FMA Logo

33. Cung hiến Thánh đường Santa Maria Liberatrice



Thánh đường Santa Maria Liberatrice ở Rôma

Giống như Don Bosco hai mươi mốt năm trước, cha Rua cũng vậy, trước khi qua đời, đã đến Rôma lần cuối cùng để cung hiến một nhà thờ được giao phó cho người Salêdiêng. Vào tháng Năm năm 1887, Don Bosco đã tham dự vào lễ khánh thành Sacro Cuore (Nhà thờ Thánh Tâm), mà việc xây dựng đã khiến ngài chịu nhiều đau khổ. Vào tháng Mười Một năm 1908, cha Rua tham dự lễ cung hiến Nhà thờ Santa Maria Liberatrice, trong một vùng ngoại ô có vấn đề của thành phố.[701]

Từ tháng Mười năm 1904, Đức Piô X đã bày tỏ dấu cảm kích đối người Salêdiêng, trước hết ban tới tấp những ơn tiểu xá và đại xá cho các Cộng Tác viên,[702] sau đó (tháng Giêng năm 1905) trao cho họ, gratis, Nhà thờ San John della Pigna, được trù định trở thành trung tâm hoạt động của Văn phòng Tổng Truyền Giáo Salêdiêng.[703] Cùng năm đó, hầu như bằng cách 'đền bù', Đức Giáo Hoàng giao phó Tu hội việc hoàn tất xây dựng một nhà thờ khác ở Rôma. Ở vùng ngoại ô hẻo lánh mới Testaccio, trong một khu vực dưới sự kiểm soát của thế giới ngầm của thành phố ("Trung Hoa ở La Mã" họ từng gọi thế), người Salêdiêng đã mở một trường học và một Nguyện xá ngày lễ bắt đầu cho thấy kết quả,[704] nhưng dân chúng cảm thấy bị bỏ bê theo nghĩa tôn giáo: không nơi thờ phượng cho người lớn, không có sự hiện diện rõ ràng của Giáo Hội. Cần tạo ra một giáo xứ. Đức Lêô XIII đã thiết lập một quỹ để bắt đầu xây dựng. "Họ bắt đầu đặt nền móng khoảng hai mươi năm trước đây", cha Rua giải thích với các Cộng Tác viên trong một lá thư tháng Giêng năm 1906. Nhưng dự án đã lâm vào cảnh khó khăn. Đức Piô X đã có một giải pháp triệt để. Ngài lấy công trình ra khỏi Khu Đại diện Tông Tòa của Rôma và giao phó cho những người Salêdiêng. Vào năm 1905, Đức Hồng y Tổng Đại diện nhận được lệnh tiếp tục các vấn đề bỏ dở với cha Rua. Cha Rua viết, công việc bắt đầu ngay lập tức "theo các bản vẽ của kiến ​​trúc sư Mario Ceradini". Ngài chắc chắn rằng các Cộng Tác viên sẽ giúp đỡ nhiệm vụ này.[705] Giáo xứ sẽ được dâng hiến Maria Liberatrice (Đức Maria Đấng Giải phóng). Việc này là để làm sống lại tên của một tòa nhà tôn giáo cổ xưa đã biến mất từ lâu vốn tọa lạc Tòa án Rôma.

Công trình không mất nhiều thời gian. Đến cuối năm 1907, những người thợ nề đã xây đến tận mái hiên. Nhờ vậy việc này cung cấp một dịp để khuyến khích các Cộng Tác viên hào phóng: tháng Chín năm 1907 lễ hội bắt đầu cho năm thánh kỷ niệm Đức Piô X chịu chức linh mục. Cha Rua yêu cầu công việc được tăng tốc để ngài có thể tặng nhà thờ làm quà cho Đức Giáo Hoàng cho lễ kỷ niệm Kim khánh linh mục của ngài. Ngài viết cho các Cộng Tác viên vào tháng Giêng năm 1908: "Nhưng để hoàn thành nhà thờ như được đề xuất, điều tuyệt đối cần là mọi người phải giúp cha ngay".[706]

Sự hỗ trợ cá nhân cho Đức Giáo Hoàng sẽ rất đặc biệt đối với ngài. Ngày 25 tháng Chín năm 1907, ngài viết thư cho Đức Piô X: "Tu hội Salêdiêng và Hiệp hội Cộng Tác viên Salêdiêng, muốn có phần trong việc biểu hiện long trọng lòng sùng kính con thảo mà thế giới Công giáo đang chuẩn bị để kỷ niệm Kim khánh linh mục được chờ đợi từ lâu của Đức Thánh Cha, muốn tặng Đức Thánh Cha Nhà thờ Santa Maria Liberatrice, hoàn thành và mở cửa để thờ phượng. Nó đang được xây dựng tại Testaccio ở Rôma, và sẽ sẵn sàng trước khi kết thúc năm thánh. Đúng là vẫn còn nhiều việc phải làm để thực hiện mong muốn mãnh liệt này, nhưng con chắc chắn nó sẽ đi đến kết cục viên mãn nếu Đức Thánh Cha ban Phép lành Tòa Thánh trên tất cả các Cộng Tác viên Salêdiêng vốn đang khẩn trương hoàn thành nhà thờ quan trọng nhất này". Đức Giáo Hoàng sẵn sàng ban phép lành trên tất cả các Cộng Tác viên, cùng với lời cảm ơn chân thành vì sự đóng góp của họ.[707]

Ước muốn của Cha Rua đã được đón nhận. Công cuộc được tiến hành khẩn trương. Vào tháng Năm năm 1908, các bức tường của nhà thờ và phần chính điện đã được hoàn thành. Ủy ban trung ương cho các lễ hội năm thánh đã được thành lập ngày 16 tháng Mười Một, ngày kỷ niệm hai mươi bốn năm thụ phong Giám mục của Giuse Sarto như là điểm cao trào cho các lễ kỷ niệm của Rôma. Vì vậy, đó là ngày hy vọng để tất cả mọi thứ được sẵn sàng. Người ta đưa ra quyết định: lễ cung hiến nhà thờ Santa Maria Liberatrice sẽ vào ngày 15 tháng Mười Một. Cha Rua dự định đi Rôma một vài ngày trước đó.

Những thiếu niên ở Nguyện xá, được các Bề trên khuyến khích, sẽ cầu nguyện và hiệp thông để người cha của họ hành trình đi về được an toàn. Mọi người đều biết thực tế sức khỏe của cha Rua đã trở nên không ổn định như thế nào. Giữa tháng Bảy và tháng Chín, ngài đã muốn tích cực tham gia một loạt các đợt tĩnh tâm cho người Salêdiêng: Valsalice, Sampierdarena, Nizza Monferrato, một lần nữa tại Valsalice, Foglizzo và lần thứ ba tại Valsalice, rồi Ivrea, Lanzo và cuối cùng ở Lombriasco. Đến giờ đôi chân của ngài đầy vết thương, gây đau đớn tột độ.

Không mất mát gì nhiều để hủy bỏ chuyến đi đến Rôma vào tháng Chín, sau một sự cố xảy ra trong thời gian tĩnh tâm tại Lanzo. Vào dịp đó cha Rua lại muốn đến thăm Đền Thánh Ignatius, trên đỉnh Núi Bastia gần đó, nơi Don Bosco đã đưa ngài đến nhiều lần trong thời trẻ của ngài. Người có tuổi yêu thích hình thức trở về quá khứ này. Ngài muốn đi bộ lên. Lên đến đó ngài cầu nguyện, nói chuyện với các tư giáo của những vị Truyền giáo Consolata vốn đang đi nghỉ tại đó, hồi tưởng lại những ký ức trong quá khứ. Sau đó ngài bắt đầu đi xuống. Một linh mục tốt lành từ nơi này đi cùng ngài và nắm lấy cánh tay ngài, nhưng dọc theo con đường tắt đột nhiên mất thăng bằng và đôi giày đinh đầu to của vị linh mục đập vào xương ống chân của cha Rua. Ngài gần như bất tỉnh, nhưng ngài trấn tĩnh lại và nén cơn đau khủng khiếp, tiếp tục đi xuống. Buổi tối, tại trường đại học, khi cởi giày, ngài thấy rằng ngài đã mất nhiều máu. Ngài tự chăm sóc mình trong một tháng cho đến khi cha Rinaldi thuyết phục ngài đi khám bác sĩ để kiểm tra. Bác sĩ ra lệnh nghỉ ngơi ngay lập tức, bằng không, không đi Rôma được. Ngày 1 tháng Mười, cha Rua chủ trì cuộc họp Tu Nghị Bề trên trong phòng của mình.[708] Ngài đón khách trong văn phòng, ngồi trên chiếc trường kỷ, chân giơ lên. Tất cả Nguyện xá biết về bệnh tật của ngài. Ngày 9 tháng Mười Một, trước ngày khởi hành, ngài có mặt để phát giải thưởng cho các thiếu niên lao động, và được một tràng pháo tay dài chào đón, như biên niên sử địa phương nói.[709]

Trên đường đi Rôma

Cuối cùng, ngày 10 tháng Mười Một, cha Rua đã có thể lên đường đi Rôma, theo các chặng đường ngắn, được cha Francesia đi kèm. Họ dừng lại ở Sampierdarena, rồi Livorno, và tại Colle Salvetti. Họ đến Rôma vào thứ bảy ngày 14. Trong những lần dừng chân, cha Francesia muốn cha Rua được yên tĩnh, nhưng không thành công. Cha Rua không bao giờ miễn thứ cho mình. Khán thính giả lũ lượt kéo đến. Bạn đồng hành của ngài viết từ Livorno, một ngày sau khi họ lên đường: "Cha Rua đã kiệt sức. Ngài không thể che giấu sự thật, nhưng tạ ơn Chúa, ngài đã bình tĩnh xử lý sự mệt mỏi từ những chuyến thăm và các bài huấn đức này".[710] Thật vậy bất cứ nơi nào cha Rua đến, ngài đều muốn nói chuyện với các hội viên. Và không bao giờ nói ngắn.

Người ta nói rằng tại Livorno ngài tiên đoán tương lai của hai đứa trẻ. Họ đã đi thăm gia đình Cộng Tác viên Richard De Ghantuz Cubbe, ông này giới thiệu hai đứa con của họ cho ngài, một em tên là Gioan, năm tuổi, và em kia tên Raphael, lên bốn. Cậu bé lớn hơn thích thú với các nghi lễ tôn giáo đến nỗi cha mẹ cậu đã làm cho cậu một bàn thờ nhỏ ở đó cậu chơi trò làm linh mục. Mẹ cậu may áo lễ vừa với khổ người cậu. Người cha và người mẹ thấy những dấu hiệu rõ ràng về ơn gọi linh mục ở cậu. Họ kể cho cha Rua nghe, ngài chỉ vào Gioan nói: "Đứa này, không", và sau đó với Raphael: "Đứa này, đúng!" Người cha giữ một cuốn sổ ghi chép các sự kiện trong gia đình nhỏ, và ghi chú ngày 11 tháng Mười Một năm 1908: "Cha Rua không biết Raphael hiếu động ra sao". Theo thời gian những thích thú về phụng vụ của Gioan biến mất, trong khi vào năm 1921 Raphael nhập tập viện Dòng Tên và được thụ phong linh mục ngày 26 tháng Bảy năm 1934. Cha Rua đã đúng.[711]

Tại Colle Salvetti, các học sinh đã tổ chức một buổi văn nghệ nhỏ để vinh danh ngài, và cha Rua đã cho các em huấn từ tối.

Cung hiến Nhà thờ

Ở Rôma, hai du khách ở lại Văn phòng Truyền giáo Salêdiêng tại San John della Pigna. Sáng hôm sau, cha Francesia ngạc nhiên thấy cha Rua giúp lễ cho cha Tổng Đại diện trong nhà thờ gần đó. Ngày hôm đó, ngày 15 tháng Mười Một, là ngày Chúa nhật. Bề Trên Cả vội vã đi thăm nhà thờ Santa Maria Liberatrice. Các công nhân đã bắt tay vào việc nhưng không thể hoàn thành. Điều đó không thể, một phần vì một phần bàn thờ chính, từ Milan, vẫn chưa đến. Không ai biết thậm chí nó ở đâu. Vì vậy việc cung hiến được xếp vào ngày 29 tháng Mười Một, ngày Chúa nhật đầu tiên của Mùa Vọng.

Chúng ta đừng nghĩ rằng cha Rua tận dụng sự chậm trễ để nghỉ ngơi. Ngày 16 ngài tham dự các lễ nghi Năm Thánh ở quảng trường Thánh Phêrô. Cha Tổng Đại diện đã dành một chỗ tốt cho ngài với các giáo sĩ, cạnh bàn thờ của Đức Giáo Hoàng. Buổi lễ kéo dài ba tiếng đồng hồ. Cha Francesia nghĩ Đức Piô X đã nhận ra cha Rua và quay về phía ngài tại một khoảnh khắc quan trọng. Có thể. Dù sao thì Bề Trên Cả đang bị đau. Cha Francesia viết: "Tôi lo lắng về đôi mắt của ngài, vì mắt ngài trông lờ mờ hơn và ngài không thể che giấu sự thật rằng nó đang làm ngài khó chịu, vì ngài cứ phải nhắm mắt thường xuyên và dụi nó"[712]. Những vị khách quý đến gặp ngài tại Văn phòng Truyền giáo, vì Lễ kỷ niệm của Đức Piô X đã thu hút nhiều người đến Rôma.

Để được nghỉ ngơi một chút, người ta đề nghị cha Rua ghé thăm những ngọn đồi ở Rôma nơi người Salêdiêng có một số nhà. Ngài đến Genzano vào buổi tối, và những tập sinh làm ngài bất ngờ với sự chào đón bằng ánh đuốc ở lối vào thành phố. Cha Rua đã ban huấn từ tối. Thư ký Francesia rất ngạc nhiên khi thấy ngài vẫn "tươi như hoa". Giám đốc thậm chí còn kinh ngạc hơn. Chúng tôi đọc những gì cha Andrew Gennaro nói trong quá trình tuyên thánh: "Ngày 18 tháng Mười Một năm 1908 tại Genzano ở Rôma, Cha Rua gọi tôi đến phòng ngài sau khi giờ kinh chiều. Tôi đến; khi tôi bước vào ngài đang ngồi và ngài nhờ tôi cởi giày và vớ của ngài, vì tự ngài không thể làm được. Tôi đã gần như quỳ gối vì lòng kính trọng hơn là vì sự cần thiết phải làm việc đó. Sau khi cởi giày tôi lột chiếc vớ đầu tiên ra. Nhìn chân màu đen tái nhợt của ngài, tôi xúc động kêu lên: "Ôi chao! Cha Rua, nhìn đôi chân này! - Nhưng cha Rua bảo tôi nhanh chóng cởi chiếc vớ kia, và tử tế chúc tôi ngủ ngon, để tôi đi. Tôi có cảm tưởng rằng các bệnh giãn tĩnh mạch mà ngài chịu đựng đã ảnh hưởng đã ảnh hưởng nặng nề đến đôi chân.[713]

Mặc dù tòa nhà chưa hoàn toàn sẵn sàng, buổi lễ cung hiến Nhà thờ lớn, xinh đẹp Santa Maria Liberatrice đã diễn ra ngày 29 tháng Mười Một. Cha Rua viết trong thư luân lưu ngày 31 tháng Giêng như sau: "Cha không biết diễn tả ra sao bằng lời niềm vui tinh ròng mà cha cảm thấy vào Chúa nhật ngày 29 tháng Mười Một vừa qua, tham dự vào lễ cung hiến nhà thờ mới, được điều khiển bởi Đức Hồng y Resphigi, Đại diện của Đức Thánh Cha. Nhìn xung quanh, và nhìn thấy người dân Testaccio đến ngôi nhà thờ mới của họ, cha rất vui khi nói rằng nhờ những hy sinh của chúng ta, chúng ta đã đóng góp vào việc cho họ phương thế sống như những người Kitô hữu tốt lành”.[714] Và ngài minh họa suy nghĩ của mình bằng cách trích dẫn một đoạn dài từ Civiltà Cattolica, bao gồm một bình luận quan trọng về chủ nghĩa xã hội, hiếm thấy trong các bài viết của ngài, vốn được ngài cẩn thận tránh bất kỳ ám chỉ chính trị nào:

Danh hiệu vinh quang của ngôi nhà thờ cổ xưa vốn nhắc nhớ đến việc Đức Maria chiến thắng chủ nghĩa ngoại giáo trong quá khứ trong Tòa án Rôma, giờ đây được trùng tu tại Testaccio do Đức Giáo Hoàng mong muốn rõ ràng. Vì thế, Maria Liberatrice giờ đây đang ngự trị ở Aventine, trong vùng ngoại ô đông dân đang phát triển xung quanh nó, tuyên bố chủ quyền của Mẹ đối với chủ nghĩa ngoại giáo tân thời là chủ nghĩa duy nhiên xã hội, phong trào tìm kiếm và vẫn tìm cách tập trung nỗ lực của nó giữa những người lao động ở đây. Dưới bóng của Mẹ, công cuộc tốt lành và hiệu quả của con cái Don Bosco sẽ phát triển, được hỗ trợ bởi lòng bác ái Kitô hữu, với các Nguyện xá, các nhóm, trường học và các tổ chức tương tự khác phù hợp với thời gian và địa điểm. Như vậy cũng dưới bóng của Maria Liberatrice, dân lao động Testaccio sẽ tăng lên, thoát khỏi thiếu niềm tin và tật xấu. Và họ sẽ luôn được giáo dục tốt hơn để hỗ trợ cho cuộc đấu tranh của họ bằng sự trung thực và đức tin chống lại những loại người đáng thương bị lạc lối, những người vội vã chống lại việc cải hóa theo đạo Kitô giáo và làm hư hỏng vùng ngoại ô của thành phố Rôma qua sự vô trật tự, tình trạng hỗn loạn, tội lỗi.[715]

Ngài cũng lưu ý rằng trong buổi triều yết Đức Giáo Hoàng ngày 10 tháng 12, Đức Piô X tỏ ra quan tâm đến tất cả những người Salêdiêng, và vui mừng với Tu hội vì đã đưa việc công trình xây dựng nhà thờ lớn tại Testaccio đến kết cục thành công. Ngài đã bày tỏ những mong ước tốt nhất của mình cho việc tông đồ Salêdiêng vì đàn chiên của ngài ở nơi đó và khuyến khích vị linh mục sẽ là linh mục giáo xứ đó. Vào cuối buổi triều yết, Bề Trên Cả sốt sắng mang đi một phép lành rất đặc biệt mà Đức Giáo Hoàng đã tự tay viết: "Deus omnipotens adimpleat omnem benedictionem suam in vobis" [Xin Thiên Chúa toàn năng đổ đầy phúc lành trên các con]. Với sự phấn khích cha Rua nói rằng bằng cử chỉ này Đức Giáo Hoàng "không chỉ gắng kiếm dư tràn phép lành trên tất cả Tu hội khiêm hạ của chúng ta, mà còn thêm lời cầu nguyện của ngài rằng nó sẽ hoàn thành và hiệu quả".

Ngài không lãng phí thời gian trong những ngày đó. Sau Rôma, ngài đi về phía nam đến những nhà Salêdiêng ở Caserta, Castellamare, Naples và Portici. Mặc dù ngắn ngủi, các chuyến thăm của ngài gợi lên sự nhiệt tình giữa đám đông và người trẻ. Cha Francesia, người đi cùng ngài, liều đưa ra nhận xét này: "Hôm nay cha Rua đã thu hút sự nhiệt tình mà Don Bosco đã làm, và sự tôn kính đối với ngài là loại dành cho một người có nhân đức phi thường". Giống như Don Bosco, ngài thậm chí còn hóa bánh thánh ra nhiều, nếu chúng ta muốn tin lời khai của Đức Giám mục người Salêdiêng Federico Amanuel trong tiến trình tông tòa cho sự tuyên thánh của ngài:

Tôi là Giám đốc trường cao đẳng Salêdiêng tại Caserta năm 1909, vào tháng Mười Hai khi ngài đến thăm nhà tôi. Các em học sinh đến dự Thánh Lễ mà Cha Rua sẽ cử hành. Vị giám linh đã quên truyền phép bánh thánh. Lúc hiệp lễ, ngài mang bình đựng bánh thánh ra thì chỉ thấy một vài bánh thánh ở đó. Người đó bối rối và bẽ mặt nhưng Cha Rua bảo: "Đừng lo lắng" và bắt đầu trao Mình Thánh. Hai trăm ba mươi học sinh lên Rước Lễ. Tôi không biết bao nhiêu bánh thánh vẫn còn sau đó, nhưng có một số. Khi Thánh Lễ kết thúc, ngài cấm cha Giám linh, cha Peter Squarzon, không được nói việc này với bất cứ ai dưới bất cứ hình thức nào. Nhưng Giám linh đó nói với tôi về điều đó và bảo tôi giữ bí mật. Tôi cũng không nói về nó cho bất cứ ai.[716]

Thảm họa Messina

Năm 1908, đầy những sự kiện hạnh phúc, kết thúc một cách bi thảm với con cái Sicilia của ngài.[717] Tối ngày 22 tháng 12, cha Rua lặng lẽ trở về Turin. Sáng ngày 28 tháng 12, một trận động đất dữ dội tiếp theo là một cơn sóng thần mạnh mẽ, dội vào các bờ biển Sicily và Calabria. Trong vài giây, các thành phố Messina và Reggio, và nhiều làng xung quanh họ, được đưa lên mặt đất với tổng cộng hai trăm nghìn nạn nhân. Tất cả các thông tin liên lạc đã bị gián đoạn, và tin tức đầu tiên không mô tả đầy đủ thực tế và lan truyền khắp nước Ý và thế giới chỉ vào sáng ngày 29. Cha Rua, như Don Bosco đã có kinh nghiệm động đất ở Liguria, lập tức gửi điện báo cho Đức Tổng Giám mục Messina, Đức Hồng y Tổng Giám mục của Catania, và cũng là Quản lý của hai thành phố bị tàn phá.

Sợ hãi cho số phận rớt xuống những hội viên và học sinh của con từ Calabria và Sicily, con cầu xin Chúa ban điều lành cho họ, và con sẽ mở cửa các cơ sở của con cho những người trẻ bị mồ côi bởi trận động đất. Con đã gửi điện báo cho Giám tỉnh ở Catania, cha Bartholomew Fascie, và yêu cầu ngài theo sự sắp xếp của Đức Cha và vị Quản lý để cung cấp các nhu cầu khẩn cấp nhất cho những người trẻ đang đau khổ, biết rằng nó sẽ là một công việc của đức tin và lòng yêu nước.[718]

Ngày 30 tháng 12, chưa có tin tức chính xác nào báo đến Turin. Vì gặp vấn đề với đôi chân cha Rua buộc phải ở lại trong phòng của mình, không thể đích thân đến những nơi phải chịu đựng thảm họa này. Ngài phái cha Bertello, nguyên Giám tỉnh Sicily, với cha Calogero Gusmano và sư huynh Tagliaferri. Cuối cùng, tối thứ 31, một bức điện tín đến, được gửi từ Catania vào ngày 29, mô tả nhiều nạn nhân tại trường Cao đẳng Salêdiêng ở Messina. Đó là buổi tối khi Hoa thiêng (Strenna) mừng Năm Mới được lan đi theo truyền thống. Mặc cho tình trạng sức khỏe yếu kém của mình, Cha Rua muốn đến nhà hát để nói chuyện với những hội viên và công bố hoa thiêng và lời cầu nguyện ngắn kèm theo. Cha Amadei bấy giờ có mặt ở đó, nhớ lại rằng khi bình luận về Hoa thiêng, ngài có vẻ như một nạn nhân sẵn sàng chịu bất kỳ khổ cực nào mà Thiên Chúa Toàn Năng có thể muốn hoặc cho phép xảy ra. Sau đó, lòng đầy xúc động, ngài tiếp tục đọc bức điện tín. Giọng nói của ngài, bàn tay run rẩy, toàn thể con người ngài, nỗi buồn thực sự ngài cảm thấy sâu thẳm trong tim, gây cảm xúc buồn sầu với mọi người ở đó. Họ đi ngủ và cầu nguyện cho ngài.

Các học sinh ở Valdocco xin cha Rua dâng một Lễ trọng cho các bạn học của các em ở Messina. Thư luân lưu ngày 2 tháng Giêng năm 1909 gửi các Cộng Tác viên ở Turin nói đến sáng kiến này, bổ sung thêm: “Những người Salêdiêng cũng vậy, để làm dịu nỗi buồn của mình, muốn làm tương tự như vậy để cầu nguyện cho những hội viên và các Cộng Tác viên của họ. Tang lễ thứ hai sẽ diễn ra vào sáng thứ ba ngày mùng 5 tháng này, lúc 10 giờ, tại Đền thờ Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu, cha hy vọng mình làm đúng khi gửi thông báo này cho anh chị em, kính mời anh chị em tham dự, để cầu cho những người đã mất được nghỉ yên đời đời và sẽ không bao giờ bị lãng quên.”[719]

Một lá thư chuyển phát nhanh từ Cha Bertello, đến trong những ngày này, giải thích những hoàn cảnh khủng khiếp tại trường cao đẳng Messina, vốn trước đây được coi là có khả năng chịu được các trận động đất: "Các anh em linh mục đã chết và vẫn bị chôn vùi dưới tòa nhà là: Pasquali Joseph, Pirrello Vincent, Claris Darius, Urso Anthony, Lo Faro Archangel, Rapisarda Mauro, các giáo sĩ Manzini Mario, Venia Joseph và Thầy Longo Joseph. 38 học sinh cũng đã chết cùng với những công nhân trong nhà Marotta Anthony, Marotta Salvatore, Pirrello Chaancis, Zuccarello Alfio. Nhiều người bị thương, nhưng không ai bị nặng".

Ngày 4 và 5 tháng Giêng, các nghi lễ đã được công bố diễn ra trong Đền thờ, tất cả đều được phủ màn đen. Sức khỏe yếu kém của cha Rua ngăn ngài cử hành Lễ trọng như ngài muốn. Trong suốt toàn bộ nghi lễ, ngài quỳ gần quan tài, thân thể và khuôn mặt ngài rõ ràng hằn lên nỗi buồn. Cha Rua đáng thương. Năm 1907, một loạt các lời vu khống đổ lên ngài, và năm 1908 một thảm họa thiên nhiên đã đưa năm này, một năm cuối cùng đã làm ngài bình tĩnh lại, in extremis. Kiệt sức, kiệt quệ vì bệnh tật khi ngài tiến gần đến tuổi bảy mươi hai, giống như Don Bosco khi ngài rời bỏ thế giới này, ngài bình tĩnh chuẩn bị theo Don Bosco. Ngài cảm giác rằng cái đích đã gần, trong khi đó các việc chuẩn bị đang được tiến hành cho kỷ niệm Kim khánh linh mục của ngài vào mùa hè năm 1910.

Chú thích

[701] Ở đây tôi theo đúng Ceria, Vita, 494-509.

[702] X. Tổng hợp các Ơn xá, Đặc ân và Đặc miễn được ban cho các Hiệp hội Cộng Tác viên Salêdiêng được Đức Thánh Cha Piô X phê chuẩn, tại buổi triều yết ngày 13 tháng Bảy, 1904, trong Bollettino Salesiano, tháng Giêng, 1905. 8-10.

[703] Cha Rua giải thích trong thư luân lưu ngày 19 tháng 2, 1905, trong L.C., 324-325.

[704] Thư luân lưu ngày 31 tháng Giêng, 1909, trong L.C., 401.

[705] Bollettino Salesiano, tháng Giêng, 1906, 13.

[706] Có thể tìm thấy những câu hỏi được in trong FdR 3983D5-7; trong FdR 3983D8 chúng tôi tìm thấy những câu hồi đáp được Đức Giáo Hoàng chấp thuận và đề ngày 21 tháng Tám .

[707] Ghi chú được gửi tới Circolo Don Bosco, gửi cho "Cha Rua thân mến, Bề trên Tổng quyền ", ngày 24 tháng Chin, 1907, trong FdR 3833A5.

[708] Biên bản cuộc họp Tu Nghị Bề trên, ngày 1 tháng Mười, 1908, trong FdR 4248A8.

[709] Amadei III, 451.

[710] Thư của G.B. Francesia gửi Cha Rinaldi, Livorno, ngày 11 tháng Mười Một, 1908, trong FdR 3016D12.

[711] Ceria, Vita, 498-499.

[712] Được Ceria trích dẫn, Vita, 500.

[713] Lời khai từ Cha Andrea Gennaro tại Tiến trình tông tòa, trong Positio 1947, 901. Tuy nhiên, lời chứng tỉ mỉ này lẫn lộn vớ với chân, và bổ sung: "Nhưng vì tôi rối trí, tôi không thể kiểm tra xem vớ mà ngài cởi ra có được mang ngoài vớ dài đàn hồi bên trong hay không." Ngài nhầm lẫn vì bất cứ ai mang vớ dài đàn hồi đều biết cởi ra khó khăn thế nào. Chắc chắn Cha Rua sẽ nhờ ai đó cởi hộ. Do đó Gennaro đã thực sự thấy chân đẫm máu.

[714] Ở đây tôi theo dõi tiếp thư luân lưu ngày 31 tháng Giêng, 1909, trong L.C., 400-402.

[715] L.C., 401-402, nơi Civiltà Cattolica được trích dẫn, sách 1404.

[716] Positio 1947, 472-473.

[717] Tôi tham khảo ở đây bản mô tả trong Amadei III, 474-478; Amadei là một nhân chứng trực tiếp, vì vậy là một người đáng tin cậy; ngài được Cha Rua bổ nhiệm là Chủ bút tờ Bollettino Salesiano năm đó, 1908.

[718] Amadei III, 475.

[719] FdR 4001D2-3.


FMA Logo

Địa chỉ: 57 Đường số 4, Khu phố 56, P. Tam Bình, TP. Hồ Chí Minh

Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về email: libraryfmavtn@gmail.com

Liên Kết

Truyền Thông FMA

Copyright Dòng Con Đức Mẹ Phù Hộ © 2026