FMA Logo

31. Năm 1907



Vụ việc phong chân phước của Don Bosco

Năm 1907 là một năm vui vẻ tràn trề dành cho cha Rua, một niềm vui, nhưng đồng thời cũng đi kèm đau khổ bởi một phiên tòa khủng khiếp.

Vụ việc tuyên thánh của Don Bosco mà ngài rất nặng lòng với nó, đã đi đến một giai đoạn quyết định. Độc giả sẽ cho phép chúng tôi quay trở lại năm 1888 để hiểu rõ hơn về vấn đề này. Quá trình tuyên chân phước và tuyên thánh trên thực tế khá phức tạp, hầu như là vòng đua vượt chướng ngại vật. Được Đức Hồng y Bảo trợ và các vị bảo trợ Salêdiêng trợ giúp, cha Rua đã qua được giai đoạn đầu tiên. Năm 1907, ngài có thể thông báo cho Tu hội rằng ‘Don Bosco là Đấng Đáng Kính’. Nhưng ngài đã phải chịu đựng mười chín năm mới đạt được kết quả quan trọng đầu tiên đó.[623]

Đầu tiên ngài phải được Đức Tổng Giám mục Turin chấp thuận để khai mạc tiến trình cấp giáo phận của việc tuyên chân phước và tuyên thánh vốn sẽ làm cho thủ tục mới tiến hành. Ngày 16 tháng Bảy năm 1889, cha Rua khởi sự bằng cách gửi một thư luân lưu cho các Giám mục của Piedmont và Liguria về danh tiếng sự thánh thiện và những phép lạ của Don Bosco.[624] Bằng phương pháp khuyến khích, ngày 16 tháng Tám, ngài gửi cho họ một bức thư thứ hai dẫn chứng bằng tư liệu một số vụ chữa lành nhận được qua sự cầu bầu của Don Bosco mà con người không giải thích được.[625] Một số Giám mục trả lời bày tỏ lời ca tụng và khen ngợi. Vì vậy, ngày 6 tháng Chín, ngài đã có thể yêu cầu bốn mươi chín thành viên của Tổng Tu Nghị, tập hợp tại Valsalice, ký một đề nghị được dẫn chứng rõ ràng bằng tư liệu gửi cho Đức Hồng y Alimonda để nhanh chóng mở tiến trình. Ngài đính kèm các lá thư của các Giám mục để thỉnh cầu. Đơn thỉnh cầu của các thành viên Tổng Tu Nghị bắt đầu: ‘Chúng con tin rằng Đức Hồng y sẽ vui lòng xem xét lời chúng con thỉnh cầu. Niềm hy vọng của chúng con được mở rộng bằng cách nhìn thấy các Đức Giám mục Piedmont và Liguria, những người có thể biết được những nhân đức nổi bật và những công trình vĩ đại của Tôi Tớ Thiên Chúa, cũng đồng ý với chúng con và ấp ủ cùng một mong muốn, như Đức Hồng y sẽ nhận thấy từ những bức thư mà chúng con trình bày.’ Cùng với một bức thư của cha Rua, đơn thỉnh cầu chỉ được trao cho Đức Hồng y Turin ngày 31 tháng Giêng năm 1890, có lẽ để có thời gian thu thập nhiều thư hơn từ các giám mục.[626] Ngày 8 tháng 2, Đức Hồng y trả lời tán thành nhưng yêu cầu trì hoãn một chút, có lẽ e rằng một số Giám mục phản đối. Tuy nhiên, ngày 8 tháng Năm, mọi thứ được suôn sẻ khi trong một hội nghị khoáng đại của các Giám mục thuộc các tỉnh Torino và Vercelli, chính ngài đã đề cập đến vấn đề này. Đơn thỉnh cầu của người Salêdiêng được nhất trí chấp thuận. Thực vậy, hai Giám mục (Manacorda và Richelmy) nổi bật vì sự nhiệt tình của họ đối với Don Bosco. Cùng ngày Đức Hồng y Alimonda quyết định mở quy trình cung cấp thông tin.

Công việc tiến hành nhanh chóng. Ngày 2 tháng Sáu, cha Rua bổ nhiệm cha Bonetti làm Cáo thỉnh viên (Postulator) của án kiện tuyên thánh; ngày hôm sau, cha Bonetti đã trình bản cáo thỉnh cho Đức Tổng Giám mục. Người ta phải lập tòa án. Đức Tổng Giám mục đã xem xét nó trong một thời gian và thiết lập nó ngay lập tức.[627] Cha Rua có thể rất hài lòng về việc này. Nhiệm vụ của người cổ xúy đức tin (tổng công tố viên, thường được gọi là công tố viên của quỷ) đã được giao cho Giáo sĩ Michael Sorasio vốn có thiện cảm với người Salêdiêng thay vì Giáo sĩ Emanuele Colomiatti, nổi tiếng vì ngài phản đối mãnh liệt vụ án tuyên thánh của Don Bosco. Ngài sẽ phải hài lòng với việc hành động ở hậu trường, viết thư cho Đức Hồng y Caprara ở Rôma. Ngày 6 tháng Sáu, cha Rua khá xúc động và rõ ràng là lo lắng, đã viết một thư luân lưu dài cho người Salêdiêng về việc mở ra quá trình tuyên chân phước cho Đấng Sáng lập. Ngài xin các hội viên và học sinh mỗi ngày khẩn cầu Chúa Thánh Thần soi sáng và Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu bảo trợ, cả ở nơi công cộng và riêng tư, cho Đức Tổng Giám mục Turin, cho các thành viên của tòa án mà ngài đã chọn, cho Cáo thỉnh viên của án tuyên chân phước và cho tất cả những người được gọi là để làm chứng. Họ sẽ cầu nguyện rằng nhờ ơn trên hướng dẫn, những người liên quan không được nói hoặc làm điều gì, cũng không được bỏ sót bất cứ điều gì trái ngược với các sắc lệnh của Giáo hội liên quan đến vấn đề này.[628] Những khó khăn không ngờ được trong thủ tục khiến ngài lo lắng.

Hai phiên họp đầu tiên của quá trình này được tổ chức vào các buổi sáng ngày 4 và 27 tháng Sáu. Trong phiên họp thứ hai, cha Bonetti đệ trình cho tòa án một loạt các điểm hoặc bài viết. Biết một điều gì đó về nguồn gốc của chúng có thể là hữu ích vì chúng sẽ hướng dẫn lời khai của các nhân chứng.

Vào lúc Don Bosco qua đời, cha Rua đã yêu cầu cha Bonetti làm một bản tóm tắt cuộc đời và các nhân đức của Đấng Sáng lập, xét đến cơ hội có thể được tuyên thánh. Với sự hỗ trợ thành công của chuyên viên lưu trữ văn thư, Gioakim Berto, Bonetti đã viết thành bốn quyển vở với hơn tám trăm bài báo (hoặc đoạn văn). Theo lời khuyên của cha Tổng Đại diện Caesar Cagliero ở Rôma, Bonetti đã trình chúng cho luật sư Rôma, Hilario Alibrandi. Năm 1890, bản văn dài đã được rút ngắn cho phù hợp và các bài báo giảm xuống còn 406 trang. Phần đầu tiên kể lại cuộc đời của Don Bosco và danh tiếng thánh thiện quanh ngài. Phần thứ hai được trình bày, với bằng chứng tài liệu, nhân đức anh hùng mà ngài đã thực hành theo ba nhân đức đối thần (đức tin, đức cậy và đức mến), bốn nhân đức trụ (khôn ngoan, công bằng, dũng cảm và tiết độ), các nhân đức phù hợp với bậc tu trì (khó nghèo, khiết tịnh và vâng phục) và cũng là những nhân đức luân lý chính, trên tất cả, lòng đạo đức và sự khiêm nhường (nhân đức cuối cùng này đã được thêm vào theo lời khuyên của Alibrandi). Các bài báo nhắm cho thấy có những nhân đức này trong cuộc đời của Don Bosco đặc biệt trong quãng đời khó khăn của mình, ngài phải đối mặt với những khó khăn trong gia đình và xã hội, bệnh tật, bị ma quỷ cám dỗ và dày vò, những hiểu lầm về phía họ hàng và các cộng tác viên, các bề trên và các chức sắc dân sự và tôn giáo. Các bài báo kết thúc với lời minh định rằng tất cả mọi thứ về Don Bosco chứng tỏ ngài có sự tương hợp hoàn hảo với ân sủng, kiên trì làm việc lành và sự anh hùng trong ‘nhân đức’ của ngài theo nghĩa rộng nhất của từ này. Đọc những bài viết này chắc hẳn làm cha Rua vô cùng hài lòng; ngài đã sẵn sàng làm một nhân chứng tham gia trong quá trình này.

Các lời khai trong quá trình cung cấp tài liệu/informative process

Hai mươi tám nhân chứng được cha Bonetti tập hợp xuất hiện trước tòa án trong nhà nguyện của chủng viện tổng giáo phận trong khóa họp thứ ba (23 tháng Bảy năm 1890).[629] Có một Giám mục (Đức Giám mục Bertagna), tám linh mục giáo phận với nhiều tước hiệu khác nhau, chín linh mục dòng Salêdiêng (với cha Rua ở vị trí đầu tiên), hai sư huynh và tám giáo dân (các doanh nhân, nông dân và một thợ lót gạch). Vào cuối buổi điều trần, số lượng nhân chứng tăng lên bốn mươi lăm, sáu người trong số họ đã được chọn ex officio, và một người khác, linh mục giáo phận, Gioan Turchi, được người Salêdiêng thuyết phục để tham gia vì họ quan ngại đến tình thế xoay chuyển do vụ việc các cuốn sách mỏng chống Gastaldi bị quy là do Don Bosco.[630]

Cha Rua được gọi là một nhân chứng chỉ lúc bắt đầu của năm năm dài dành cho quá trình cung cấp tài liệu. Trong khi đó, Cáo thỉnh viên Gioan Bonetti đã qua đời (ngày 5 tháng Sáu năm 1891) và đã được thay thế bởi Phó Tổng Bề trên, Đaminh Belmonte (1843-1901). Tòa án đã nghe cha Rua nói tại ba mươi tám buổi, dao động từ ngày 29 tháng Tư đến ngày 10 tháng Bảy năm 1895.[631] Ngài trả lời chi tiết các câu hỏi về công tác mục vụ đầu tiên của Don Bosco, về việc thành lập và sự mở rộng Tu hội Salêdiêng, và đặc biệt những việc truyền giáo ở Nam Mỹ. Đây là tất cả các tình hình mà bản thân ngài trực tiếp biết và đích thân ngài thường can dự. Rõ ràng ngay từ đầu rằng với những câu hỏi thứ hai mươi mốt và hai mươi hai, ngài đã không mất thời gian khi cho thấy mức độ anh hùng của các nhân đức đối thần trong cuộc đời của Đấng Sáng lập. Ngài có đức tin không? ‘Trong suốt ba mươi sáu năm tôi sống cạnh Don Bosco, tôi luôn luôn nhận thấy ở ngài sự chính xác và nhạy cảm tuyệt đối trong việc tuân theo các điều răn của Thiên Chúa và của Giáo Hội’ (Positio, 436). Còn đức cậy thì sao? ‘Sự tin cậy vào Thiên Chúa thật hiển nhiên bất cứ khi nào ngài phải thực hiện những công việc khó khăn hoặc đồ sộ’ (Positio, 478). Còn đức mến Thiên Chúa của ngài? ‘Tôi tớ Thiên Chúa nổi trội trong tất cả các nhân đức, nhưng có thể nói mạnh mẽ rằng lòng bác ái tỏa sáng nơi ngài cách đặc biệt’ (Positio, 503). Tình yêu của ngài dành cho người lân cận thế nào? ‘Được tình yêu Thiên Chúa khởi hứng, ngài không thể khác hơn là bừng cháy lòng mến với người lân cận. Tôi đã đề cập rằng ngài là thiên thần hộ mệnh của những người bạn đồng trang lứa của ngài [...] Một khi đã được thụ phong, cuộc sống của ngài trở thành một mạng lưới các công việc bác ái không ngưng nghỉ’ (Positio, 555).

Về vấn đề sự khôn ngoan của Don Bosco, cha Rua trả lời: ‘Tôi mong ước được thêm một điều gì đó về sự khôn ngoan anh hùng của Tôi tớ Thiên Chúa. Dù ngài giao tiếp với tầng lớp nào, giàu hay nghèo, ngài luôn tử tế như nhau và ngài đã rất nỗ lực để không làm ai ra về phải khó chịu’ (Positio, 595). Trả lời các câu hỏi về nhân đức của công bằng, ngài khẳng định: ‘Ngài cũng thể hiện sự tôn trọng đối với các chức sắc dân sự và chính phủ, cũng như không thiếu sự tôn trọng dành cho người đứng đầu Nhà Nước’ (Positio, 630). Về sức mạnh đạo đức, ngài tuyên bố: ‘Don Bosco dũng cảm kiềm chế các đam mê, chịu đựng sự mệt mỏi, những bất tiện và khổ cực, điều đó thật đáng ngưỡng mộ và đầy anh hùng, cũng như khi ngài dấn thân và kiên trì trong những nhiệm vụ gay go nhất. Cha Rua đào sâu điều này với nhiều dẫn chứng để chứng minh (Positio, 667). Theo Bề Trên Cả, sự tiết độ của Don Bosco liên quan đến lòng yêu mến sự thanh khiết của ngài (Positio, 716-723). Về sự khiêm tốn, ngài khẳng định: ‘Với sự khiêm nhường tuyệt vời, ngài đón nhận những đề xuất từ các học trò của mình và vui lòng chấp nhận những quan sát của các em; đến độ tôi có thể nói ngài thậm chí nhận sửa lỗi. Tôi nhớ lại ... ’(Positio, 759-765). Sau khi kể lại cuộc đời của Đấng Sáng lập, cha Rua nói thêm: ‘Để trình bày chi tiết những nhân đức mà Tôi Tớ Thiên Chúa đã thực hành trong đời ngài, tôi thường ám chỉ rằng tôi ngạc nhiên trước phong cách anh hùng mà ngài thực hiện chúng. Tuy nhiên, thật phù hợp khi nói thêm tôi thấy ngài liên lỷ thực hành các nhân đức ấy biết bao, đến nỗi ngài đạt tới sự hoàn hảo khi năm tháng trôi qua, hơn là giảm sút lòng hăng hái’ (Positio, 369).

Sau cha Rua, giữa ngày 7 và 23 tháng Mười, cha Gioan Turchi đưa ra bằng chứng. Trên hết, người Salêdiêng và cha Rua sẽ khám phá lời chứng của ngài có tính quyết định thế nào về những cuốn sách mỏng chống Gastaldi. Thật vậy, ngay cả khi không có một sự thừa nhận chính thức, bất cứ ai đọc lời khai có thể hiểu rằng cha Turchi là tác giả của các cuốn sách nhỏ mà Kinh sĩ Colmiatti cứ dai dẳng quy cho Don Bosco.[632]

Mặc dù cung giọng rất vừa phải, lời khai của cha Rua là một trong những phần quan trọng nhất của quá trình và chiếm 273 trang trong ấn bản công khai. Nó chỉ bị vượt qua bởi lời khai của Gioakim Berto (337 trang) và Giulio Barberis (283 trang) vốn là hai phong cách rườm rà hơn.[633]

Ngày 1 tháng Tư năm 1897, Đức Tổng Giám mục Turin, Đavit Riccardi, chủ trì phiên họp kết thúc của quá trình cung cấp thông tin. Nó đã kéo dài bảy năm do sự gián đoạn gây ra bởi một vài cái chết và những thay thế cần thiết tiếp theo. Trong thư luân lưu ngày 6 tháng Tám năm 1907, cha Rua viết: ‘Các thẩm phán đã cho thấy kiến ​​thức tuyệt vời của họ trong việc thu thập các lời khai của nhiều nhân chứng. Đáng chú ý là thay vì chán nản bởi sự kéo dài và mức độ nghiêm túc của công việc, dường như mỗi ngày họ càng thêm nhiệt tình.’[634] Vào tháng Tư, cha Belmonte đã có thể cung cấp tất cả tài liệu cồng kềnh của quá trình Turin cho Thánh Bộ Phụng tự (Lễ Nghi) ở Rôma.

Tại Rôma, tiến trình trôi theo dòng của nó. Ngày 30 tháng Tám năm 1897, cha Rua chỉ định Cáo thỉnh viên, cha Caesar Cagliero cũng là Tổng Đại diện của ngài với Tòa Thánh. Bộ Phụng tự (Lễ Nghi) quyết định ngày 25 tháng Mười năm 1898 ra lệnh tất cả các tác phẩm của Don Bosco phải được bàn giao. Chỉ thị này được Đức Tổng Giám mục Riccardi lặp lại ở Turin bởi chính cha Rua trong một lá thư gửi cho người Salêdiêng ngày 8 tháng 12.[635] Những cuộc kiểm tra các tác phẩm diễn ra từ năm 1902 đến năm 1904 dưới sự bảo trợ của Đức Hồng y uyên bác Lu-y Tripepi, ngài rất tán thành án tuyên thánh này. Người kiểm duyệt được chỉ định không tìm thấy gì để phản đối ngay cả lời biện hộ chống Gastaldi vốn đã bị Kinh sĩ Colmiatti bàn cãi rất nhiều trong Esposizione agli Ementissimi Cardinali (1881); kết luận cho thấy Don Bosco đã không làm gì ngoài việc biện hộ chính mình, mặc dù bằng một giọng điệu hơi khó chịu.[636]

Ngày 18 tháng Mười Một năm 1901, cha Rua là nhân chứng đầu tiên được gọi để thề là không có sự sùng bái nào được dành cho Don Bosco (Super cultum numquam praestito).[637] Không có khó khăn nào trong việc công nhận danh tiếng thánh thiện của ngài đã vang lừng ngay khi còn ở dương gian. Đây là điều đã thu hút đám đông tôn kính ngài, đặc biệt là trong những chuyến đi tuyệt vời cuối cùng của ngài. Nhưng không bao giờ có sự cúng bái công khai nào trong phòng tang lễ hay tại mộ phần của ngài ở Valsalice. Thậm chí cha Rua còn không nhận thức được bất kỳ hình thức sùng bái nào quanh những bức chân dung của Don Bosco ở bất cứ nơi nào chúng được trưng bày.

Những sự chống đối và những lời đáp trả. Don Bosco là Đấng Đáng Kính.

Giai đoạn quan trọng của quá trình này đã đạt được vào năm 1907. Đức Giám mục Alexander Verde, công tố viên (hoặc phổ biến hơn là người biện hộ của quỷ) đã làm cho người ta chú ý vào năm 1905 và 1906 vì sự cứng rắn hiệu quả trong những lời bình phẩm của ngài về án tuyên thánh cho Anna Maria Taigi và Tu sĩ Minim, Bernard Clausi. Được bổ nhiệm để kiểm tra án tuyên thánh của Don Bosco, năm 1907 ngài trình bày Animadversiones (Những bình phẩm) của mình, nhắm tới việc đưa ra ý kiến phản đối sự xúc tiến kế hoạch tuyên chân phước.[638] Về cơ bản, Đức Giám mục Verde tố cáo một sự trùng lặp nhất định trong Don Bosco, bắt đầu từ tuyên bố của cha Cafasso đã được thuật lại trong lời nói đầu của tiểu sử được viết bởi Tiến sĩ D’Espiney. Lập luận của ngài được cô đọng trong câu cách ngôn, ‘Don Bosco là một bí ẩn’, được quy cho cha Cafasso. Thật không may cho Giám mục Verde (và cho ký ức của Don Bosco) toàn bộ phần trích là thành quả của một công trình hùng biện của Lu-y Cartier, tác giả thực sự của lời nói đầu. Có lẽ lời biểu hiện đích thực duy nhất của Cafasso là một câu nói khác được Cartier trích dẫn: ‘Hãy để ngài xúc tiến nó!’[639] Tuy nhiên, Đức Giám mục Verde xem xét cuộc đời của Don Bosco mà mọi người coi là được ân sủng thiêng liêng gìn giữ để cho thấy danh tiếng thánh thiện là do dựa vào những giấc mơ và những lời tiên tri được trình bày một cách gian trá. Trong thực tế, thái độ quen thuộc của ngài không phải thứ mà người ta mong chờ từ một vị thánh. Ngài có vẻ giống một người đang tìm kiếm thành công và hành động bởi một niềm tự hào tinh tế. Người Salêdiêng đã nỗ lực hết sức mình để tôn vinh ngài và sắp đặt sự thánh thiện giả tạo của ngài.[640]

Đối với người Salêdiêng, do Chúa Quan phòng, lời đáp trả theo phong tục đã được giao phó cho một linh mục trẻ tài giỏi, cha Charles Salotti (sinh năm 1870), một người ngưỡng mộ nồng nhiệt phong thái giáo dục Salêdiêng mà đích thân ngài đã trải nghiệm. Theo ngài, toàn bộ lập luận của Animadversiones có khuynh hướng xuyên tạc các sự kiện bằng cách bỏ qua những tình huống quan trọng, đặt quá nhiều tin tưởng vào các nhân chứng đáng ngờ và phóng đại tầm quan trọng và tác động của họ. Ngay từ thời thơ ấu của một thiếu niên làm xiếc leo dây, ngài đã đưa ra bằng chứng về cảm thức cầu nguyện và lòng bác ái nhiệt tình đối với những đồng bạn của mình. Những giấc mơ của ngài, bắt đầu từ một giấc mơ khi ngài chín tuổi, là những mặc khải từ trời. Sự thận trọng cực độ của ngài khi kể lại là một bằng chứng về sự khôn ngoan của ngài ngay từ khi còn nhỏ. Nơi ngài không có chuyện nói suông nhưng là một sự khẳng định có ý thức rằng những thành công của ngài là thành quả của đức tin và sự cầu bầu của Đức Maria. Không có những cách ăn năn hành xác phô trương, nhưng là sự vui vẻ dâng hiến chính mình trong những buổi xưng tội không dứt của giới trẻ và trong tất cả việc gây quỹ ở các thị trấn và thành phố ở Piedmont, Ý và Châu Âu, trong suốt những hành trình mệt lử mà không hề nhắm đến những thu hút du lịch. Do đó, giới thiệu ngài như một tấm gương sáng cho toàn thể xã hội Kitô giáo, và trước tiên, cho các linh mục, quả là phù hợp. Là một linh mục trẻ, ngài đã được cha Giuse Cafasso giới thiệu là một tông đồ của Turin; sau đó ngài đã đưa ra bằng chứng dồi dào về lòng nhiệt thành tông đồ của Don Bosco với mọi loại người, và với những hội viên của mình, ngài đã cống hiến hết mình để đào tạo những người trẻ cách lành mạnh.[641]

Cuộc tranh luận đi tới một khúc ngoặt thuận lợi hơn bao giờ hết. Đức Hồng y Lu-y Tripepi đã qua đời ngày 29 tháng Mười Hai năm 1906, Cáo thỉnh viên người Salêdiêng, cha ​​Marenco, tìm kiếm vô vọng một người thay thế trong số các Hồng y, Rampolla, Gatti và Cretoni. Cuối cùng, khi ngài thông báo cho cha Rua ngày 7 tháng Giêng năm 1907, ngài phát hiện một tu sĩ Capuchin, José Calasanz Vivés y Tuto, một Hồng y sẵn sàng giúp đỡ và thậm chí còn nhiệt tình với vai trò này.[642] Ngài được bổ nhiệm làm Ponente ngày 23 tháng Hai năm 1907 và lập tức bắt tay vào việc với tư cách là Animadversiones và Responsio vào tháng Ba và tháng Tư. Cha Marenco viết cho Cha Rua: ‘Đức Hồng y Vivés y Tuto dồn hết tâm trí, tôi không nghĩ chúng ta có được một Ponente nào sẵn sàng và tận tâm như vậy’.[643] Cuối cùng, Thánh Bộ Phụng Tự cũng đi đến một kết luận ngày 23 tháng Bảy. Để trả lời câu hỏi về sự phù hợp của việc giới thiệu án tuyên chân phước và tuyên thánh của Don Bosco, các Hồng y và những chuyên viên của họ đã bỏ phiếu thuận. Ngày hôm sau, Đức Piô X ký văn bản, nhằm ngày 28 tháng Bảy năm 1907. Một cha Marenco hớn hở đã viết thư cho cha Rua vào ngày Đức Giáo Hoàng ký: ‘Bây giờ cha có thể đánh trống và kéo chuông!’[644]

Sắc lệnh Supremus humanae familiae phê chuẩn việc giới thiệu án ‘tuyên chân phước và tuyên thánh của Tôi Tớ Đáng Kính của Thiên Chúa, Gioan Bosco, linh mục và Đấng Sáng lập của Tu hội Salêdiêng’ được ký bởi Đức Hồng y Tổng Trưởng, Serafino Cretoni, đặt cuộc đời và công việc của ngài theo gót các linh mục-giáo dục thánh thiện của thời hiện đại:

Cũng như trong quá khứ, trong thời đại chúng ta ngày nay, Thiên Chúa Đấng sáng tạo tối cao của gia đình nhân loại, canh phòng xã hội Kitô giáo với sự chăm sóc đặc biệt, đến trợ giúp bằng việc giúp đỡ và sửa chữa đúng lúc, trong những con người xuất chúng, nổi tiếng vì những nhân đức chói ngời và thiết thực. Trong đời họ, dường như họ thông giao tinh thần và sự nhiệt tình hiến thân của chính họ cho tất cả mọi người. Trong số đó, vào thế kỷ vừa qua, Đấng Toàn Năng đã gửi sự trang sức và bảo vệ cho Giáo Hội của Ngài là linh mục Gioan Bosco, người mà đi theo bước chân của những con người thánh thiện như Giuse Calasanz, Vinh Sơn Phaolô, Gioan Tẩy Giả de la Salle và các vị thánh tương tự khác, cùng với Tu hội Salêdiêng mà ngài đã sáng lập và với các công cuộc khác, đã hiến mình hoàn toàn để cứu rỗi các linh hồn và đặc biệt là giáo dục giới trẻ trong sự đạo đức, văn hóa và nghề nghiệp, khi trở thành mọi sự cho mọi người. để dẫn đưa tất cả tới ơn cứu độ.[645]

Trong tài liệu này không có quy chiếu đến ơn kỳ diệu của Don Bosco trong suốt cuộc đời của ngài hoặc sau khi ngài qua đời. Toàn bộ cuộc đời và công trình của ngài chỉ được coi là một loại ‘thần hiển', được dành riêng cho Giáo hội trong những thời điểm khó khăn, như Phêrô Stella viết với trực giác và sự nhạy bén có phê phán.[646]

Cha Marenco đánh điện báo tin ngay ngày 24 tháng Bảy, sau đó ngài đến Torino để đích thân đưa văn bản cho cha Rua. Bề Trên Cả hớn hở vui mừng. Văn bản phê chuẩn Don Bosco là đấng đáng kính. Tràn ngập niềm vui, ngày 6 tháng Tám, ngài gửi thư luân lưu cho những người Salêdiêng, một thư hoàn toàn dành riêng cho sự kiện này:

Don Bosco là Đấng Đáng Kính! Khi chính cha phải thông báo cho cả gia đình Salêdiêng về cái chết của Don Bosco, với bàn tay run rẩy, cha viết đó là tin buồn nhất mà cha từng phải truyền đạt hoặc cha có thể phải làm trong cuộc đời mình. Trái lại, giờ đây tin vui Don Bosco là Đấng Đáng Kính, đúng là tin ngọt ngào nhất mà cha có thể đưa cho anh chị em trước khi cha được đặt dưới mộ phần. Nghe tin này, tim cha vỡ òa lên bài thánh ca vui mừng và tạ ơn. Nếu trong nhiều năm qua, chúng ta thấy người Cha tốt lành của mình bị đè nặng bởi rất nhiều rắc rối, hy sinh và sự bách hại không thể nói ra, thì giờ đây thật an ủi khi nhìn thấy Giáo hội Công giáo sẵn sàng hành động làm rạng danh ngài trước toàn thế giới! Nếu chúng ta từng có chút nghi ngờ rằng liệu Tu hội chúng ta là công việc của Thiên Chúa hay không, thì bây giờ chúng ta có thể bình an, vì nhờ vào giáo huấn không thể sai lầm của mình, Giáo hội gọi Đấng Sáng lập của chúng ta là Đấng Đáng Kính. Chúng ta phải biết ơn Đức Giáo hoàng Piô X rất nhiều, người đã rủ lòng đề xuất án tuyên thánh của Don Bosco để Thánh Bộ nghiên cứu sớm hơn nhiều so với thông lệ ngay cả đối với những người đã chết trong hương thơm thánh thiện! Đức Hồng y Vivés y Tuto, Ponente của án tuyên thánh của Don Bosco, khi chúc mừng Tu hội Salêdiêng về sự đáng kính của Don Bosco, nói về ngài bằng những từ ngữ khiến mắt chúng ta rơi lệ và làm cho chúng ta quý trọng việc chúng ta được gọi là con cái của ngài như là một tình yêu rất đặc biệt của Chúa Quan phòng.[647]

Vụ việc Varazze

Bất cứ ai đọc lá thư luân lưu ngày 6 tháng Tám đều có thể thấy rõ ngài cố giữ bình tĩnh. Song nếu người ta xem xét những đau khổ của ngài về vấn đề đạo đức vào cuối tháng Bảy gây ra bởi vụ việc Varazze quả thật hoàn toàn ngoại thường. Thật không may, đó không phải là vụ bê bối đầu tiên bị báo chí khui lên. Ngày 21 tháng Năm năm 1906, trong khi Tu Nghị Bề trên đang họp, Cha ​Baratta đột nhiên xông vào phòng báo tin vị Giám đốc (sở) Giáo dục đã ra lệnh sơ tán tất cả học sinh trong nhà tại Intra trong vòng bốn mươi tám tiếng đồng hồ.[648] Đó là phản ứng của một câu chuyện về ấu dâm được công bố trên báo chí. Vụ kiện chống lại chủng sinh S. O. sẽ đưa ra xét xử ngày 25 tháng Năm năm 1908, bị cáo bị kết án mười một tháng tù giam.

Thay vào đó, vụ Varazze được dựa trên những lời khai man và mang các khía cạnh hoàn toàn khác nhau.[649] Cha Ceria nói về nó như một công việc thực sự và chính xác của ma quỷ nhằm phá hủy Tu hội Salêdiêng. Chính tôi dựa vào bài tường thuật của ngài, nhận thức rằng một số chi tiết bên lề nhất định, ví dụ, những tiêu đề của báo chí hoặc từ ngữ thực tế của các câu hỏi trong các cuộc kiểm tra có thể là thành quả của tinh thần phong phú của cha Amadei. Mặc dù vậy, cấu trúc của toàn bộ vụ việc mà chúng tôi tìm thấy trong bản ghi nhớ về cáo buộc phỉ báng và các can thiệp của luật sư chắc chắn là chính xác. Chúng ta hãy kể lại các sự kiện trong vài ngày đầu tiên, chúng sẽ cho chúng ta biết về nguồn gốc của câu chuyện đặc biệt bẩn thỉu này.

Ngày 29 tháng Bảy năm 1907, một ngày sau khi kết thúc năm học, vào khoảng 7 giờ sáng, khoảng hai mươi học sinh đang chờ đợi đến lúc trở về gia đình của các em, ở trong nhà nguyện Collegio Civico ở Varazze, do người Salêdiêng điều hành, các em đang đọc kinh và dự Thánh Lễ. Đột nhiên một nhóm viên chức và cảnh sát xuất hiện từ phòng thánh, bước vào nhà thờ và đi đến tận lan can cung thánh, và, không để ý đến bản chất thiêng liêng của các nghi lễ, ra lệnh mọi người ngừng đọc kinh và ra ngoài ngay lập tức. Những em học sinh nội trú bị tách ra khỏi những người Salêdiêng và bị cảnh sát dẫn vào phòng ăn, trong khi những người Salêdiêng bị tập hợp trong một lớp học. Cha Giám đốc Charles Viglietti tò mò muốn biết tất cả những hoạt động bất thường này là gì. Ngài vội vã đi theo, đụng vào vị phụ tá Phó Bề trên (sub-Prefect) Savona, nói với ngài: ‘Thưa Cha, một việc nghiêm trọng, một việc nghiêm trọng. Một việc đồi bại không thể tin được diễn ra ở đây.’[650] Sau buổi điểm tâm, các em học sinh được đưa theo nhóm đến các nhà kho xấu xí của carabiniere để thẩm vấn với sự hiện diện của một phụ nữ và một cậu bé, người mà chúng ta sẽ nói đến. Những đứa trẻ tội nghiệp thực sự không biết phải trả lời cái gì.

Cuối chiều, cũng trong các nhà kho xấu xí đó nơi những người Salêdiêng được đưa đến, cha Viglietti đã được Giám đốc (sở) Giáo dục của Genoa hỏi và cuối cùng khám phá ra đó là chuyện gì. Ngài lập tức ghi chép, do đó bảo đảm cho chúng tôi về tính khách quan tương đối. Ngài hỏi tính chất của những cáo buộc chống lại người Salêdiêng. Giám đốc trả lời: ‘Lễ đen, dĩ nhiên, lễ đen!’ ‘Lễ đen? Tôi không biết ý ông nói lễ đen là gì.’ ‘Đừng giả ngây thơ! Nói đi, lễ đen được tổ chức ở trường Đại học, đúng hay không?’ ‘Nhưng tôi có thể xin ông giải thích ông đang nói về điều gì không?’ Vị đại diện Giám đốc đó được gọi đến; ông ta bước vào, có vẻ bực mình, và đọc một nửa trang những lời tục tĩu từ một quyển sổ nhỏ. Sau đó, tự ngắt lời, ông ta hét lên: ‘Tôi sẽ không cho ông ta được chút hài lòng nào; tôi sẽ không đọc thêm gì nữa. Lễ đen, ông biết nó là gì, vì vậy đừng giả khờ, nó có nghĩa là vào ban đêm tất cả mọi người trong nhà, các bề trên và thanh niên thường khỏa thân nhảy múa với các nữ tu. Về phần còn lại, ông biết rất rõ phần còn lại. Và rồi đám rước trẻ em, nội trú và ngoại trú, tất cả khỏa thân, với các nữ tu và thầy tu, bên trong và bên ngoài nhà, đốt cháy các bức chân dung của Victor Emanuel II và Garibaldi. Ông biết bọn linh mục các ông bạo hành với thanh thiếu niên - nói thế đủ rồi!’ Sau khi nói xong, ông ta phóng ra ngoài, đóng sầm cửa. Giám đốc nói tiếp: ‘Vậy, giờ đây, ông có thú nhận không?’ Viglietti trả lời: ‘Theo sự thật, tôi buộc phải phủ nhận tất cả. Chúng tôi không biết bất kỳ nữ tu nào; không nữ tu nào từng bước chân vào nhà chúng tôi. Đây là những việc làm xấu xa không thể tin nổi. Không có gì tương tự như vậy, ông có thể chắc chắn, không có gì, không có gì đã từng diễn ra trong trường học.’ ‘Nhưng còn trong quá khứ thì sao ... trong quá khứ ...’ ‘Tôi đã ở đây tại Varazze chỉ từ tháng Mười và không có gì trong tất cả những điều này từng xảy ra. Mặc dù vậy, tôi không tin bất cứ điều gì thuộc loại này đã diễn ra trong quá khứ. Và đối với việc bạo hành các em, tôi biết nhân viên của mình và trả lời cho tất cả những người Salêdiêng. Tôi nghĩ rằng không ai có thể hành động như vậy - không ai. Hãy mang đến cho tôi thậm chí chỉ một thanh niên cáo buộc một người Salêdiêng về những việc này.’ ‘Ngay cả Calvi cũng không? Ngay cả Disperati và Crosio cũng không?’ ‘Cũng không.’ ‘Nhưng hãy cẩn thận, đơn kiện đã được nộp ... cẩn thận, tối nay ông sẽ bị bắt.’ ‘Thưa Giám đốc, tôi không biết phải nói gì, tôi phủ nhận mọi thứ.’ ‘Được rồi, tất nhiên ông đi đi, tôi mặc ông cho số phận.’[651]

Ngày hôm sau, ngày 30 tháng Bảy, những người Salêdiêng được để yên. Tuy nhiên, các cuộc lục soát và thẩm vấn lan truyền đến các Con Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu và các nữ tu của Mẹ Vô Nhiễm, các nữ tu của Đức Mẹ Tuyết, các thầy Capuchin, linh mục hạt trưởng (archpriest) và những người khác nữa. Tất cả bị tố cáo là đã tham gia vào các cuộc truy hoan của những buổi lễ đen được tổ chức trong chín tháng tại trường học này, từ tháng Mười Một đến tháng Bảy. Cơ sở Thánh Catarina do Con Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu điều hành được cảnh sát đến thăm vào một buổi sáng, họ tập hợp các nữ tu và hai mươi chín học sinh chưa đi nghỉ trong phòng khách. Bốn nữ tu và một học sinh đã được nhận diện bởi một cậu bé được cảnh sát đưa vào (cậu bé mà chúng ta sẽ nói tới) là đã tham gia vào buổi lễ đen ngày 23 tháng Tư, khoảng chín giờ. Lúc đầu họ tin rằng, giống như một số trẻ em, rằng ‘lễ đen’ có nghĩa là một Thánh Lễ cầu hồn mà vào thời điểm đó được cử hành với áo lễ màu đen và do đó, theo lẽ tự nhiên, họ thừa nhận biết nó là gì. Sau đó một viên cảnh sát giải thích một cách thô lỗ. Kinh hoàng, các nữ tu lập tức trình bằng chứng ngoại phạm của họ. Thay vào đó, các cô gái, một thiếu niên lớn tuổi hơn, trả lời các viên cảnh sát với một vẻ kiêu ngạo nào đó.

Trong khi đó, cha Viglietti đã nhận được ấn bản mới nhất của tờ báo chống giáo hội ở Savona, Il Cittadino, mang các tiêu đề và đề mục phụ như ‘Những khám phá tục tĩu trong trường học Salêdiêng tại Varazze’; ‘Thầy tu và nữ tu thỏa hiệp’; ‘Những vụ bê bối nghiêm trọng’; ‘Đóng cửa trường học’. Tờ báo bình luận về cuộc điều tra của cảnh sát: ‘Có vẻ như những điều không thể tin được, khủng khiếp, quái dị chưa từng thấy trong các biên niên của các trường học được các tu sĩ và nữ tu hướng dẫn đã xảy ra.’[652] Đó là khởi đầu của một chiến dịch phỉ báng.

Một phụ nữ lớn tuổi, Vincenzina Besson, góa phụ của một Lãnh sự, và một cậu bé mười lăm tuổi, Charles Marlario, một đứa trẻ bị bỏ rơi mà Vincenzina khiến mọi người tin rằng đó là Alexander con trai bà, đã ngấm ngầm dự tính âm mưu trong quá trình học hành. Charles Marlario là một học sinh học ban ngày tại Istituto Civico. Một ngày nọ, qua đệ tam nhân, Vincenzina Besson trao cho các nhà chức trách một cuốn sổ tay có xuất xứ bí ẩn, được gán cho cậu bé. Đó là cuốn sổ mà Viglietti đã bị buộc phải nghe một đoạn trích trong khi thẩm vấn. Cuốn sổ chứa một câu chuyện được góa phụ Besson nghĩ ra. Rõ ràng là cậu bé đã phát hiện ra mọi loại hành vi đáng xấu hổ đang phạm phải trong trường học. Thay vì rút cậu khỏi trường, người được cho là mẹ cậu, muốn cậu tiếp tục theo học, để dự những buổi nói tục tĩu và viết xuống hết chuyện này đến chuyện khác trong cuốn sổ của cậu. Khi năm học sắp kết thúc, cuốn sổ đến Rôma. Ở đó người ta sao ra một bản mà bây giờ có mặt ở Varazze. Cha Ceria xác nhận rằng các trang giấy viết cho thấy một kiểu văn hóa khiêu dâm và một kiến thức về thuật ngữ y học rất khó xảy ra với một cậu bé mười lăm tuổi. Tuy nhiên, tối ngày 30 tháng Bảy, cuộc đối đầu với giám đốc Viglietti trước vị đại diện hoàng gia và một thẩm phán điều tra từ tòa án ở Savona thật đáng kinh ngạc. Viglietti ghi lại trong nhật ký của mình: ‘Ngay từ đầu tôi đã có cảm giác rằng cậu bé đang trả bài mà em đã được học, và tôi đã nói như vậy. Nhưng sau đó cảm giác của tôi là cậu bé đáng thương bất hạnh này đã bị quỷ nhập’. Thực vậy, ngài nghe em nói chính xác về địa điểm, gọi tên người, đáp lại những lời phản đối, mô tả các lễ đen với nhiều chi tiết đến nỗi khiến hoàn toàn bị hoang mang.[653] Vụ án phỉ báng mà người Salêdiêng sẽ tố cáo là vu khống, thường sẽ trở lại với lời khai rất dài của cậu bé. ‘Đó là sự kỳ diệu về sự rõ ràng và chính xác. Không một sơ suất. Không có sự khác thường trong ngôn ngữ, ký ức của em không bao giờ trống rỗng, không có bất kỳ mâu thuẫn nào trong cách nói của em’.[654] Nếu Charles Marlario đã học bài, em đã học nó tới mức hoàn hảo.

Tin tức bùng ra và chẳng mấy chốc tới mọi vùng ở nước Ý. Các tờ báo chính in một số ấn bản. Mỗi ngày công chúng càng thêm tò mò. Các đầu đề đã được dàn xếp để kích thích sự chú ý: ‘Sự bẩn thỉu chưa được nghe tới ở Varazze. Một chuồng heo ở Varazze. Sự xấu xa chưa được nghe biết trong trường học Salêdiêng tại Varazze. Những vụ bê bối đen. Lễ đen hoặc những lạc thú thiên giới. Những vụ bê bối gớm ghiếc tại Varazze. Những phát hiện tục tĩu về các linh mục. Thờ phượng đen’.[655] Nếu loại thông tin đó phải chịu sự phán xét có phê phán tối thiểu thì rõ ràng là không nhất quán. Quả vậy, nó gây ra các cuộc biểu tình bạo lực, thậm chí cả những cuộc biểu tình man rợ ở các thị trấn và thành phố khác nhau. Ví dụ, ở La Spezia, đám đông đã đi qua các đường phố la hét và huýt sáo phản đối các linh mục, trút cơn giận của họ lên các nhà thờ, chạm trán với cảnh sát, đến mức phải tuyên bố tình trạng khẩn cấp. Tại Sampierdarena, Alassio, Savona, Faenza, Florence và các nơi khác, các trường đại học Salêdiêng bị những kẻ cuồng tín nhắm vào. Sự hỗn loạn lan rộng đến các thị trấn nơi không có trường Salêdiêng như Leghorn và Mantua.[656] Tin đồn lan truyền rằng cảnh sát đã bắt giữ và tống giam một chủng sinh và một sư huynh cao niên từ Varazze. Trong Quốc hội, những kẻ chống giáo hội kêu gọi việc bãi bỏ các cơ sở được các tu sĩ điều hành.

Ngày 2 tháng Tám, một sắc lệnh từ Quận trưởng đã ra lệnh tạm thời đóng cửa trường học Varazze. Ngày 3 tháng Tám, một sắc lệnh tương tự được ban hành cho cơ sở Thánh Catarina thuộc Con Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu. Mặc dù những người Salêdiêng ban đầu bị choáng váng bởi những lời vu cáo dồn dập, họ rõ ràng bắt đầu phản ứng lại theo cách tốt nhất có thể được. Được bạn bè, cựu học sinh và Cộng Tác viên khuyến khích, đến phiên mình, họ quyết định tố cáo sự phỉ báng và đòi công lý. Dân chúng Varazze ủng hộ họ và tấn công góa phụ Bresson. Ngày 3 tháng Tám, được các luật sư từ các tòa án ở Turin giúp đỡ, những người Salêdiêng đã đưa ra một vụ kiện về tội phỉ báng và làm mất danh dự. Và chiều hướng bắt đầu xoay chuyển.

Tuy nhiên, các thủ tục pháp lý cần có thời gian. Sắc lệnh của Bộ Ân xá và Công lý cho phép mở lại trường cao đẳng tại Varazze chỉ đến vào ngày 26 tháng Mười Một . Sau đó, tháng Sáu năm 1908, tòa án ở Savona đã công nhận các cáo buộc chống lại người Salêdiêng là hoàn toàn bịa đặt. Hai năm nữa trôi qua và chỉ đến ngày 2 tháng Tám năm 1910, cùng một tòa án pháp luật xử có lợi cho người Salêdiêng trong vụ kiện phỉ báng vì làm mất danh dự trước công chúng. Những người Salêdiêng tin rằng người của hội Tam Điểm đã thao túng hai kẻ buộc tội, đặc biệt là một bác sĩ ở Varazze, mà theo lời góa phụ Besson, đã gợi ý cho bà hãy bảo Charles Marlario viết một bản tường trình về tất cả những việc không đứng đắn mà em đã dự hoặc đã nghe từ những người bạn của mình.[657] Nhưng cuộc điều tra bổ sung bị mắc cạn vào năm 1912.

Một Cha Rua bị chòng chành vì bão

Bây giờ chúng ta quay lại Turin để tập trung vào cha Rua. Vào cuối tháng Bảy năm 1907, khi tin tức về vụ bê bối loan ra, ngài đang bị ốm.[658] Khách đến thăm thông báo cho ngài về những gì đang xảy ra. Mặc cho nỗi buồn vô hạn, ngài vẫn giữ được bình tĩnh và thanh thản anh hùng. Ngài cầu nguyện và kêu gọi người khác cầu nguyện. Đôi khi ngài yêu cầu xem các tờ báo thù địch và sẽ lắng nghe mà không bị xúc động đoạn trích dẫn và hạn chế thốt lên: ‘Xem người ta dám viết thế!’ Ngài sẽ nói chắc chắn thành trì vớ vẩn hết sức vô lý sẽ sớm sụp đổ. Ngài thường thủ tâm, ‘Chúng ta phải cầu nguyện’.[659]

Tuy nhiên, ở quanh ngài, các cựu học sinh đang huy động. Tối ngày 2 tháng Tám, Hiệp hội Don Bosco ở Turin đã bỏ phiếu cho một cuộc biểu tình mạnh mẽ chống lại chiến dịch ác tà được sắp đặt để gây thiệt hại cho người Salêdiêng và chống lại các lực lượng pháp luật và trật tự đã không can thiệp. Ngày hôm sau khi vị chủ tịch của Hiệp hội đưa cha Rua xem bản văn, Bề Trên Cả cảm ơn ông, nhưng nói thêm: ‘Liệu không phải là quá mạnh sao?’ Ngài tin rằng các quan chức nghĩ rằng họ đang làm nhiệm vụ của họ và do đó không nên bị phán xét. Chủ tịch ngạc nhiên và phải chịu nghe một thuyết giáo đáng yêu về lòng bác ái và giáo huấn truyền giáo là yêu thương người lân cận như chính mình (Gcb 2, 8). Nhưng bức điện đã được gửi đi rồi ...[660]

Cùng ngày, một cựu học sinh khác, Gioan Possetto, vội vã đến Turin để nói chuyện với cha Rua. Ông đã không đọc trong các tờ báo về việc người Salêdiêng đưa ra bất kỳ hình thức tự vệ nào và sợ rằng không có gì đang được thực hiện. Ông để lại một báo cáo chi tiết tuyệt vời về cuộc gặp gỡ của ông với cha Rua, giọng điệu và một số điểm của nó giờ đây sẽ được nhắc lại.[661] Possetto thấy cha Rua ngồi gần bàn viết của ngài, ngập những báo chí và thư từ. Chân ngài bị băng và duỗi trên một chiếc ghế đặt cạnh ngài. Ngài xanh xao, nhợt nhạt như xác chết, tái mét, gầy gò, với cặp mắt sưng ửng đỏ vốn đang nén một giọt nước mắt sẵn sàng rơi xuống nơi khóe mắt. Sự sống động đã biến mất khỏi cặp mắt của ngài và từ toàn bộ vẻ mặt khổ hạnh của ngài. ‘Cha Rua đáng thương, chúng tôi chưa bao giờ, chưa bao giờ nhìn thấy ngài xuống tinh thần và buồn sầu như vậy.’ Ngài nói ngài cảm thấy không có khả năng dũng cảm đương đầu với một tràng vu khống tuôn xuống Tu hội Salêdiêng. Hơn nữa, đây là hình phạt của ngài, một món nợ ngài phải trả cho việc dám chấp nhận chức vụ mà ngài đang nắm giữ. Bất cứ điều gì xảy ra với chúng ta, thiện hay ác, luôn là ý Thiên Chúa. Ngài tìm nơi trú ẩn trong lời cầu nguyện và nước mắt, cầu xin Thiên Chúa cất bỏ gánh nặng của phiên tòa trên chỉ mình ngài. Chỉ có một phép lạ mới có thể đi đến tận đáy của những lời vu khống đang phá hoại Tu hội của ngài. Possetto cố hết sức an ủi ngài. Cần phải thức tỉnh các nhà chức trách. Toàn bộ Tu hội Salêdiêng đang bị tấn công. Những lời vu khống làm tổn thương danh dự của ngài. Chúa giúp những ai biết tự giúp mình. Tất nhiên, người ta phải tin tưởng vào Thiên Chúa trợ giúp nhưng họ phải hành động ngay bằng một cuộc biểu tình mạnh mẽ, sau đó yêu cầu một cuộc điều tra trong tất cả các nhà của người Salêdiêng. Cha Rua đáng thương phản đối hết lần này đến lần khác; ngài nói đến việc cam chịu và rằng ngài không muốn kích động thêm kẻ thù của họ bằng một cuộc điều tra như vậy. Cuộc họp kéo dài lâu giờ. Cuối cùng, cha ​​Rua cho phép mình được thuyết phục: ‘Không, không, ngài kêu lên, portae inferi non praevalebunt [cửa hỏa ngục sẽ không thắng nổi].

Ngày nay chúng ta không thể tưởng tượng được tầm quan trọng của vụ bê bối được giải phóng tại Varazze và hậu quả của nó lan ra không chỉ đến tận Sicily và biên giới đất nước, mà còn trên toàn thế giới. Chúng ta hãy đọc những điều cha Rua viết cho các Cộng Tác viên trong Bollettino Salesiano vào tháng giêng năm 1908: ‘Anh chị em cũng nhận thức được những lời vu khống đáng hổ thẹn vùi dập tên tuổi của con cái Don Bosco mùa hè năm ngoái, những lời vu khống vốn tạo ra tiếng vang đột ngột khắp thế giới, gây ra cớ vấp phạm nặng nề cho các linh hồn’.[662]

Ở điểm này chúng tôi lồng vào một cuộc biểu tình mà theo Angelo Amadei, cha Rua đã gửi điện tín cho Bộ Nội vụ về những rối loạn tại La Spezia. Không còn bản thảo tài liệu này. Sử gia của chúng tôi không tra cứu được văn khố của chính phủ Ý nên đã tự dàn dựng lại nó như sau:

Kính thưa ngài Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Rôma.

Tôi đã nhận được tin tức từ La Spezia khiến tôi rất lo lắng về sự an toàn cá nhân của vị Bề trên và các học sinh của Tu hội Salêdiêng ở đó, bị đe dọa bởi một đám đông man rợ. Thật đáng buồn là một cơ sở bác ái, nằm gần trung tâm của một thị trấn lớn, một cơ sở mà nhiều con em của người dân được che chở, phải trải qua nhiều ngày lo âu, do những hành động của kẻ lưu manh, trong khi nhà chức trách không cung cấp được sự che chở cần thiết. Tôi yêu cầu Ngài sẵn sàng khắc phục tình trạng này và tôi đòi hỏi sự bảo vệ mà mọi công dân đều có quyền.

Cha Micae Rua.[663]

Dù sao đi nữa, bắt đầu từ ngày 5 tháng Tám, cha Rua bắt đầu hồi phục. Biên bản cuộc họp Tu Nghị Bề trên minh chứng điều này, mặc dù không theo hình thức các cuộc phản đối giận dữ như người ta có thể tưởng tượng. Ngài theo một cung giọng hơi dịu dàng, tương tự như của cuộc họp với Possetto. Ngài quá hiểu những điểm yếu không thể tránh khỏi của con cái mình. Biên bản bộc lộ những cảm xúc thật của ngài trong những ngày đau khổ đó. Ngày 5 tháng Tám, cha Rua nhắc nhở các thành viên về thời điểm gay go mà họ đã trải qua, có lẽ là gay go nhất mà Tu hội từng gặp phải, thậm chí ngoài sự gian ác của con người. Ngài nói thêm rằng người ta có thể nhìn thấy trong đó một cảnh báo từ trời từ Don Bosco và ngài muốn lợi dụng từ thời điểm này để thanh lọc các nhà tốt hơn, loại bỏ những người không xứng đáng và loại bỏ bất kỳ hành vi xúc phạm nào tới Thiên Chúa vốn là mục đích thực sự trong công cuộc của Don Bosco. Trước hết, cha Rua đề xuất rằng họ nên tiến hành từ từ và rất thận trọng khi nhận người vào tập viện, tuyên khấn và thụ phong.[664]

Để biết nhân sự trong các nhà tốt hơn, nên thiết lập một cuộc tổng thanh tra. Theo biên bản, bốn quyết định đã được đưa ra:

1. Loại bỏ tất cả những ai (linh mục, chủng sinh, sư huynh, người có lời khấn, đệ tử hoặc viên chức nhà nước) vốn đã bị tổn thương nghiêm trọng trong các vấn đề đạo đức hoặc bị đối xử tệ hại khỏi giao tiếp với người trẻ.

2. Thay đổi các giám đốc không có khả năng hoàn thành nhiệm vụ của mình, đặc biệt trong việc hướng dẫn hội viên và giám sát người trẻ.

3. Giảm số lượng các Giám tỉnh để đáp ứng nhu cầu cần nhiều giám đốc và các cha giải tội tốt lành hơn.

4. Trong năm 1907-1908 tổ chức đồng thời ít nhiều một cuộc kinh lý chung tất cả các nhà của Tu hội với mục đích có được tình trạng đạo đức, kỷ luật và kinh tế thực sự của toàn bộ Tu hội... Cha Rua nói thêm rằng trong trường hợp có những tố cáo về sự vô luân, các bề trên địa phương phải xem xét thấu đáo mức độ nghiêm trọng của việc sai trái và lập tức báo cáo ngày để có thể thực hiện các biện pháp phù hợp, kể cả cởi bỏ áo dòng đối với một chủng sinh mà chưa nhận tác vụ linh mục.[665]

Tu Nghị Bề trên theo dõi việc này với ba phiên họp dành cho vấn đề này vào ngày 8 và 9 tháng Tám . Một bộ các biên bản cuộc họp đã được thực hiện cho ba phiên họp này:

Trong ba cuộc họp này các thành viên của Hội đồng chủ yếu quan tâm đến việc nêu tên các đối tượng mà trong phán đoán của họ phải bị loại trừ khỏi các nhà của người Salêdiêng và lưu ý các Giám tỉnh về những hội viên vốn phải bị loại khỏi sự liên lạc với người trẻ hoặc những ai cần theo dõi đặc biệt. Họ cũng chỉ ra những giám đốc của những nhà ở Ý phải được thay thế sau một năm vì không có khả năng thực hiện trách nhiệm của mình, đặc biệt là việc hướng dẫn các hội viên và giám sát người trẻ. Một số tiêu chuẩn cho các Giám tỉnh được vạch ra, những điều đã được đề cập trong bức thư của cha Albera, ngày 12 tháng Tám, và dành riêng cho họ. Các Giám tỉnh ở Ý đã được mời đến Turin không trễ hơn ngày 22 để được Hội đồng cập nhật đầy đủ hơn. Những người khác được khuyến khích bày tỏ bằng văn bản ý tưởng và kế hoạch của họ cho việc điều hành các nhà cách tốt đẹp trong các tỉnh tương ứng của họ.[666]

Thực vậy, vào ngày 22 và 23 tháng Tám, từng người gặp gỡ Tu Nghị Bề trên.

Ngày 29 tháng Chin, ngày lễ Thánh Micae, một lễ kỷ niệm hoành tráng được tổ chức để vinh danh Đấng Đáng Kính Don Bosco gần mộ phần của ngài ở Valsalice. Một thông điệp có chữ ký từ Đức Piô X gửi tới ‘Cha Rua yêu dấu, Bề trên Tổng quyền’ an ủi ngài một lần là đủ vì sự sỉ nhục mà ngài đã trải qua trong những tuần khủng khiếp của tháng Bảy-tháng Tám .[667] Các Cộng Tác viên từ Sicily cho in một bài nói chuyện dài ba trang, cố ý vào đúng ngày 29 tháng Chín năm 1907: Gửi Don Micae Rua - lời nói tỏ lòng kính trọng và tôn kính, và một cuộc biểu tình chống lại những lời lăng mạ phóng vào Tu hội Salêdiêng (Turin, Tip. Salesiana, 1907).[668] Cha Rua cũng yêu cầu đưa vào số báo Bollettino Salesiano tháng Mười một ‘tuyên bố quan trọng’ trong đó về cơ bản tuyên bố rằng Istituto Civico ở Varazze, do các người Salêdiêng điều hành, và Istituto Santa Caterina, do Con Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu điều hành, hoàn toàn vô tội về những cáo buộc phỉ báng trong cuốn nhật ký tai tiếng của một cậu bé. Lời tuyên bố kết luận: ‘Vì do: 1. cáo buộc là sai sự thật rằng việc xấu xa không thể tin được, được gọi là lễ đen, được thực hiện ở đó; 2. lời buộc tội rằng một trong những giáo viên đứng lớp ăn mặc không đứng đắn là sai; 3. cáo buộc rằng các hình ảnh của Vua và Đại Tướng Garibaldi bị bôi nhọ cũng sai,[669] hai cơ sở này buộc phải bảo vệ tiếng tốt của riêng họ bằng cách khởi một vụ kiện tội làm mất danh dự và phỉ báng những kẻ buộc tội.’ Làn sóng vu khống chống người Salêdiêng rút xuống còn nhanh hơn.

Sự kết án Chủ nghĩa Tân thời

Dường như không có bất kỳ hậu quả nào đối với Tu hội Salêdiêng từ cuộc đàn áp chống chủ nghĩa tân thời vốn lên đến đỉnh điểm vào năm 1907 với sắc lệnh Lamentabili sine exitu ngày 17 tháng Bảy trong đó 65 định đề về chủ nghĩa tân thời theo Kinh Thánh và thần học bị kết án, và với thông điệp Pascendi ngày 10 tháng Chín nhằm cố gắng tổng hợp các định hướng của chủ nghĩa tân thời theo học thuyết và cải cách. Các vị lãnh đạo của Tu hội và các giáo viên quá trung thành với Tòa Thánh không cho phép bản thân bị cám dỗ bởi học thuyết chủ nghĩa tân thời vốn phát triển ở Pháp và Ý vào đầu thế kỷ này. Storia sacra và Storia ecclesiastica của Don Bosco vẫn đang được sử dụng. Tuy vậy, ngày 1 tháng Mười Một năm 1906, trong một thư luân lưu, cha Rua yêu cầu các Giám tỉnh và các giám đốc phải cảnh giác và chiến đấu chống lại bất kỳ khuynh hướng tân thời nào.[670] Tuy nhiên, trong học kỳ hai mang tính quyết định năm 1907, các thư luân lưu của cha Rua và cha Phó Tổng Bề trên Rinaldi, viết trên danh nghĩa của bề trên mình, chứa nhiều lời khuyên thực tế của mỗi loại (về những ngày nghỉ của các hội viên bên ngoài nhà Salêdiêng; về lễ Giáng sinh và ngày nghỉ hè của học sinh không được phép; về văn khố của mỗi nhà; về các quy định cho các Nguyện xá ngày lễ; về việc tĩnh tâm thiêng liêng, vv), nhưng hoàn toàn vượt qua thuật ngữ và các khuynh hướng của chủ nghĩa tân thời. Từ tài liệu sẵn có, dường như chỉ có một chỉ thị phát hành từ Tu Nghị Bề trên ngày 16 tháng Chín, theo sau Pascendi. Chúng ta đọc trong biên bản: ‘Quyết định in các bản văn tiếng Latinh và tiếng Ý của 65 định đề bị lên án về Chủ nghĩa tân thời theo sau một lá thư của cha Rua và gửi một bản sao cho tất cả các linh mục và sinh viên thần học của Tu Hội'.[671] Sự phục tùng của Tu hội Salêdiêng đối với các chỉ thị của Rôma phải là gương mẫu trong mọi việc. Vài tháng sau, cha Cerruti, Cố vấn lo về học vụ, lặp lại lời chỉ thị đó yêu cầu các Giám tỉnh và các giám đốc nghiên cứu và truyền bá Catechismo sul modernismo của Gioan Tẩy Giả Lemius, một tác phẩm nhỏ đặc biệt nghiêm trọng về ‘dị giáo’ mới này.[672]

Trong khi đó có lẽ do kết quả của lời thề được thực hiện trong cơn bão ở Varazze,[673] cha Rua bắt đầu lên kế hoạch cho một chuyến hành hương dài đến quê hương của Chúa Giêsu. Từ ngày ngài phụ trách Tu hội, năm 1907 đối với ngài là năm huy hoàng nhất và đau đớn nhất. Bằng việc Đấng Sáng lập nhận được tước hiệu Đấng Đáng Kính, ngài đã hoàn thành nhiệm vụ được bắt đầu ngay sau khi Don Bosco qua đời và theo đuổi với sự kiên trì trong mười chín năm. Âm mưu lớn vào tháng Bảy-tháng Tám đã không thành công trong việc bôi xấu các cơ sở mà ngài chịu trách nhiệm, Tu hội Salêdiêng và Tu hội Con Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu mà ngài rất thương mến. Âm mưu đã bị thất bại. Do đó, ngài cảm thấy nghĩa vụ phải tạ ơn Thiên Chúa Toàn Năng đã để ngài vượt qua được những giây phút vô cùng gian khổ đối với thân xác lẫn tâm hồn. Đồng thời, cuộc hành hương sẽ cho phép ngài đích thân tham gia vào việc tổng thanh tra cần thiết của các nhà của người Salêdiêng trải rộng trên vài lục địa.

Chú thích

[623] Ở đây tôi dựa chủ yếu vào nghiên cứu được chứng minh bằng tư liệu rõ ràng của P. Stella, Don Boco nella storia della religiosità cattolica, vol.III: La canonizzazione, Rôma, LAS, 1988, 61-148.

[624] X. MB XIX, 35-36.

[625] X. M.B. XIX, 36.

[626] X. M.B. XIX, 38-41.

[627] X. M.B. XIX 42, 398.

[628] L.C., 45-48.

[629] X. danh sách các nhân chứng trong P. Stella, La canonizzazione..., 75.

[630] X. danh sách cuối cùng các nhân chứng thực sự được thẩm vấm trong Taurinen. Beatificationis et Canonizationis Servi Dei Ioannis Bosco Sacerdotis Fondatoris Piae Societatis Salesianae. Positio super Introductione Causae. Summarium et Litterae Postulatoriae, Rôma, Schola Typ. Salesiana, 1907, 1-22 (được trích Positio). Xem thêm chi tiết: x. P. Stella, La canonizzazione...,117-124.

[631] Những đóng góp trong lời khai của Cha Rua được tìm thấy trong FdR 2405D12-2414D3

[632] X. P. Stella, La canonizzazione..., 88.

[633] X. P. Stella, La canonizzazione..., 83.

[634] L.C., 518-519.

[635] L.C., 186-187.

[636] Positio super revisione scriptorum, Rômae, typis Vaticanis, 1906. P. Stella, La canonizzazione..., 127-130.

[637] Tư Iiệu trong giai đoạn này của quá trình được tìm thấy trong FdB 2435A7-2439A4. Lời chứng của Cha Rua trong FdR 2435E7-2436A11.

[638] 25 trang của Animadversiones này, ngày 26 tháng Ba, 1907, được tìm thấy trong phụ lục của Positio super Introductione Causae, 1907.

[639] Tôi đã có thể tham dự vào việc dựng lại phần cuối này của công trình nghiên cứu của tôi về tiểu sử của Don Bosco bởi Jacques-Melchior Villefranche, RSS 9 (1990) 85-89.

[640] X. Phân tích của P. Stella trong La canonizzazione...,131-136.

[641] Lời biện hộ dài của Carlo Salotti (81 trang), có tên là Responsio, ngày 10 tháng Tư, 1907, có vẻ như một phụ lục cho Positio super Introductione Causae, 1907.

[642] Thư của G. Marenco gửi M Rua, Rôma, ngày 7 tháng Giêng, 1907, trong FdR 3830D3-4.

[643] Thư của G. Marenco gửi M Rua, Rôma, ngày 10 tháng Tư, 1907, trong FdR 3830D12-E3.

[644] Thư của G. Marenco gửi M Rua, Rôma, ngày 24 tháng Bảy, 1907, trong FdR 3831A1-4.

[645] Sắc lệnh dài bằng tiếng Latinh này với một bản dịch kèm theo nó được xuất bản trong Bollettino Salesiano số tháng Chin, 1907, 260-265.

[646] La canonizzazione..., 147.

[647] L.C., 516-521.

[648] Biên bản cuộc họp Tu Nghị Bề trên, ngày 21 tháng Năm, 1906, trong FdR 4246A2.

[649] X. I fatti e gli scandali di Varazze (luglio 1907). Memoriale-denunzia per calunna dei Salesiani del Collegio Civico,Torino, Tipografia Salesiana, 1908, pp. 62; I Fatti e gli scandali di Varazze (luglio 1907). Rilievi dei querelanti, Torino, Tip. S.A.I.D. Buona Steampa, 1909, pp4; Corte di Appello, Genova, Le origini della calunnia contro i R.R. Salesiani a Varazze (luglio 1907-ottobre),Torino, Tip. Baravalle e Falconieri, 1910, pp.44. Ceria dành toàn bộ chương ‘Vụ việc Varazze’ trong Annali III, 672-702.

[650] Annali , III, 685.

[651] Annali III, 686-687.

[652] Annali, III, 688-689.

[653] Annali III, 690.

[654] Memorandum - tố cáo vu khống.

[655] Annali, III, 690.

[656] Annali , III, 690.

[657] Về vai trò của vị bác sĩ này, x. I fatti e gli scandali di Varazze (tháng Bảy, 1907), 34-36.

[658] Ở điểm này tôi theo Ceria, Vita, 466-467.

[659] Các lời chứng của Giuseppe Balestra và Cha Luigi Terreno trong Tiến trình tông tòa trong Positio 1947, Summarium, 504 và 541.

[660] Ceria, Vita, 466-467.

[661] ‘Per la storia e biografia di D. Rua’, Torino, tháng Tư, 1920 trong FdR 2855D5-E1; được Amadei đề cập đến, III, 328-332.

[662] Bollettino Salesiano, tháng Giêng, 1908, 3.

[663] X. Amadei III, 327-328; bản văn được Ceria đề cập đến, Vita, 466.

[664] Biên bản cuộc họp Tu Nghị Bề trên, ngày 5 tháng Tám, 1907, trong FdR 4247A11.

[665] Biên bản cuộc họp Tu Nghị Bề trên, ngày 5 tháng Tám, 1907, trong FdR 4247A12-B1.

[666] Biên bản cuộc họp Tu Nghị Bề trên, ngày 8-9 tháng Tám, 1907, trong FdR 4247A12-B1.

[667] Thông điệp của Đức Piô X được tìm thấy trong FdR 3833A5. Một bản mô tả buổi lễ ở trong Amadei III, 347-349.

[668] Bài nói chuyện này được tìm thấy trong FdR 2764A12-B2.

[669] Bollettino Salesiano, tháng Chin, 1907, 281.

[670] L.C., 352-353.

[671] Biên bản cuộc họp Tu Nghị Bề trên, ngày 16 tháng Chín, 1907, trong FdR 4247B8.

[672] Thư luân lưu gửi các Giám Tỉnh và hiệu trưởng, ngày 24 tháng Ba, 1908, trong F. Cerruti, Lettere circolari e programme di insegnamento, a cura di José Manuel Prellezo, Rôma, LAS, 2006, 303; J-B Lemius Catechismo sul modernism second l’enciclica ‘Pascendi Dominici Gregis’ di Sua Santità Pio X, Rôma, Tipografia Vaticana, 1908.

[673] Theo Francesia, 188; nhưng không có lời nào chính Cha Rua nói xác nhận việc này.


FMA Logo

Địa chỉ: 57 Đường số 4, Khu phố 56, P. Tam Bình, TP. Hồ Chí Minh

Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về email: libraryfmavtn@gmail.com

Liên Kết

Truyền Thông FMA

Copyright Dòng Con Đức Mẹ Phù Hộ © 2026