FMA Logo

32. Bảy tháng đau đớn và vui mừng



Chuyến kinh lý ngoại thường đến các Nhà của Tu Hội

Những tháng đầu năm 1908 mang đầy cảm xúc với cha Rua. Ba sự kiện đánh dấu những tháng này: tổ chức một chuyến kinh lý ngoại thường đến những nhà Salêdiêng, một chuyến đi đến phương Đông và quá trình cung cấp thông tin cấp giáo phận cho Đaminh Savio.

Ý tưởng về một chuyến kinh lý ngoại thường cho tất cả các nhà của Tu hội đến với Cha Rua giữa những xôn xao tại Varazze, là kết quả của cuộc họp Tu Nghị Bề trên ngày 5 tháng Tám năm 1907. Kế hoạch chín muồi và thành hình vào đầu năm sau.

Cha Rua đã khôn ngoan tự giải thích trong một thư luân lưu gửi những người Salêdiêng ngày 18 tháng Giêng năm 1908, hoàn toàn dành riêng cho chuyến kinh lý ngoại thường. Ngài cần tránh làm người Salêdiêng hoảng sợ. Vì vậy, ngài ẩn náu đằng sau điều được nói trong Quy luật. Hiến Luật yêu cầu ngài kinh lý tất cả các nhà trong Tu hội mỗi năm một lần hoặc trực tiếp hoặc thông qua một người đại diện. Cho đến thời điểm đó ngài đã đi rất nhiều và tất cả các Giám tỉnh đã thay thế một cách suôn sẻ. Nhưng không có gì có thể thay thế cho một vị kinh lý ngoại thường, không bị các mối quan hệ tình cảm hay lợi ích liên quan đến công việc hoặc những hội viên ràng buộc, một người khởi hứng sự tin tưởng hoàn toàn của mọi người. Ngài sẽ ở trong tình huống tốt nhất để ghi nhận mọi thứ và lập bản tường trình. Bề Trên Cả muốn giải thích cẩn thận rằng việc này không phải thuộc bất kỳ loại điều tra nào của cảnh sát. Ngược lại, ngài nói ngài được thuyết phục rằng khi những vị kinh lý mà ngài đã ủy nhiệm gặp phải một số tình huống không may - vì ‘tất cả chúng tôi đều là con cái của Adam’ - họ cũng đã an ủi khi thấy những điều tốt đẹp đang được thực hiện trong các nhà, nhờ vào sự nhiệt tình và các hoạt động của những hội viên đang điều hành chúng.[674]

Ngài cần tạo ra công cụ thích hợp cho cuộc kinh lý và sau đó cho nó sự trang trọng phù hợp. Trong các phiên họp Hội đồng vào ngày 13, 14 và 15 tháng Giêng, mọi người quyết định rằng các chuyến kinh lý sẽ bắt đầu vào tháng Ba năm sau. Hội đồng thảo hướng dẫn cho các vị Kinh lý. Các tỉnh được chia thành 10 nhóm (sau đó trở thành 11) và các vị Kinh lý tương ứng được bổ nhiệm. Được gọi đến Turin (ngoại trừ những vị Kinh lý người Mỹ), họ đã tuyên thệ trước Bề Trên Cả, trong khi những người không thể có mặt ở đó được một đại biểu đại diện. Tu Nghị Bề trên ghi nhận bức thư của cha Rua vào ngày 18 tháng Giêng và bản câu hỏi mà các vị Kinh lý phải điền vào.[675]

Buổi lễ sứ vụ truyền giáo diễn ra trước các thành viên của Tu Nghị Bề trên ngày 30 tháng Giêng lúc mười giờ sáng trong nguyện đường nhỏ của Don Bosco ở Nguyện xá. Cha Rua mặc áo Alba đeo dây stola chủ trì. Bảy vị Kinh lý được chỉ định có mặt; bốn hội viên đại diện cho bốn vị Kinh lý vắng mặt đi cùng họ. Họ đã hát Ave Maris Stella và Veni Creator. Cha Rua nói về thư luân lưu ngày 18 tháng Giêng. Cha Thư ký của Hội đồng đọc thư bổ nhiệm và giới thiệu từng vị Kinh lý. Sau lời khuyên hiền phụ từ Bề Trên Cả, các vị Kinh lý và Đại biểu đã tuyên thệ bằng tiếng Latinh: "Tôi cầu xin Thiên Chúa làm chứng cho tôi, rằng tôi sẽ trung thành thực hiện nhiệm vụ đã được trao cho tôi và tôi sẽ giữ bí mật". Tất cả đều kết thúc khoảng 11 giờ với lời cầu nguyện theo nghi thức Agimus.[676] Như vậy cha Rua đã khai mào một trong những hành động quan trọng nhất trong thời ngài làm Bề Trên Cả. Ngài hy vọng rằng Tu hội bước ra khỏi chuyến kinh lý ngoại thường sẽ được thanh lọc khỏi những thiếu sót vốn đã làm biến dạng nó, và là điều mà ngài rất quan tâm. Ngài tin rằng tất cả sẽ đóng góp để "vinh quang Thiên Chúa thêm tỏa rạng và lợi ích của các linh hồn", mục đích thiết yếu của Tu hội vốn được giao trách nhiệm cho ngài.

Với những tình cảm này ngài viết một thư luân lưu dài ngày 31 tháng Giêng năm 1908, có tựa đề Canh thức. Chắc chắn loạt tai tiếng do giới báo chí đổ xuống Tu hội trong những tuần khủng khiếp vào tháng Bảy và tháng Tám đến từ ma quỷ. Không có gì, hoàn toàn không có gì biện minh được cho nó. Nhưng người ta cũng có thể rút ra một lời cảnh báo bổ ích từ đó: "Những điều xảy ra trong năm qua cũng là những cảnh báo Chúa đang gửi đến cho chúng ta để chú ý hơn đến những nguy hiểm sẽ được tìm thấy trong sứ mệnh tinh tế và không dễ dàng của chúng ta trong cương vị là những nhà giáo dục của người trẻ". Sau đó ngài khuyến cáo phải tránh sự thiên vị, tình bạn đặc biệt, sự vuốt ve, ngay cả khi được khởi hứng bởi tình mến quân bình. Và ngài kể câu chuyện đầy kinh ngạc của hai anh em được cha các em gửi đến một trường đại học Salêdiêng cốt để cám dỗ các giáo viên. May mắn là các em đã gặp những giáo viên thuộc loại tốt nhất, tiếp cận các bí tích và được biến đổi chỉ trong vài tuần. Khi đến thời gian các ngày lễ, khi các em sắp đi, người anh đi tìm vị Bề trên để cảm ơn và khóc, thú nhận âm mưu bất xứng của người cha, ("một người không tín ngưỡng hoặc không đạo đức"), là tính lôi người Salêdiêng ra trước công lý, và tiến hành tố tụng các tu sĩ và linh mục để có được một khoản tiền hấp dẫn do được bồi thường. Một nhà giáo dục không bao giờ có thể thận trọng cho đủ.[677]

Chuyến đi của Cha Rua đến phương Đông

Sau đó cha Rua sắp xếp để đi một chuyến dài đến phương Đông. Ngày 20 tháng Giêng năm 1908 ngài được cấp hộ chiếu đi Châu Âu, Thổ Nhĩ Kỳ và Ai Cập.[678] Ngài dự định đi ngang qua Trung Âu đến tận Tiểu Á và đến Palestine và trở về qua ngả Ai Cập và miền Nam nước Ý. Vị Tổng Quản lý, Clement Bretto (1855-1919), vị Kinh lý Ngoại thường cho phương Đông, đi với ngài và do đó thực hiện nhiệm vụ đặc biệt của riêng mình. Trong suy nghĩ của Bề Trên Cả, chuyến đi vốn sẽ diễn ra từ ngày 3 tháng Hai đến ngày 20 tháng Năm, có hai mục tiêu chính: trước hết là để biết sâu sắc hơn về tình hình của người Salêdiêng, và sau đó tiếp xúc trực tiếp với các địa danh thánh thiện. Như ngài đề cập đến trong thư luân lưu kết thúc của mình, nó phải là cơ hội để kinh lý cẩn thận các nhà Salêdiêng và hành hương đạo đức đến phương Đông.[679]

Chúng ta hãy theo ngài dọc theo hành trình Salêdiêng trực tiếp hơn của ngài.[680] Ngài rời Turin ngày 3 tháng Hai và đi bằng ngả Venice, ít nhiều dừng lại ở các chặng dừng dài, tất cả đều đáng quan tâm, trong những nhà Salêdiêng khác nhau trải rộng khắp lãnh thổ của Đế chế Áo-Hung, đặc biệt ở Slovenia (Lubjana và Radna). Với người bạn đồng hành của mình, ngài đã vượt qua Serbia và Bulgaria bằng đường sắt trên tàu Orient Express và đến Constantinople ngày 16 tháng 2. Trong suốt cuộc hành trình, cha Rua chịu đựng đáng kể trong khoang kín, vì ngài không thể duỗi chân bị sưng.

Constantinople, Smyrna, Nadaret

Họ hiện đang ở Đế quốc Ottoman và cha Bretto thấy mình trong Tỉnh phương Đông vốn là trách nhiệm của ngài với cương vị là nhà Kinh lý. Mỗi điểm dừng trên đường được dành cho các yếu tố chung trong mỗi trường hợp: các bài phát biểu và tiếng vỗ tay, lời chúc mừng đến các tu sĩ có chức sắc cũng như các cơ quan chức sắc của Lãnh sự Ý, các cuộc thăm viếng các nhà hảo tâm và nhà của nhiều Dòng tu và Hội Dòng nhưng đặc biệt họ dành chú tâm đến các trung tâm Salêdiêng mới trong khu vực. Vì vậy ở Constantinople, nơi họ lưu lại từ ngày 16 đến ngày 24 tháng 2, cha Rua với tư cách khách mời của nhà Salêdiêng bận rộn với việc viếng thăm Đại biểu Tòa Thánh, Đại sứ Ý và bảy Tu hội: Đa Minh, Vinh Sơn, Anh em Kitô hữu, Dòng Tên, nữ Tu viện Phanxicô, Capuchin, Nữ Tử Bác ái. Trên đường đi, họ cũng cẩn thận liên lạc với các Giáo hội địa phương.

Ở đây chúng tôi sẽ tập trung vào những nhà Salêdiêng và những ký ức quan trọng nhất của cha Rua; độc giả sẽ tha thứ cho chúng tôi nếu chúng tôi bỏ qua những chi tiết về nhiều điểm dừng trung gian. Tối ngày 24 tháng 2, hai du khách rời Constantinople bằng thuyền để đi Smyrna, nơi chúng ta biết những người Salêdiêng đang điều hành hai công cuộc: một trường nghề và một trường học cho những người bình dân với một Nguyện xá gắn liền. Họ ở đó từ ngày 25 tháng Hai đến ngày 6 tháng Ba, và cho phép họ thăm viếng Êphêsô, nơi cha Rua muốn tôn kính ký ức về Công đồng Đại kết năm 431. Ngài viết: "Trong số những tàn tích của ngôi đền nơi Nestorius bị kết án và Đức Maria được long trọng tuyên bố là Mẹ Thiên Chúa, với nước mắt tràn mi tôi cầu nguyện với tất cả sự sốt sắng mà tôi có thể tập trung, xin Mẹ Thiên Chúa tiếp tục bảo vệ chúng ta dưới áo choàng của Mẹ và ban cho tất cả những người Salêdiêng ơn cổ võ nhiệt thành lòng sùng kính Mẹ và loan truyền tất cả vinh quang của Mẹ".[681]

Ngày 3 tháng Ba, thứ Ba Béo, các thiếu niên ở Nguyện xá tại Smyrna đã tổ chức một buổi chiều rất thú vị cho những vị khách với một cuộc diễu hành vui vẻ và một vở hài kịch đầy tiếng cười. Ngày 6 tháng Ba, qua Beirut và Damascus, họ rời Smyrna đi Tiberias, trước tiên bằng tàu hơi nước, sau đó bằng tàu hỏa và cuối cùng là ngựa và xe ngựa. Họ băng qua hồ trong một chiếc thuyền đánh cá. Sau này cha Rua sẽ kể với các anh em: "Tôi may mắn được xẻ sóng của Hồ Gennêsaret trên một chiếc thuyền. Chúa Giêsu đã bước trên nó ráo chân, dùng lời uy quyền của Người làm yên biển động, và vượt qua hồ nhiều lần trong thuyền của Phêrô. Tôi cảm thấy tôi là một phần của mẻ cá kỳ diệu đó. Khi tôi đặt chân lên đất liền, tôi cũng tưởng tượng rằng tôi đang nhìn vào một bờ biển đông người say sưa lắng nghe những lời của Thầy Chí Thánh khi Người giảng dạy từ trên thuyền. Và rất xúc động vì điều này, tôi hướng lòng tới tất cả những người con thân yêu của tôi và cầu nguyện thiết tha rằng tất cả họ có thể vững vàng gắn bó với chiếc thuyền của Phêrô, vì chỉ với ngài chúng ta mới có thể an toàn đến được bến bờ cứu rỗi.[682]

Như thế, thứ bảy ngày 14 tháng Ba, cha Rua và cha Bretto đến Nadaret, họ ở lại đây một tuần. Ban đầu, Trại Trẻ Mồ Côi Thiếu niên Giêsu ở Nadaret (1899) đã được lập ở một vị trí bất tiện trên đồi nhìn về thành phố. Các người Salêdiêng có đất đai rộng lớn ở đó. Giám đốc Athanasius Prun, lập tức khởi sự xây dựng một ngôi nhà lớn, hoàn toàn sẵn sàng để ở vào tháng Mười năm 1905. Vương cung Thánh đường xinh đẹp Chúa Giêsu Niên Thiếu sẽ được xây dựng sát bên cạnh nó. Lễ làm phép đặt viên đá đầu tiên chỉ vừa mới được cử hành gần đây, ngày 20 tháng Chín năm 1907.

Cha Rua đã không để mất một phút nào ở Nadaret, như chúng ta biết được từ bản tường thuật của cha Bretto. Ngày đầu tiên ngài dành riêng cho một chuyến viếng thăm kỹ lưỡng trại trẻ mồ côi được xây dựng gần đây, kiểm tra các công việc trên nhà thờ vốn đang tiến triển nhanh chóng, và cũng xem xét địa điểm cũ. Các học sinh đã chuẩn bị một buổi tiếp tân, và ngài cảm ơn các em bằng tiếng Ý. Không ai hiểu từ nào. Vì vậy, để huấn từ tối, ngài đã nhờ một người phiên dịch. Những ngày khác đã được dành riêng đặc biệt để đến thăm các giáo sĩ và tu sĩ. Cha Rua muốn đi đến Caimakam (Thống đốc) của thành phố, mặc dù theo Chính Thống Giáo, ông đã xin cha Rua chúc lành ngôi nhà và gia đình ông. Sau đó, Thống đốc nhanh chóng đáp lại chuyến thăm bằng cách đi đến trại trẻ mồ côi cùng với các chức sắc chính của địa phương và chỉ huy quân sự từ Jaffa vốn đang viếng thăm Nadaret. Các trẻ cảm thấy rất vinh dự và biểu diễn tốt nhất những tiết mục âm nhạc của mình. Họ trò chuyện cho đến khi mặt trời lặn, tại thời điểm đó người Hồi giáo rút lui một lúc ở dưới những mái vòm để cầu nguyện theo nghi thức của họ. Vị Tư lệnh quân đội không thể che giấu sự ngưỡng mộ của ông đối với cha Rua. Ông ta nhận xét: "Ông ấy thực sự là một vị Thánh!".[683] Cảm xúc của cha Rua mang tâm tình của người tu sĩ. Ngài thú nhận: "Tôi không thể ngừng nói về những ngày trải qua tại trại trẻ mồ côi của chúng ta ở Nadaret như thế nào, mỗi lần tôi thấy mình ở giữa những đứa trẻ thân yêu khi các em nắm tay tôi đầy tình cảm như vậy, hôn nó, đưa nó lên trán các em, dường như tôi đang nhìn Chúa Giêsu khi Người ở độ tuổi đó. Trong lòng tôi thường cảm ơn Người vì đã kêu gọi chúng ta làm thiện ích nào đó cho những người đồng bào của Người.[684]

Nadaret là chặng đầu tiên của cuộc hành hương qua Đất Thánh. Bề Trên Cả không muốn bỏ qua bất cứ điều gì, đặc biệt là thành phố. Ngài đi vài lần đến Đền thờ Truyền tin và cử hành Thánh Lễ ở đó. Ngài tôn kính những tàn tích của một Vương cung Thánh đường được xây dựng trong quá khứ trên nền cái mà mọi người tin là nhà của gia đình Thánh Gia. Sau đó, ngài đến thăm những tàn tích mà "truyền thống" cho đó là nơi tọa lạc xưởng mộc của Thánh Giuse, "Giếng Đức Mẹ" là nơi Đức Maria kéo nước cho gia đình, tàn tích của một hội đường cũ, nhà nguyện Trembling, nơi mà Đức Maria được cho là đã chạy khi Mẹ nghe nói rằng họ sắp ném Chúa Giêsu khỏi đỉnh đồi, và cả Mensa Christi, một khối đá khổng lồ, nơi mà Truyền thống một lần nữa cho rằng Chúa Giêsu ăn với các tông đồ sau khi Phục sinh.

Không xa Nadaret, chúng ta tìm thấy Núi Tabor, một truyền thống nói nơi đây diễn ra việc Chúa Giêsu hiển dung. Chiều ngày 16 tháng Ba, cha Rua và cha Bretto, cùng với cha giám đốc ​​Rosin và Cha Giám tỉnh Phêrô Cardano đi đến chân núi. Từ đó họ dẫn ngài đến nhà do những tu sĩ Phanxicô coi sóc nơi họ nghỉ qua đêm. Họ được đón tiếp chu đáo. Sáng hôm sau, sau khi cử hành Thánh Lễ, những khách hành hương leo lên đỉnh núi. Một tu sĩ Phanxicô làm hướng dẫn viên cho họ. Có sẵn những súc vật thồ nhưng cha Rua muốn tự leo lên. Khi đường lên trở nên rất dốc, ngài chỉ chấp nhận ngồi chênh vênh trên một con lừa.[685] Cả nhóm lên đến đỉnh núi, địa điểm được cho là nơi diễn ra việc Biến hình, và nhìn thấy tàn tích của Vương cung Thánh đường cổ bị phá hủy trong các sự kiện từ nhiều thế kỷ qua. Một bàn thờ được đặt ở giữa họ trong một khu vực bằng phẳng, nơi người ta nói rằng trong các cuộc hành hương vĩ đại Thánh Lễ thường được cử hành. Những khách hành hương không thể thu đủ bức tranh toàn cảnh tráng lệ trải dài dưới mắt họ. Họ sửng sốt: Núi Hermon lớn và nhỏ hơn, những ngọn núi Gilboa, đồng bằng Esdrelon phía sau mà họ có thể thoáng thấy những ngọn núi ở Samaria. Chiêm ngưỡng cảnh này nhắc nhở họ về một miêu tả trong Kinh Thánh như con trai bà góa thành Nain sống lại và Phù thủy Endor, hoặc các sự kiện lịch sử như Thập tự chinh, Saladin và Napoléon. Thông thường cha Rua sẽ không quá phấn khích. Nhưng cha Bretto bảo đảm với chúng tôi rằng lần này ngài kêu lên: "Đến Nadaret mà không leo núi Tabor sẽ mang tội".[686]

Tại Nadaret, Cha Rua chuẩn bị cho tất cả mọi người nhân ngày lễ Thánh Giuse, sẽ được tổ chức vào ngày 19 tháng Ba. Ngài xin cha Prun kể cho các em biết cách đây mười năm, khi trại trẻ mồ côi bắt đầu, Thánh Giuse đã cho họ một món quà tuyệt vời như thế nào. Ngày 3 tháng Ba năm đó, họ sửa soạn gửi học sinh đi vì thiếu tiền. Giám đốc đã gửi các bạn trẻ đến cầu nguyện Thánh Giuse. Một lá thư bảo đảm đến một vài ngày sau đó, ngày 3 tháng Ba, tặng mười ngàn franc để trả các khoản nợ và năm ngàn để duy trì công việc tiếp tục hoạt động.[687] Ngày lễ Thánh Giuse được tổ chức rất sôi nổi và thân tình.

Bêlem, Jerusalem, Cremisan, Beitgemal, Haifa

Ngày hôm sau, ngày 20 tháng Năm, những khách hành hương đi thẳng đến Giêrusalem và Bêlem. Đó là một cuộc hành trình gian nan nhưng có phong cảnh đẹp như tranh vẽ, lúc đầu trên lưng ngựa. Vì thiếu kinh nghiệm cưỡi ngựa nên không thể tránh bị ngã vài lần. Cha Rosin, người đi với họ, nói: "Cha Rua, được khuyến khích để leo lên con ngựa của ngài, vì không có phương tiện vận chuyển nào khác, chỉ bỏ cuộc sau một thời gian dài, và chỉ để làm hài lòng chúng tôi". Rủi thay con ngựa bị vấp và hất người cưỡi đáng thương khiến chúng tôi hoảng hồn. Ngài đập đầu xuống đất và trán bị thâm tím. Ngài đứng dậy ngay lập tức, cười và nói rằng ngài không sao cả, nhưng ngài không muốn leo lên yên ngựa lần nữa".[688]

Họ tiến chậm chậm đến Naplusa, qua đêm ở đó trong giáo xứ thuộc Tòa Thượng Phụ Latinh, và ngày hôm sau, ngày 22 tháng Ba, họ thuê một chiếc xe ngựa chạy dọc theo con đường xuống cấp nặng để cuối cùng đến Giêrusalem. Họ đang được chờ đợi ở trường học Ý, nơi đây họ chỉ nghỉ lại một đêm.

Ngày 23 tháng Ba, viện cô nhi của người Salêdiêng tại Bêlem đã sẵn sàng đâu đấy một bữa tiệc chào mừng sôi động. Một khải hoàn môn tò vò đã được dựng bên kia con đường dẫn tới cơ sở. Một đám đông người dân địa phương và học sinh chào đón người kế vị Don Bosco. Chỉ trong chớp mắt nhà thờ đầy những người là người. Cha Rua cảm ơn đám đông và ban phép lành Thánh Thể cho họ. Bêlem là nơi ngài ở lại trong bốn tuần tiếp theo khi ngài đi quanh khu vực này.

Để không bị lạc trong các tiểu tiết nhỏ mà sẽ gây nhàm chán cho bất cứ ai không quen thuộc với các địa danh, chúng tôi trích dẫn chỉ một số chi tiết liên quan đến cha Rua. Ngài viết trong một lá thư gửi cho những người Salêdiêng ngày 24 tháng Sáu: "Ngày 24 tháng Ba, nhờ vào lòng tốt của các Cha dòng Phanxicô, cha được may mắn cử hành Thánh Lễ ở Bêlem tại Hang động Giáng sinh, và cha có thể bảo đảm với anh chị em rằng cầu nguyện ở nơi đó không chỉ khiến lòng bừng cháy tình yêu dành cho Thiên Chúa, Đấng đã tự hạ mình trở thành phàm nhân để cứu rỗi chúng ta, nhưng người ta cảm thấy một sự thúc đẩy mạnh mẽ để bắt chước Người trong sự khiêm nhường và khó nghèo".[689]

Chúng ta hãy tiếp tục với một "phép lạ" đã trở thành một phần của "các truyền thuyết vàng" về vị anh hùng chúng ta, và được các Nữ tu Salêdiêng nhiệt tâm truyền lại cho chúng ta. Ngày 28 tháng Ba, cha Rua cử hành Thánh Lễ tại Giêrusalem trong nhà nguyện của Nữ tu dòng Salêdiêng. Amadei kể câu chuyện được Sơ Felicina Vaccarone chứng kiến - và chúng tôi sẽ để Sơ chịu trách nhiệm về nó.

Biết rằng ngài hạ cố đến thăm cơ sở chúng tôi, tất cả các em gái từ trường, và trẻ nhỏ từ trường mẫu giáo đã tụ họp dọc theo hành lang dài gần lối vào. Vừa khi ngài ở giữa chúng tôi, các em gái đọc một bài diễn văn để chào đón. Người Cha tốt lành khuyến khích các em và chúc mừng các em vì phát âm tiếng Ý chuẩn, và cho các em một số lời khuyên tuyệt vời, thúc giục các em làm người tốt. Sau đó ngài quay sang cha Bretto và nói: "Bây giờ chúng ta cần cái gì đó để tặng các em gái tốt lành này". Cha Bretto mỉm cười, rồi thọc tay vào túi và rút ra một túi giấy nhỏ với khoảng ba mươi viên kẹo bạc hà ở trong, và đưa cho cha Rua. Người Cha đáng kính thấy rằng có quá ít cho quá nhiều em, và hết mực khiêm nhường và tin tưởng vào Thiên Chúa, nói: "Vậy thì, chúng ta hãy bắt đầu phát kẹo và Thiên Chúa Toàn Năng .... sẽ đến trợ giúp chúng ta". Chúng ta có thể nói gì? Với các em gái và trẻ em từ trường mẫu giáo có khoảng 200 em và có đủ kẹo bạc hà cho tất cả mọi người, mỗi em được 5 hoặc 6 viên. Khi đã phát xong cho các em học sinh, người Cha tốt lành nói: "Tôi cũng muốn tặng một ít cho các Nữ tu ..."; và ngài đã làm vậy: ngài cho tất cả chúng tôi một ít và có mười hai người trong chúng tôi, và có đủ. Tôi nhớ rất rõ là người cuối cùng, Sơ Agatha Tomaselli, nhận được kẹo bạc hà của mình và chiếc túi giấy. Và như vậy kết thúc việc phát kẹo kỳ diệu, mà mọi người đều thấy. Các Nữ tu và các em gái ở đó là những người làm chứng. Sau đó, cha Bretto không thể nào quên quay sang các Nữ tu chúng tôi và nói: "Đó là một phép lạ thực sự. Chẳng có gì để cười cả!".[690]

Cha Rua rất cẩn thận không bỏ qua lý do chính cho chuyến hành hương của mình đến Đất Thánh: "Cuối cùng, ngày 30 tháng Ba, run run đầy cảm xúc, cha dâng Thánh Lễ tại Mồ Thánh. Đó là lúc cha tạ ơn Chúa vì đã cho phép Tu hội chúng ta chiến thắng những lời vu khống của kẻ thù chúng ta và vì đã giành được lợi thế lớn lao cho các công cuộc chúng ta bởi lý do đó. Trong đền thờ đáng kính đó, cha lặp lại lời tận hiến Tu hội chúng ta cho Thánh Tâm Chúa Giêsu và cuối cùng cầu nguyện cho mọi hội viên chúng ta được bền đỗ trong ơn gọi của mình và không một ai bị hư mất".[691]

Cha Rua dành những ngày cuối cùng trong tháng Ba và những ngày đầu tiên trong tháng Tư đến thăm những Nhà Salêdiêng ở Cremisan và Beitgemal với những mảnh đất rộng rãi sẵn sàng để trồng trọt. Theo thói quen khi thanh tra các công cuộc ở Ý, ngài để lại một loạt các mục được đánh số cần chú trọng, cho thấy ​​những mối quan tâm chính của ngài, cả về tinh thần lẫn vật chất.[692]

Tại Cremisan, ngài có thể thấy những bất tiện khi bị buộc phải sử dụng tiếng Ý trong cuộc sống hàng ngày ở những nhà tại Palestine mà chúng tôi tự nhắc nhở chính mình, chính ngài đã yêu cầu. Vì vậy, theo yêu cầu của vị Kinh lý, cha Bretto, ngài viết một danh sách những điều cần chú trọng:

1. Kinh Sáng bằng tiếng Ả Rập.

2. Huấn đức cho người trẻ bằng tiếng Ả Rập vào Dọn mình Chết lành.

3. Các linh mục để có kinh nghiệm trong việc giảng thuyết mỗi ngày Chúa Nhật thứ hai (bằng tiếng Ả Rập).

4. Lập nhà tập ở đó cho các thầy và chọn một tập sư tốt.

5. Gửi các sinh viên (thuộc Giáo hội) Latinh có ơn gọi đến Cremisan, từ tất cả các nhà ở Trung Đông.

6. Chăm sóc rượu vang và rượu grappa và tăng sản lượng.

7. Trồng cây trên diện rộng của đất đai.

8. Thúc đẩy trồng trọt ngũ cốc, trái cây và rau quả.

9. Nhắm đến việc dựa vào các sản phẩm của riêng mình là thức ăn và chất đốt, ngoại trừ ánh sáng và nhờ rượu vang, tất cả các chi phí khác.

10. Tỉnh dòng phải lo liệu xem tất cả các việc đăng ký thích hợp cho tài sản, đặc biệt quan tâm đến kế toán và quản trị.

Thật vậy rượu Cremisan sẽ sớm nổi tiếng khắp Palestine và sau đó là ở Israel.

Cha Rua và Bretto ở lại Beitgemal từ ngày 1 đến ngày 5 tháng Tư. Danh sách những vật phẩm tinh thần và vật chất (mà theo Amadei đã được trao cho Giám tỉnh Cardano một tháng sau đó tại Alexandria) rất chi tiết: hai mươi mốt thứ liên quan đến vật chất và, tôi cho là, được cha Bretto tập hợp lại; mười một thứ thuộc loại tinh thần và hành chính, được dành cho giám đốc và Quản lý. Những thứ này phản ánh những mối quan tâm của cha Rua về việc quản trị các nhà Salêdiêng và ý tưởng của ngài về nhiệm vụ của Giám đốc Salêdiêng.

Dành cho Beitgemal, cho giám đốc và Quản lý.

1. Giám đốc được nhắc nhở rằng vai trò của ngài mang tính thiêng liêng hơn thế tục, do đó ngài hãy cẩn thận đừng để bị những vấn đề vật chất choán tâm trí gây thiệt hại cho tinh thần.

2. Lo liệu có hai bài giảng mỗi Chúa nhật, một buổi sáng, một buổi tối.

3. Huấn đức các hội viên hai lần mỗi tháng và nhận bàn hỏi thân tình với họ hàng tháng.

Cũng ban huấn đức hàng tháng cho các nữ tu vào Dọn mình Chết lành.

5. Xem liệu những gì có thể cần sửa chữa cho nhà ở của các nữ tu.

6. Cung cấp các lớp thần học cho NN. ít nhất ba lần một tuần.

7. Khuyến khích các sư huynh và gia đình bằng những lời tốt đẹp và sự thân tình hiền phụ, cho họ biết phải làm gì và cho họ cơ hội giải thích các hoạt động của họ.

8. Quản lý phải coi sóc tất cả việc kế toán và đăng ký, nhưng trong hoàn cảnh hiện tại, vì ngài thường phải ra ngoài, ngài có thể chia sẻ vai trò quan trọng này với giám đốc.

9. Cũng vậy ngài không được dành tất cả thời gian của mình cho những vấn đề vật chất; ngài phải có mặt để thực hành việc đạo đức trong cộng đoàn, và dành riêng ít nhất một ít thời gian để học hỏi về thiêng liêng.

10. Trong quản lý vật chất hãy để ngài được một sư huynh đáng tin cậy và có năng lực giúp đỡ nhiều nhất bao có thể.

11. Bảo đảm rằng hệ thống đàn áp không được đón nhận, và phải nói chuyện với bất cứ ai có cách tiếp cận đó.

Một lần nữa chúng ta thấy những gợi ý của cha Rua vị Kinh lý cho những nhà Piedmontese trong thời gian 1872-1876

Tôi trích dẫn một văn bản quan trọng mà Bollettino Salesiano loại ra, có lẽ theo yêu cầu của cha Rua. Ngày 11 tháng Tư, sắc lệnh về Sự Đáng Kính của Don Bosco được long trọng tổ chức tại Jaffa, ngôi nhà được Hiệp hội Quốc gia trợ giúp những nhà truyền giáo Ý giao phó cho những người Salêdiêng. Một buổi tiếp tân đi liền sau Thánh Lễ trọng thể mà cha Rua chủ trì. Phó Lãnh sự Allonso muốn phát biểu bằng tiếng Ả Rập. Thanh tra của các trường học Thổ Nhĩ Kỳ, rất ấn tượng, ca ngợi công cuộc của người Salêdiêng và cuối cùng cha Rua cảm ơn những người ở đó đơn giản đến mức khi ra về, theo Bretto, người viết lại sự kiện này, thái độ của ngài dường như là "nhiệt tình đến nỗi mọi người ra về nói rằng 'Chúng tôi đã chứng kiến ​​một vị Thánh và chúng tôi đã nghe những điều mà chúng tôi chưa từng mong đợi được nghe'.”[693]

Tuần Thánh đến (12-19 tháng Tư). Cha Rua theo tất cả các buổi lễ tại Bêlem hoặc Giêrusalem. Bản thân ngài muốn chủ trì việc "rửa chân" mười ba thiếu niên từ viện trẻ mồ côi Bêlem. Vào Thứ Sáu Tuần Thánh, ngài tham dự Via Crucis ở Giêrusalem do các thầy dòng Phanxicô tổ chức dọc theo Via Dolorosa. Bị buộc phải đứng lâu giờ, giữa những đám đông không thể tránh khỏi, chân ngài bị sưng rất đau đớn. Chúng tôi biết việc này từ bản miêu tả chi tiết của Cha Bretto.

Nó tạo nên một cảnh tượng hoành tráng: ngàn ngàn khách hành hương Kitô hữu, không phải tất cả là người Công giáo, sốt sắng theo cha dòng Phanxicô, người đã đưa một nhận xét ngắn xúc động ở mỗi Chặng, sau đó đọc lời kinh thông thường.

Tuy nhiên, thật không may, buổi cầu nguyện này thường bị quấy rầy bởi những người lính Thổ Nhĩ Kỳ, họ đi qua đám đông các Kitô hữu mộ đạo nhiều lần để nhấn mạnh họ đang kiểm soát những nơi này. Thật vậy năm nay chúng tôi vẫn đang tập trung trên con đường phía trước sân trong của người Thổ Nhĩ Kỳ tại Chặng đầu tiên thì một cuộc diễu hành với binh lính cầm cờ và âm nhạc Thổ Nhĩ Kỳ buộc chúng tôi đứng dạt sát vào tường. Họ cứ tiếp tục đến, mang theo những súng nòng dài nạp đạn, trên lưng ngựa với những khẩu súng trường được giương lên sẵn sàng, những người khác với đôi chân có các mũi giáo. Có nhiều loại đồng phục và họ có màu da nâu đến đen sậm. Đằng sau họ là người đứng đầu tôn giáo của họ, cư trú tại Giêrusalem, trên lưng ngựa.

Khi cuộc diễu binh đã đi qua, đám rước bắt đầu, nhưng ở một vài Chặng, việc di chuyển từ chặng này đến chặng kia gặp khó khăn vì đám đông lớn, trong khi Cha đang nói chúng tôi nghe thấy tiếng kèn thông báo một đội lính tuần tra lớn đang đến. Vị linh mục yêu cầu mọi người nhường chỗ mà không tỏ ra bất kỳ dấu hiệu thiếu kiên nhẫn nào; họ đi qua và sau đó chúng tôi bắt đầu trở lại trên con đường dọc theo Via Dolorosa.

Chúng tôi vây quanh cha Rua đáng thương để bảo vệ ngài khỏi bị xô đẩy và chen lấn từ mọi phía; nhưng con người tội nghiệp ấy chắc hẳn đã rất mệt mỏi vì vào buổi tối chúng tôi thấy hầu như ngài không thể đứng nổi. Tại một thời điểm dọc theo Via Crucis, nơi những con phố hẹp và đám rước phải tự lùi lại, chúng tôi nghe thấy một tiếng huyên náo bất thường và mọi người la hét, khiến chúng tôi sợ rằng đã gặp phải một dạng bạo động, nhưng cách tiếp cận đầy nghị lực của một số các thầy dòng Phanxicô và một số cận vệ trả lại sự tĩnh lặng và chúng tôi đi tiếp lên đồi Calvê, nơi có một số Chặng, tất cả trong Vương cung Thánh đường Mồ Thánh.

Tại điểm này việc đi vào trở nên khó khăn hơn. Đám đông khổng lồ chen chúc và chúng tôi phải chống chọi để giữ cho cha Rua được gần vị linh mục đang giảng thuyết, để có thể nghe rõ. Chúng tôi hăng hái cho ngài lẫn chính chúng tôi, vì vậy chúng tôi đã đẩy mình lên các bậc thang dẫn thẳng dốc tới vị trí đồi Calvê. Sau đó, cũng nỗ lực như vậy và rất cẩn thận, chúng tôi vội vã quay lại để đến chỗ của Chặng cuối cùng tại Mồ Thánh.[694]

Buổi lễ ngày Thứ Sáu Tuần Thánh đó là một Via Crucis đích thực cho Cha Rua. Chắc chắn với một người sùng mộ như ngài nó nâng tâm hồn ngài lên. Ngày Chúa Nhật Phục Sinh 19 tháng Tư, cử hành tại Bêlem, cuộc hành hương đến những linh địa, được gọi đúng đắn là thế, đã kết thúc. Ngày hôm sau chuyến đi trở về Ý bắt đầu bằng đường biển. Chúng tôi sẽ tóm tắt việc này, vì bản tường trình, đặc biệt là trong phiên bản lớn hơn được Bollettino đăng tải (có liên quan tới việc đáp ứng và đề cập đến tất cả các công cuộc và những người đã gặp), khá phong phú.

Ngày 20 tháng Tư, cha Rua và Bretto bắt đầu lên tàu tại Haifa đi đến Alexandria ở Ai Cập, nơi những người Salêdiêng điều hành một ngôi trường Ý thành công. Từ ngày 21 đến 30 tháng Tư, họ đã làm cuộc kinh lý cặn kẽ về công cuộc. Trong khi đó, ngày 24 tháng Tư, Phó Tổng Bề trên Rinaldi gửi cho các Giám tỉnh và giám đốc một bức thư luân lưu dài từ Turin về chuyến đi của Bề Trên Cả đến Trung Đông, Tiểu Á và Đất Thánh.[695] Bằng cách này toàn Tu hội có thể đồng hành với Bề Trên Cả.

Ngày 30 tháng Tư chiếc tàu hơi nước Orione rời Alexandria đi Messina ở Sicily. Họ lên bờ ngày 4 tháng Năm, sau một cuộc vượt biển gay go vì bão. Cha Rua đến thăm những nhà Salêdiêng trên đảo. Ngày 5 tháng Năm, ngài ở Syracuse, sau đó lên tàu từ đây đi Malta và La Valletta, ở đó ngài khánh thành một cơ sở Salêdiêng mới (Sliema), một dịp có nhiều lễ hội khác nhau. Ngày 8 tháng Năm chúng tôi thấy ngài ở Sicily và thứ ba ngày 12 trở lại ở lục địa Calabria. Sau đó ngài tiếp tục đến Bari, Foggia, Macerata (17 tháng Năm), rồi đến Loreto, Bologna (ngày 19 tháng Năm), và cuối cùng đến Alessandria (ngày 20 tháng Năm). Ngày hôm đó ngài đến thăm các Nữ tu Salêdiêng trong thành phố, các chị em buồn bã thấy ngài cực kỳ mệt mỏi như thế nào: "Môi ngài khô khốc, trông ngài giống như một người bị đóng đinh". Tối hôm đó, ngài bước vào lại Nguyện xá ở Turin, nơi sau các buổi lễ dành cho tháng Đức Maria, ngài ban phép lành Thánh Thể và ngâm nga Te Deum tạ ơn Chúa vì đã đưa cuộc hành trình đến hồi kết thúc, cuộc hành trình dài nhất trong cả đời ngài. Ngày 24 tháng Năm, trong một thư luân lưu gửi các Giám tỉnh và Giám đốc, Cha Tổng Phó Bề trên Rinaldi, có thể nói rằng Bề Trên Cả, "trở về từ chuyến đi dài của ngài để thăm các nhà của chúng ta ở Trung Đông", cảm ơn "các hội viên thân yêu một cách nồng nhiệt vì những lời cầu nguyện đồng hành với ngài trong những tháng qua” và hy vọng rằng họ sẽ "qua tháng Thánh Tâm Chúa Giêsu sắp đến cách thánh thiện".[696]

Những cảm tưởng trong chuyến đi

Cha Rua dành lá thư luân lưu ngày 24 tháng Sáu viết về chuyến đi của mình đến Trung Đông. Ngài bày tỏ sự hài lòng, thực sự là ngài hài lòng quá độ (nếu tôi có thể liều lĩnh dùng tính từ hiện đại này). Không những chuyến hành hương đến những thánh địa làm ngài thỏa mãn, như chúng ta vừa thấy, mà nó còn cho ngài cách để thấy ở mọi nơi những lời vu khống nhằm phá hủy Tu hội vào những tháng trước đã không để lại dấu vết nào. Ở mọi nơi ngài thấy lời khen ngợi, không có bóng dáng của sự dè dặt ở bất cứ nơi đâu. Trước khi viết tiếp về những cảm tưởng mà ngài có về những địa điểm linh thánh, ngài nhấn mạnh với đầy đủ chi tiết về sự hài lòng của mình về công trình của các con cái mình ở những vùng xa xôi đó.

Trước hết chuyến đi này cho phép cha viết về kết quả chuyến viếng thăm mà cha đã thực hiện đến nhiều nhà của chúng ta trong suốt cuộc hành trình của cha. Ở mỗi nơi, cha cố gắng lưu lại lâu hết sức có thể để có được ý tưởng chính xác về những công cuộc mà các hội viên chúng ta đang điều hành, những khó khăn mà họ gặp phải trong công việc tông đồ vốn không phải lúc nào cũng dễ dàng và kết quả họ đạt được từ những nỗ lực của mình. Từ những gì chính mắt cha nhìn thấy, chính tai cha nghe được và, có thể nói, chính tay cha chạm đến, cha rút ra được niềm an ủi sâu thẳm khi có thể kết luận rằng Chúa tiếp tục chúc lành cho Tu hội chúng ta, và Ngài không ngừng dùng chúng ta như một công cụ vì lợi ích của nhiều linh hồn.

Lời khen ngợi dư đầy khắp nơi: ở Áo-Hung, ở Tiểu Á, ở Đất Thánh, ở Ai Cập, Malta, Sicily, và khắp bán đảo Ý. "Những lời vu khống và sự bách hại của những cá nhân khó chịu chống lại các bề trên và giáo viên cũ trước đây của họ, thay vì khiến những cựu học sinh xa lánh chúng ta, thì lại cho thấy tình cảm và sự nhìn nhận được thức tỉnh một cách an ủi và thúc giục họ cùng sát cánh và cho thấy họ càng trung thành hơn với việc giảng dạy họ đã nhận được". Chúng tôi lưu ý rằng hội Cựu Học sinh Salêdiêng ra mắt chính xác vào năm 1908.

Nhưng ngài vội vã nói thêm rằng tất cả những lời khen ngợi phải được gửi đến Don Bosco:

Cha thú nhận rằng về phần mình, cha thích rằng họ bỏ qua bản thân tội nghiệp của cha, và chỉ nói những gì cho vinh quang cả sáng của Thiên Chúa và lợi ích các linh hồn. Nhưng không ai được thuyết phục hơn cha rằng bất cứ điều gì được thực hiện để tôn vinh cha Rua, chỉ là sự phản ánh tình cảm và sự tôn kính mà họ dành cho Don Bosco; vì vậy cha không tin rằng mình nên ngăn chặn những dấu hiệu như vậy. Thật vậy, liên quan đặc biệt đến chuyến đi cuối cùng của cha, cha thấy dường như mình có nhiệm vụ chấp thuận và cho phép những cách thể hiện lòng quý trọng này vốn sẽ được các Cộng Tác viên chúng ta biết đến [ám chỉ đến các bài viết để theo dõi trên tờ Bollettino], để họ có thể biết rõ hơn công cuộc chính của ngài, cùng với Don Bosco, thậm chí ở những vùng xa xôi, được trân trọng biết bao; đó là, Tu hội chúng ta. ... Cha có bằng chứng rõ ràng, trong những chuyến hành trình gần đây, về lòng quý trọng mà các chức sắc giáo hội và dân sự, các Dòng Tu, những công dân được kính trọng nhất dành cho Tu hội Salêdiêng. ... Trong cương vị Bề Trên Cả ở mọi nơi mọi người đều muốn tôn vinh Tu hội chúng ta; với sự hoan hô, khen ngợi, các buổi văn nghệ mà họ dành cho cha, ngoài sự tôn kính cho Don Bosco, họ bày tỏ lòng biết ơn họ cảm nhận được đối với tất cả những người Salêdiêng. Và đây là lý do tại sao tại thời điểm đó con người khiêm hạ của cha biến mất, và Tu hội chúng ta được tán dương và Đấng Sáng lập Đáng Kính của chúng ta được hoan hô.[697]

Một thế kỷ sau, có lẽ những lời đạo đức và tình cảm mến này không thuyết phục chúng ta. Thật vậy, bất cứ nơi nào ngài đến thì đó là do họ muốn thấy và nghe người kế vị thánh thiện của Don Bosco. Điều này thật hiển nhiên và những độc giả của Bollettino năm 1908 biết điều đó mặc cho chuyến đi được kể lại theo đường nét nào.

Quá trình tuyên chân phước và tuyên thánh Đaminh Savio

Ngày 4 tháng Tư năm 1908, trong khi chuyến hành hương ở Palestine vẫn còn đang tiếp diễn, quá trình cung cấp thông tin tại Turin cho việc tuyên Chân phước và tuyên Thánh của Đaminh Savio mở ra. Cha Rua được trích dẫn là một trong những nhân chứng ưu tiên,[698] cùng với năm người khác: Giáo sĩ Gioan Tẩy Giả Anfossi và Giacinto Ballesio, những người Salêdiêng Cagliero và Cerruti, và giáo dân Charles Savio, một nông dân từ Mondonio. Bốn nhân chứng chính thức khác sau đó được bổ sung: người Salêdiêng cha Francesia, và các linh mục giáo xứ Cha Piano, Pastrone và Vaschetti.

Giữa nhóm nhân chứng, chắc chắn cha​​ Rua là người cung cấp thông tin nhiều nhất. Ngài can thiệp trong sáu phiên tòa, từ ngày 23 tháng Sáu đến ngày 20 tháng Bảy năm 1908. Chúng tôi tìm thấy các câu trả lời của ngài trong Summarium với 243 trang trong một phần của bộ sưu tập mang tên Positio super introductione causae beatificationis và canonizationis Servi Dei Dominici Savio.[699] Cha Rua đã không tiếc lời khen ngợi người bạn đồng liêu trước đây của mình tại Nguyện xá ở Valdocco. Cậu đã kết thân với cha Rua từ khi ngài đến Nguyện xá ở Valdocco vào tháng Mười năm 1854, cho đến khi cuối cùng cậu ra đi, vào đêm cậu qua đời tháng Ba năm 1857. Sau năm mươi năm, ngài được thẩm vấn về các nhân đức của người môn đệ đồng liêu, tiếp tục khơi dậy sự ngưỡng mộ nồng nhiệt trong ngài. Niềm tin của thiếu niên ấy là một niềm tin cực kỳ “đơn sơ”. "Tôi Tớ Chúa được hướng dẫn trong mọi hành động bằng hy vọng về phần thưởng đời đời". "Tôi được thuyết phục rằng Tôi Tớ Chúa không bao giờ phạm một trọng, tôi sẽ nói, cũng như không có bất kỳ tội nhẹ nào". “Cậu thường đi vào trạng thái ngây ngất trước Thánh Thể hoặc bàn thờ Đức Mẹ. Cậu nhiệt tâm lo việc cứu rỗi linh hồn gần tới mức độ anh hùng. Cậu anh hùng khi thực hành công bằng, khôn ngoan, can đảm, tiết độ, khiết tịnh, khiêm nhường và vâng phục. Cậu thực sự là một vị Thánh. Bên cạnh đó, sau khi qua đời, các đồng bạn của cậu lập tức bắt đầu cầu nguyện xin cậu cầu bầu, và các tu sĩ xuất sắc mong đợi cậu được tuyên thánh”. Cha Rua cũng trích dẫn hai sự chữa lành được ban nhờ cậu chuyển cầu: “Tôi đã nghe nhiều về các ơn nhận được nhờ Tôi Tớ Chúa chuyển bầu, một số chính tôi đã viết xuống khi những người được nhận ơn đọc cho tôi chép, và chúng có thể được tìm thấy trong phụ lục cho cuốn Cuộc đời [Đaminh Savio] được Đấng Đáng Kính Gioan Bosco viết, và trong số những ân sủng nhận được nhờ Tôi Tớ Chúa chuyển cầu, một số có vẻ kỳ diệu”.[700]

Những phiên họp dài trước tòa án giáo phận, có nhiệm vụ chuẩn bị án kiện tuyên Chân phước cho Đaminh Savio, cùng với thông báo của ngài về chuyến kinh lý ngoại thường và chuyến đi đến phương Đông, sự kiện thứ ba năm 1908 đã khiến bảy tháng đau đớn nhưng đầy an ủi đó trở nên đáng nhớ với cha Rua. Chuyến kinh lý ngoại thường tới các nhà của người Salêdiêng, được thông báo vào tháng Giêng, có được những kết quả an tâm. Cuộc hành trình dài qua Trung Âu, Tiểu Á, Palestine, Ai Cập và miền Nam nước Ý đã an ủi trái tim ngài. Bây giờ quá trình mở án kiện phong thánh cho Đaminh Savio cho phép ngài sống lại một số khoảnh khắc ưu tuyển thời trẻ của mình.

Chú thích

[674] L.C., 378-381.

[675] FdR 4247C12-D1.

[676] Tên và chức vụ của các vị Kinh lý và Đại diện, cũng như việc chỉ định các vùng chính xác sẽ được kinh lý, xuất hiện trong biên bản chi tiết phiên họp Tu Nghị Bề trên ngày 30 tháng Giêng, 1908, FdR 4247D2-3.

[677] L.C., 382-395.

[678] Giấy thông hành của ngài được giữ trong FdR 2752E4-6.

[679] Thư khai trí số 11, ngày 24 tháng Sáu, 1908, trong L.C., 522-533.

[680] Nguồn thông tin chủ yếu của chúng tôi về chuyến hành trình năm 1908 là bản tường thuật viết tay dài 164 trang được Cha Bretto gửi Cha Rinaldi, được tìm thấy trong FdR 3013E12-3016D9 (ở đây trích dẫn là Relazione). Nó đã được sửa lại kỹ cho thích hợp, kéo dài và được chia thành 12 phần trong Bollettino Salesiano; nó được sửa lại thành theo hình thức những lá thư đề ngày tháng và được gửi riêng từng lá từ Costantinopole, Smyrna, Nazareth (hai "lá thư"), Bethlehem (ba "lá thư"), Port-Said, Alexandria in Egypt, Catania, Bari và Parma (x. Bollettino Salesiano, 1908, 134-140, 164-170, 197-206). Cũng xem I. Grego, Sulle orme di Cristo. Il Beato Michele Rua, Primo Successore di Don Bosco, pellegrino in Terra Santa, Gierusalem, Nhà xuất bản Phan Sinh, 1973, 33-63, được cung nghiêm túc cung cấp bằng tư liệu, nhưng có những phần phụ thuộc chủ yếu vào Bollettino Salesiano.

[681] Thư luân lưu, ngày 24 tháng Sáu, 1908, trong L.C., 527.

[682] L.C., 528.

[683] Bản tường thuật, 79.

[684] L.C., 528-529.

[685] Bản tường thuật thứ hai của Cha Rosin, được lấy trong Amadei III, 383-384.

[686] Bản tường thuật, 82.

[687] Bản tường thuật, 84.

[688] Amadei III, 385-386.

[689] L.C., 529.

[690] Amadei III, 389-390. I. Grego (Sulle orme di Cristo, 4) giải thích rằng các Sơ Maria Cattan và Emila Ayub, và cựu học sinh Latife Shaer - người cuối cùng này từ Cha Fr Laconi - đích thân kể sự kiện này với ngài.

[691] L.C., 529.

[692] Chúng ta đọc những việc này trong Amadei III, 390-393. Tính xác thực của chúng dường như được bảo đảm bởi việc chúng được viết theo văn phong đánh số thông thường của Cha Rua.

[693] Bản tường thuật, 119, in FdR 3015E12.

[694] Bản tường thuật, 124-126, in FdR3016A5-7.

[695] Thư luân lưu này, kết quả của những lá thư được viết giữa Cha Bretto và Cha Rinaldi trong suốt chuyến đi, được giữ trong FdR 4074E7-12.

[696] FdR 4075A1-3.

[697] L.C., 522-527.

[698] P. Stella, La canonizzazione, 152.

[699] Asten. et Taurinen. Beatificationis et Canonizationis Servi Dei Dominici Savio adolescentis laici alumni Oratorii Salesiani. Summarium super dubio, Rome, Istituto Pio IX, 1913.

[700] Ibid., 179.


FMA Logo

Địa chỉ: 57 Đường số 4, Khu phố 56, P. Tam Bình, TP. Hồ Chí Minh

Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về email: libraryfmavtn@gmail.com

Liên Kết

Truyền Thông FMA

Copyright Dòng Con Đức Mẹ Phù Hộ © 2026