứ khác cho những người nhập cư Bồ Đào Nha. Cũng trong năm đó, ở bờ biển phía Đông, tại New York, nơi có khoảng bốn trăm ngàn người Ý sống, những người Salêdiêng nhận giáo xứ Thánh Brigitta, trong khi từ Turin cha Rua chúc lành cho toàn bộ bước tiến tông đồ này. Đó là những bước khởi đầu của việc mở rộng của người Salêdiêng ở đất nước vĩ đại này.

Chú thích

[347] Ở đây tôi lấy lại các chương từ E. Ceria, Vita del Servo di Dio, trang 258-274, hoàn tất trong Annali II, và từ M. Wirth, Don Bosco et la famille salésienne, trang 293-307, tất cả đều dành riêng cho những vấn đề truyền giáo ở châu Mỹ.

[348] B. Vacchina- M. Rua, Rawson, tháng Sáu, 1896, trong Bulletin salésien, năm 1897, trang 76.

[349] Xem Annali II, trang 124-130.

[350] Những lá thư này trong Annali II, trang 126-128.

[351] Về việc mạo hiểm ở Agua de Dios, tôi lấy Annali II, trang 141-154.

[352] Lá thư này trong Annali II, trang 145-146.

[353] Ấn bản trong Annali II, trang 136.

[354] Về nguồn gốc của Hạt Đại diện Tông Tòa Mendez et Gualaquyza, xem Annali II, trang 283-296.

[355] Biên bản Tu Nghị Bề trên, 28 tháng Tám, 1894.

[356] Về phần Costamagna, Annali II, trang 291-293.

[357] Về những cáo buộc chống lại người Sa lê diêng và sự trục xuất của họ, xem Annali II, trang 549-577.

[358] Chi tiết những việc thương thuyết này, xem Annali II, trang 590-598.

[359] Về sự phục hưng này, xem Annali II, trang 598-602.

[360] Về việc những người Salêdiêng đến Mexico, xem 18 lá thư của Angel G. de Lascurain và của những bạn bè của ông gửi cho Cha Rua vào năm 1889 và năm 1891, FdR 3305 D9 at 3307 A11. Bản tường thuật trong Ceria, Annali II, trang 137-140 và trong Francis Castellanos, «El nacimiento de la obra salesiana en México», RSS, 15, 1989, trang 399-429, đưa ra cho thấy vai trò của những Cộng tác viên Salêdiêng vào lúc khởi đầu. 15. Được hiệu đính trong Annali II, trang 139.

[361] Được hiệu đính trong Annali II, trang 139.

[362] Về những người Salêdiêng ở Venezuela, see Annali II, trang 513-524.

[363] Xem lá thư của Crispolo Uzcategui gửi Cha Rua, ngày 26 tháng Năm, 1890, FdR 3224 C2, và biên bản trả lời của Cha Rua en FdR 3224 C3-5.

[364] Xem lá thư của thư ký Bộ này gửi Cha Rua, Rôma, ngày 28 tháng Tư, 1891, FdR 3224 D2-3.

[365] Về việc thành lập công cuộc ở Bolivia, xem Annali II, trang 525-534.

[366] Văn bản trong FdR 3267 A4-7.

[367] Ấn bản trong Annali II, trang 527-528.

[368] Về cơ sở thành lập của Salêdiêng ở La Paz, 12G xem các thư của Lu-y Costamagna gửi Cha Rua năm 1896, FdR 3267 B10-E1.

[369] Về việc người Salêdiêng đến nước cộng hòa Paraguay, xem E. Ceria, Annali II, trang 535-548.

[370] Thư của A. Savio gửi Cha Rua, từ Chaco, ngày 8 tháng Bảy, 1892; FdR 3812 E11 at 3813 A2.

[371] A. Savio gửi Cha Rua, Asuncion, ngày 24 tháng Bảy, 1892; FdR 3813 A11-12.

[372] Xem Ceria, Annali II, trang 539.

[373] Rampolla gửi Cha Rua, Rôma, ngày 14 tháng 12, 1892; FdR 3800 A11-12.

[374] Lasagna gửi Cha Rua, Asuncion, ngày 19 tháng Năm, 1894; FdR 3755 E5 at 3756 A4.

[375] Từ Annali II, trang 542.

[376] Trích trong Annali II, trang 543.

[377] Về việc người Salêdiêng đến El Salvador, see Annali II, trang 578-587.

[378] Thư của M. Vecchiotti gửi Cha Rua, San Salvador, ngày 25 tháng Giêng, 1895, trong Annali II, trang 579.

[379] Vatican, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, ngày 22 tháng Sáu, 1895; xem Annali II, trang 579.

[380] Vatican, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, ngày 23 tháng Tám, 1895; Annali II, Ibidem.

[381] Annali II, trang 583-584.

[382] Gallardo-Rua, Santa Tecla, ngày 15 tháng 2, 1898; Annali II, trang 584.

[383] Thư của Angelo Piccono gửi Cha Rua, S. Francisco, ngày 2 tháng Bảy, 1896, FdR 3788 E4-7.

[384] Từ bài báo của A. Lenti, «Việc Thành lập và Mở rộng Ban đầu của Công trình Salêdiêng ở Khu vực San Francisco từ Tài liệu Lưu trữ », Báo Những Nghiên cứu của người Salêdiêng, 7, mùa thu năm 1996, trang 18.


FMA Logo

Địa chỉ: 57 Đường số 4, Khu phố 56, P. Tam Bình, TP. Hồ Chí Minh

Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về email: libraryfmavtn@gmail.com

Liên Kết

Truyền Thông FMA

Copyright Dòng Con Đức Mẹ Phù Hộ © 2026