27. Các Tổng tu nghị năm 1901 và năm 1904
Tổng Tu Nghị Thứ Chín (1901)
Công việc tồi tệ ở Pháp xảy ra đồng thời với hai Tổng Tu Nghị quan trọng nhất dưới thời cha Rua làm Bề trên Cả, cả hai đều được tổ chức tại Turin-Valsalice. Chúng đóng một vai trò quyết định trong sự phát triển Tu hội Salêdiêng, đặc biệt là Tổng Tu Nghị thứ hai. Đến thời điểm này, ta phải để ý đến Tu hội gia tăng độ lớn rất mạnh. Vào năm 1888, có 773 thành viên khấn và 276 tập sinh trải rộng ở 64 trung tâm. Năm 1901 có 2916 người khấn với 742 tập sinh và 265 ngôi nhà. Đến năm 1904, số người khấn đã tăng lên đến 3223 và những tập sinh tăng lên 764 ở 315 trung tâm.[505] Những con số như vậy đòi hỏi cấu trúc và hệ thống huấn luyện mới. Cha Rua nhận thức rõ điều đó.
Tổng Tu Nghị Thứ Chín được tổ chức từ ngày 1-5 tháng Chín năm 1901.[506] 154 hội viên tham dự. Vì một ai đó đã đặt câu hỏi về tính hợp lệ của Công báo do các Tổng Tu Nghị trước soạn ra, thêm vào đó một số quyết định của Tổng Tu Nghị này đã được dành cho Tòa Thánh cứu xét, Cha Rua phải chờ cho đến ngày 19 tháng Ba sau để nói với các hội viên một cách thỏa đáng.[507] Trong bản tường thuật của chúng tôi, chúng tôi sẽ ghi nhớ thư luân lưu ngày 19 tháng Ba năm 1902.
Tại hội nghị sơ bộ vào tối ngày 1 tháng Chín, Cha Rua đã trình bày sắc lệnh liên quan đến tác vụ giải tội, đã được giải quyết ở trên (xem Chương 24). Bằng hành động này, ngài hoàn toàn phục tùng các quyết định của Văn phòng Tòa Thánh. Ngày 2 tháng 12, câu hỏi đã được nêu lên về sự phù hợp của việc thiết lập các Tu Nghị Tỉnh và thành phần Tổng Tu Nghị của Tu hội. Đây là một trong những vấn đề tạm thời bị treo. Cho đến thời điểm đó, các Tổng Tu Nghị được tổ chức ba năm một lần và gồm các thành viên của Tu Nghị Bề trên, các Giám tỉnh và tất cả các giám đốc của cộng đoàn. Tổng Tu Nghị đề xuất rằng trong tương lai, các Tổng Tu Nghị nên được tổ chức sáu năm một lần với sự tham gia của các thành viên của Tu Nghị Bề trên, Tổng Đại diện của Tu hội, các Giám tỉnh và một hoặc nhiều nhất, hai đại biểu được các Tu Nghị Tỉnh bầu. Vào cuối năm 1901, Cha Rua tiếp cận Thánh Bộ các Giám mục và Dòng Tu về điểm này và đã thành công. Ngày 12 tháng Hai năm 1902, Cha Tổng Đại diện Marenco đã có thể giải thích cho Tu Nghị Bề trên rằng Thánh Bộ các Giám mục và Dòng Tu đã chấp nhận đề nghị Tổng Tu Nghị diễn ra sáu năm một lần và Tu Nghị Tỉnh diễn ra ba năm một lần ở mỗi tỉnh.[508] Do đó, thư luân lưu ngày 19 tháng Ba thông báo: “Trong Tổng Tu Nghị năm 1904 khi các cuộc bầu cử sẽ được tổ chức, chỉ có các Giám tỉnh tham dự kèm theo một người anh em từ mỗi tỉnh được các thành viên đã tuyện khấn của Tỉnh Dòng bầu chọn.”
Do đó các Giám tỉnh và các Tỉnh Dòng mang lấy tầm quan trọng mới trong Tu hội Salêdiêng. Động thái này đã được xem xét trong vài năm. Trong cuộc họp ngày 12 tháng Bảy năm 1897, cha Rua đã chỉ ra cho các thành viên của Tu Nghị Bề trên rằng ‘với các quy định thích hợp tại chỗ, bàn giao cho các Giám tỉnh và các Tu Nghị Tỉnh của các ngài, việc chấp nhận các công cuộc mới quả là thiết yếu bởi vì giữa quá nhiều công việc Tu Nghị Bề trên không thể tiếp tục kiểm tra các yêu cầu ngày càng nhiều, gây mất thời gian không xuể’.[509] Sự phân quyền là cần thiết. Cha Rua lợi dụng thư luân lưu ngày 19 tháng Ba để thông báo cho các Giám tỉnh về những gì được mong đợi nơi các ngài. Ngài rất rõ ràng và đòi hỏi.
Ngài viết: ‘Trước hết, với sự sáng suốt, các ngài hãy bảo đảm rằng trong mỗi cộng thể, ai nấy hoàn toàn tuân thủ quy tắc và tinh thần thực sự của Don Bosco. Đây là nền tảng và toàn bộ tương lai của Tu hội của chúng ta. Nếu các Giám tỉnh không cảnh giác, hoặc yếu nhược, các rối loạn sẽ nhanh chóng lan ra. Vì vậy họ phải nhớ rằng họ có trách nhiệm chuẩn bị các tư giáo cho đời linh mục. Đây là trách nhiệm chính của họ trước mặt Thiên Chúa. Cuối cùng, họ hãy làm công việc huấn luyện các hội viên trong các tỉnh của riêng họ với những bằng cấp về thần học, triết học, nghệ thuật và khoa học v.v. để đáp ứng nhu cầu giảng dạy và rao giảng, mà không mong đợi mọi thứ đến từ Turin.’ Sự phân vùng của Tu hội sắp xảy ra.
Tối ngày 2 tháng Chín, Tổng Tu Nghị đã bỏ phiếu một số quyết định quan trọng về việc huấn luyện chủng sinh. Cho đến lúc đó, sau những năm học triết, hầu hết các hội viên học thần học vẫn còn ở các trường khác nhau cho đến khi được thụ phong. Các học viện thần học chuyên môn giờ đây cần phải cải thiện việc huấn luyện. Đề xuất đã được chấp thuận ‘rằng Tu Nghị Bề trên sẽ thiết lập các học viện thần học, nơi được coi là phù hợp, để phục vụ một hoặc nhiều tỉnh dòng.’ Ủy ban chịu trách nhiệm về vấn đề ấy ghi nhận rằng vì quyết định này sẽ lấy khỏi các nhà sự trợ giúp quan trọng của các giáo sĩ, nên đề xuất rằng vào cuối kỳ học triết học và trước khóa học thần học, họ phải được gửi đến làm việc trong những nhà riêng lẻ. Tổng Tu Nghị đồng ý. Cha Rua viết trong bản tường thuật ngày 19 tháng Ba năm 1902: ‘Mọi người quyết định rằng sau khóa học triết học, các giáo sĩ đảm nhận một thời hạn ba năm làm việc thực tế trong các nhà của Tu hội chúng ta, và sau ba năm này, rút về bốn năm để nghiêm túc học thần học, theo toàn bộ khóa học thần học tín lý, bí tích và luân lý v.v’ Ngài đưa ra lý do đằng sau nó: ‘Mọi người cảm nhận cần phải huấn luyện tốt đẹp các giáo sĩ của chúng ta trong nền học vấn thánh, và việc cung cấp này càng trở nên cấp bách hơn khi các vị thẩm quyền trong giáo hội đã thấy điều này.’ Thực vậy, Thánh Bộ các Giám mục và Dòng Tu và chính Đức Lêô XIII đã phàn nàn về việc người Salêdiêng thiếu huấn luyện thích đáng về thần học.
Đôi khi trong Tổng Tu Nghị, lỗi này bị đổ hết cho Tu Nghị Bề trên. Cha Rua trả lời cáo buộc rất rõ ràng vào sáng ngày 3 tháng Chín . Cuộc nói chuyện của ngài với các thành viên của Tổng Tu Nghị đáng được trích dẫn. Như mọi khi, Don Bosco là khuôn mẫu. ‘Nhiều lần, người Cha tốt lành của chúng ta đã khuyến khích chúng ta tránh tinh thần mâu thuẫn, chỉ trích và cải cách, và muốn đưa đề nghị này vào lời khuyên đặc biệt mà ngài đã để lại cho con cái của mình: tránh mong muốn cải cách. Tôi nhắc lại lời khuyên này cho anh em. Chỉ trích các Bề trên thì chí tử cho cộng đoàn, đặc biệt khi nó đến từ các Giám đốc hoặc các Giám tỉnh. Đối tượng mất cảm giác vâng phục, họ không còn tin tưởng vào các Bề trên của họ và quyền bính của anh em bị tổn hại. Không chỉ phải tránh chỉ trích các Bề trên, mà còn phải tránh chỉ trích các đồng nghiệp và người tiền nhiệm của mình. Không được chỉ trích những thành tựu của họ; hãy tìm hiểu các phương pháp của họ, nhưng không phá hủy hoặc cải cách những gì họ đã xây dựng trừ khi, sau hai năm, sự cần thiết tuyệt đối trở nên rõ ràng. Tránh chỉ trích những người phụ thuộc mình; nó là một dấu kiêu ngạo. Họ cũng có lý do và cặp mắt để nhìn và phán đoán. Nó ngược với đức ái, luôn muốn áp đặt quan điểm của riêng mình; cẩn thận đừng quở trách bất cứ ai khi anh em đang nổi nóng; nếu cần thiết thu thập tất cả các thông tin thích đáng. Don Bosco thật tuyệt vời trong cách ngài khen ngợi và thể hiện sự hài lòng với những gì mà người phụ thuộc của ngài làm: điều đó như lời khuyến khích thực hiện bổn phận của mình và giành được mối cảm tình của họ.[510]
Cũng vào sáng hôm đó, một cuộc tranh luận đã diễn ra về việc học đại học của các giáo sĩ. Một thư luân lưu từ Thánh Bộ các Giám mục và Dòng Tu, gửi đến các Giám mục và Bề trên Tổng Quyền (21 tháng Bảy năm 1896) đã cấm các chủng sinh giáo phận và dòng đi học đại học trước khi hoàn tất việc học triết học và thần học. Tâm trí họ có thể bị ảnh hưởng tiêu cực bởi sách vở, giáo sư và toàn bộ môi trường. Người Salêdiêng lẽ ra cũng phải phục tùng quyết định này. Nhưng làm cách nào mà các hội viên được thuyết phục để tiếp tục việc học văn chương hay khoa học sau bảy năm vắng mặt (ba năm triết học và bốn năm thần học)? Các trường Salêdiêng sẽ thiếu giáo viên có bằng cấp và phải mướn giáo viên bên ngoài, như vậy phải gánh phí tổn nghiêm trọng và bất lợi cho tinh thần và việc học của sinh viên. Do đó, ủy ban liên hệ yêu cầu phê duyệt một điều khoản để đưa vào các quy định như sau: ‘Các giáo sĩ với trình độ cần thiết và những người được các bề trên đánh giá có khả năng, sau khóa học triết học, có thể học đại học và những môn học khác cao hơn.’ Việc miễn trừ được coi là cần thiết bởi tình hình đặc biệt của Tu hội Salêdiêng phải được phép của Thánh Bộ các Giám mục và Dòng Tu. Đối với câu hỏi do ủy ban đặt ra, trong số 146 cử tri, 131 phiếu thuận, 9 phiếu chống và 6 phiếu trắng. Trong những tuần sau đó, Cha Rua đã trình bày một đề nghị đã suy nghĩ kỹ lưỡng cho Thánh Bộ Rôma.[511] Ngày 21 tháng 12, Thánh Bộ Rôma chấp thuận việc miễn trừ như mong muốn trong thời gian ba năm, giới hạn cho những cá nhân được đánh giá phù hợp cho việc giảng dạy và thực hiện tất cả các biện pháp phòng ngừa cần thiết.
Khi khai mạc phiên họp buổi tối ngày 3 tháng Chín, Cha Rua nói về niềm vui và sự thanh thản mà Don Bosco đã truyền vào cộng đoàn. Đó là lý do tại sao tất cả những người xung quanh ngài cảm thấy hạnh phúc.
Làm cách nào chúng ta có thể giống ngài? Thứ nhất là: chính xác trong các việc thực hành đạo đức, không có nó hạnh phúc và bác ái không thể ngự trị trong chính chúng ta cũng như trong cộng thể chúng ta. Sẽ sai lầm khi nhầm lẫn lòng bác ái với việc để cho mọi thứ đi quá xa. Thứ hai là: với tình yêu và sự tốt bụng phải bảo đảm Quy luật được tuân thủ. Thứ ba là: cũng rõ ràng quan tâm đến việc bồi dưỡng sức khỏe thể chất của những người phụ thuộc mình; giải quyết sớm những nhu cầu của họ nếu có thể trong những trường hợp đau khổ, bệnh tật, vv .. Thứ tư là: không bám quá chặt vào ý kiến riêng mình. Ngay cả trong các cuộc họp, sẵn sàng nghe ý kiến của họ và làm theo nó khi không có nguy cơ gây hậu quả có hại. Thể hiện tính linh hoạt nhất định. Bằng cách này, cuộc sống sẽ tiến triển trong bình an, hòa hợp và vui vẻ.[512]
Sáng ngày 4 tháng Chín, cha Rua đưa ra một số đề nghị về tình bác ái huynh đệ. Ngài coi ‘việc giúp đỡ lẫn nhau và hỗ trợ và truyền bá hiểu biết về các công cuộc chúng ta và của những người hội viên mình’ là cần thiết. Ngài cũng đưa ra một vài ví dụ cụ thể: cho lưu hành tạp chí Catholic Readings, mua những gì cần thiết cho văn phòng từ các cửa hàng của người Salêdiêng, trả các khoản nợ cho các nhà của người Salêdiêng; trả phần đóng góp cho các tập viện.[513] Như một lời mở đầu cho phiên họp buổi tối ngày hôm đó, ngài tin rằng việc bày tỏ ý kiến của mình về các phương tiện tuyển dụng các Cộng Tác viên Salêdiêng và các hội viên là điều thích hợp. Như Don Bosco đã làm, ngài đơn giản hóa (quá nhiều?) vấn đề cho các Cộng Tác viên.
‘Don Bosco rất quan tâm đến Hiệp hội Cộng Tác viên và ngài đã cố gắng truyền bá nó rộng khắp. Làm việc này không cần thiết phải đặt câu hỏi, gửi cho họ các Quy luật là đủ. Khi chúng ta gặp một người có thiện chí, chúng ta gửi cho họ chứng chỉ [thành viên của Hiệp hội]. Để không lặp lại mọi thứ, hỏi xem họ có nhận được Tập san hay không, nhưng không ám chỉ đến bất kỳ nghĩa vụ nào, chỉ cần nói nó liên quan đến làm một chút việc tốt mà không có bất kỳ nghĩa vụ nào trong lương tâm.’ Chúng ta cần phải tăng số hội viên, cha Rua tiếp tục. ‘Phương tiện đầu tiên là làm cho người ta biết đến và đánh giá cao công cuộc của Tu hội, thường xuyên nói về Don Bosco, về truyền giáo và các công cuộc Salêdiêng khác. Đừng thu hút với những lời hứa hão, nhưng vun trồng những tâm tình quảng đại với bất cứ ai cảm thấy được gọi vào đời tu, vốn là một đời sống hy sinh. Phương tiện thứ hai là hỏi các cha xứ mà chúng ta có tương quan để xem họ có biết người trưởng thành nào có thể trở thành một sư huynh hoặc làm việc trong nhà của chúng ta không, và sau đó săn sóc họ thật tốt và làm cho họ yêu Tu hội chúng ta. Đây là việc liên quan đến tất cả chúng ta.’[514]
Mọi tham luận mà ngài thực hiện trong suốt thời gian diễn ra Tổng Tu Nghị đều cho thấy lý trí của cha Rua thật ngăn nắp, trật tự và logic, cũng như ngài muốn trung thành đi theo bước chân của Don Bosco.
Lễ đội triều thiên Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu (1903)
Ngày 17 tháng Năm năm 1903 ‘sẽ được ghi bằng chữ vàng trong biên niên sử của Tu hội chúng ta’, cha Rua đã tuyên bố trong ‘lá thư soi sáng’ gởi cho các người Salêdiêng ngày 19 tháng Sáu sau đó.[515] Thực vậy, vào ngày đó, theo yêu cầu của cha Rua, Đức Hồng y Augustine Richelmy đã tiến hành lễ đội triều thiên long trọng cho bức ảnh Đức Maria Phù Hộ các Giáo Hữu tại đền thánh của Mẹ ở Turin.[516] Lòng sùng kính tin cậy của cha Rua dành cho Đức Maria Phù Hộ các Giáo Hữu đã nổi tiếng. Ví dụ, ngày 20 tháng Giêng năm 1900, ngài viết thư cho các hội viên: ‘Nhờ Đức Maria Phù Hộ các Giáo Hữu cầu bầu, chúng ta phải hy vọng có được ánh sáng cho tâm trí, sức mạnh cho ý chí, sức khỏe cho cơ thể, sự thịnh vượng trong các sự nghiệp chúng ta và tất cả sự giúp đỡ, trần thế và mặt khác, có thể cần thiết trong nhà chúng ta. Mẹ kéo xuống rất nhiều ân sủng cho các Cộng Tác viên của chúng ta, thì Mẹ còn kéo xuống biết bao ân huệ dành cho các con đầu lòng của mẹ, nếu chúng ta thực sự cầu khẩn Mẹ và tôn vinh Mẹ như những người con ngoan?’[517] Ngài không lặp lại vào ngày hôm đó nhưng đội triều thiên bức ảnh Mẹ tại Valdocco đối với ngài là chiến thắng của Đức Maria.
Ý tưởng tôn vinh bức ảnh Đức Maria Phù Hộ các Giáo Hữu xuất phát từ một linh mục tại Nguyện xá vào năm 1902 và ngay lập tức cha Rua biến nó thành của riêng mình. Tuy nhiên, nhiệm vụ không dễ làm; cần phải được Rôma đồng ý cho nghi lễ đặc biệt này. Bề Trên Cả quyết định tận dụng lễ kỷ niệm của Đức Lêô XIII, ngày 20 tháng Hai ngài đã bước vào năm thứ 25 của triều đại Giáo Hoàng của mình, một sự kiện hiếm hoi trong lịch sử của các Giáo Hoàng. Người Salêdiêng muốn đặc biệt cử hành lễ ngân khánh đó. Lấy cảm hứng từ cha Rua, Bollettino Salesiano đã đưa ra đề xuất cho tất cả các giám đốc và Nữ tu phụ trách các nhà Salêdiêng khác nhau là bắt đầu quyên góp để trang trải chi phí một album tuyệt vời sẽ được trình cho Đức Giáo Hoàng cùng với tiền lạc quyên cho Tòa Thánh. Album sẽ chứa tất cả tên của những người góp tiền đã đóng góp ít nhất mười xu. Kết quả là hai album lớn với 70.000 chữ ký và tổng cộng 12.400 đồng lire Ý. Cha Rua quyết định sẽ đích thân trình mọi thứ cho Đức Lêô XIII, cùng với một phái đoàn giới trẻ đi theo. Tận dụng tối đa dịp đó, ngài sẽ xin phép đội triều thiên cho bức ảnh của Đức Maria Phù Hộ các Giáo Hữu trong đền thờ của Mẹ tại Valdocco.
Ngài rời Turin cuối tháng Mười Hai năm 1902 cùng với bốn linh mục dòng Salêdiêng, hai học sinh và hai người học nghề, được các đồng bạn chọn trong một cuộc bỏ phiếu kín. Buổi triều yết được chấp thuận ngày 5 tháng Giêng năm 1903. Nhóm từ Turin có thêm cha Tổng Đại diện Gioan Marenco, với hai người trẻ từ Rôma, một người đến từ Nguyện xá lễ hội và người kia từ lưu xá Thánh Tâm. Trước tiên, cha Rua giới thiệu bản thân. Ngài giải thích cho Đức Giáo Hoàng lý do chuyến viếng thăm của mình vốn là để mừng ngân khánh nhân danh ba gia đình của Don Bosco; ngài nói về Đại hội sắp tới của các Cộng Tác viên Salêdiêng và ngài xin một phép lành đặc biệt và cuối cùng ngài chính thức xin phép cho lễ đội triều thiên. Sau đó những người đi cùng ngài được giới thiệu. Hai trong số những người trẻ tuổi đến từ Turin trao các album cho Đức Giáo Hoàng cùng với tiền lạc quyên. Cuộc trò chuyện rất thoải mái. Theo biên niên sử, cha Rua hết sức mãn nguyện khi Đức Lêô kết luận: ‘Bề trên của các con đã nói với Ta rằng Hiệp hội các Cộng Tác viên đã làm rất nhiều việc tốt, nhờ đó, đức tin được giữ gìn ở nhiều quốc gia, trên hết thông qua lòng sùng kính Đức Maria Phù Hộ các Giáo Hữu. Để phát triển lòng sùng kính này, một thỉnh cầu đã được đệ trình cho Ta và Ta rất vui chấp nhận nó. Ta đã chấp thuận và chỉ chờ xem việc ấy có thể được thực hiện theo cách nào.’ Don Rua ra về, ngây ngất vì vui mừng.
Không chậm trễ trong việc dàn xếp vấn đề. Ngày 17 tháng Hai Đức Hồng y Richelmy, Tổng Giám mục Turin, đã nhận được một Tự sắc Motu Proprio. Đức Giáo Hoàng ra sắc lệnh đội triều thiên bức ảnh và giao cho ngài tiến hành, theo nghi lễ, với danh nghĩa của ngài và bằng thẩm quyền của ngài. Theo cha Ceria, văn kiện tiếp tục với những dòng: ‘Vì người con yêu quý của chúng ta là Micae Rua, Bề trên Cả của Tu hội Salêdiêng, trên danh nghĩa của ngài và của toàn bộ gia đình Salêdiêng, đã gửi một thỉnh cầu khiêm tốn và nhiệt thành cho Ta, rằng năm nay khi vui mừng tổ chức kỷ niệm ngân khánh triều đại giáo hoàng của Ta, Ta đồng ý đội triều thiên cho bức ảnh tôn kính này, Ta thấy không có gì đáng yêu và ngọt ngào hơn khi sự sùng mộ dành cho Mẹ Thiên Chúa đáng kính mỗi ngày một gia tăng giữa các Kitô hữu, đã sẵn lòng xét thấy thích hợp để chấp thuận thỉnh cầu.’[518] Mọi người nồng nhiệt đón nhận tin này. Một ủy ban gồm các phụ nữ khá giả đã phụ trách việc đặt làm các vương miện từ một thợ kim hoàn trong thành phố.
Từ ngày 14-16 tháng Năm, tại Turin-Valdocco, Đại hội Quốc tế lần thứ ba của các Cộng Tác viên Salêdiêng sẽ được tổ chức. Đức Tổng Giám mục Turin sẽ là chủ tịch danh dự và cha Rua là chủ tịch điều hành. Sự kiện này sẽ thu hút đông đảo bạn hữu và các nhà hảo tâm của Don Bosco đến Turin.[519] Ngày lễ đội triều thiên được ấn định vào ngày cuối cùng của Đại hội, ngày 17 tháng Năm. Chúng ta hãy để chính cha Rua mô tả ngày đáng nhớ đó.
Từ hai giờ sáng, những khách hành hương mộ đạo bắt đầu tập hợp tại cửa nhà thờ. Chưa bao giờ thấy một đám đông như vậy trong nhà thờ, trên quảng trường hay trong toàn bộ khu vực Valdocco. Như Đức Tổng Giám mục Hồng y của chúng ta bày tỏ, tất cả họ đều có một ý nghĩ, một khao khát, nhìn thấy trán của Nữ Vương Thiên Đàng đáng kính được đội vương miện lộng lẫy. Cuối cùng, thời điểm chờ đợi đã đến. Đức Hồng y Richelmy, được Đức Thánh Cha giao phó cử hành nghi lễ thánh, trước hết trong nhà thờ trên bức ảnh kỳ diệu và sau đó ở quảng trường bên ngoài trên bức tượng thánh, với bàn tay run rẩy đặt triều thiên khảm ngọc quý trên đầu của Đức Trinh Nữ Phù Hộ các Giáo Hữu và bằng một giọng nói mạnh mẽ nhưng xúc động, từ trên giàn giáo cao đọc những lời trong nghi thức: Sicut te coronamus in terries, ita a Christo coronari mereamur in coelis. [Như chúng con đội triều thiên cho Mẹ trên trái đất, chúng con có thể được xứng đáng được Đức Kitô đội triều thiên như vậy trên trời]. Khi nghe những lời này, không còn có thể kiềm chế lòng sùng kính và sự nhiệt tình của đám đông mà vỡ òa trong tiếng vỗ tay ầm ĩ. Từ mỗi trái tim bật lên tiếng kêu, Lạy Mẹ Maria Phù Hộ các Giáo Hữu! Và một dàn đồng ca của hàng ngàn giọng nói ngâm lời tiền xướng tuyệt vời Corona aurea super caput ejus [Một vương miện vàng trên đầu Mẹ]. Có ngạc nhiên không trước việc thể hiện đức tin, lòng mộ đạo và tình yêu dành cho Đức Maria như vậy, nước mắt cứ tuôn trào? Tôi không thể thêm bất cứ điều gì khác vì không đủ ngôn từ để diễn tả niềm vui lúc đó, những sự ngây ngất ngọt ngào nhất trong đó trái tim của mọi người được hấp thụ, cảm xúc hỗn loạn, lời cầu nguyện sốt mến dâng lên Mẹ đầy yêu mến.
Buổi lễ kết thúc nhưng dòng người vô tận không giải tán, họ mong muốn thể hiện lòng sùng kính dành cho Đức Maria Phù Hộ các Giáo Hữu đầy quyền năng. Vì vậy, họ tràn vào nhà thờ dâng kính Mẹ mà suốt ngày vang lên những bài thánh ca và lời cầu nguyện. Khi trời sập tối người dân Turin và khách hành hương tràn ngập khu Valdocco để tham dự vào đám rước long trọng khi bức tượng Đức Maria Phù Hộ các Giáo Hữu đội triều thiên trong sự khải hoàn được kiệu qua các đường phố của thành phố. Họ nhận được phép lành của Bí Tích Thánh Thể ban từ bàn thờ và từ những cánh cửa chính của nhà thờ, tiếp theo là những tràng pháo tay mạnh mẽ và những bài thánh ca ngợi khen Thánh Thể và Nữ Hoàng vinh quang. Đêm xuống và đám đông tiếp tục tận hưởng ánh sáng của nhà thờ, quảng trường và gần như toàn bộ Turin. Dường như mọi người không thể tách mình khỏi Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu. Trong mười ngày kế tiếp khách hành hương thậm chí đến từ nơi rất xa tiếp tục tôn kính Đức Trinh Nữ đội triều thiên.[520]
Bản tường thuật cảm động về sự kiện này cho thấy việc đội triều thiên của Đức Trinh Nữ Phù Hộ các Giáo Hữu đã làm trái tim sùng mộ của cha Rua xúc động.
Sự kính trọng của cha Rua dành cho Đức Piô X
Giữa Tổng Tu Nghị Thứ Chín và Thứ Mười, vào ngày 20 tháng Bảy năm 1903, Đức Lêô XIII qua đời. Ngày 4 tháng Tám sau đó, Đức Piô X kế nhiệm ngài. Để tỏ lòng kính trọng ngài, với sự hỗ trợ của Đức Hồng y Svampa ở Bologna, Cha Rua đã cố gắng để giảm bớt phần nào đó các sắc lệnh của Văn phòng Tòa Thánh cấm các giám đốc Salêdiêng nghe những người thuộc quyền xưng tội.[521]
Ngày 26 tháng Chín, Đức Hồng y Svampa viết một bức thư cho Hồng y Rampolla, Vị Bảo trợ của Tu hội Salêdiêng, và gửi một bản sao cho cha Rua:
Tôi không thể giấu Đức Hồng y thực tế là trong những năm qua những người Salêdiêng đã rất xấu hổ bởi sắc lệnh nổi tiếng của Văn phòng Tòa Thánh vốn đã bất ngờ xuất hiện và được diễn tả bằng những từ ngữ rất nghiêm trọng, làm xáo trộn không ít đời sống kỷ luật đã quy định cho dòng từ thời Don Bosco. Cha Rua, một người có đức tính hiếm có, mà những người con của cha ấy cầu viện với sự tin tưởng lớn lao, giãi bày lương tâm của họ với cha ấy, và là người trong những chuyến viếng thăm thường xuyên đến các nhà đã có ảnh hưởng ích lợi đến sự huấn luyện các linh hồn thông qua tòa ăn năn, bỗng nhiên thấy mình bị tước mất năng quyền nghe người dưới của mình xưng tội; điều tương tự cũng dành cho tất cả các bề trên (nghĩa là các giám đốc) liên quan đến người phụ thuộc của họ. Biện pháp đã được thực hiện mà cha Rua không được tư vấn và tính chất đặc biệt của những người Salêdiêng không được xét đến. Trong số đó, các giám đốc (bao gồm cả Bề Trên Cả) thực thi trên hết vai trò của những người cha thiêng liêng, để lại cho các Phó Bề trên, các cố vấn và Hội đồng Tối cao các nhiệm vụ liên quan đến sự nghiêm khắc và trừng phạt. Tôi đã chứng kiến nỗi đau khổ mênh mang của những người Salêdiêng trong tình cảnh đau đớn này và sự vâng lời gương mẫu mà họ đã tùng phục các chỉ thị bắt buộc của Văn phòng Tòa Thánh.[522]
Đức Hồng y Rampolla hứa sẽ nói chuyện với Đức Giáo Hoàng.
Cha Rua đợi cho đến cuối tháng Mười để đi Rôma và được triều yết Đức Piô X ngày 3 tháng Mười Một. Ngài đã trình bày ba yêu cầu cho Đức Giáo Hoàng và có thể tóm tắt a) rằng trong những chuyến du hành của ngài, ngài có thể giải tội cho những ai xin ngài; b) trong trường hợp rõ ràng là cần thiết, các giám đốc Salêdiêng có thể giải tội cho những ai tìm đến họ; c) trong trường hợp cần thiết, Con Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu và học sinh của họ có thể đến với cha giải tội Salêdiêng. Trong suốt cuộc nói chuyện riêng tư dài và cực kỳ thân mật, Đức Giáo Hoàng đã viết ở cuối tờ giấy: Juxta preces; pro gratia. Ex aedibus Vaticanis, die 3 novembris 1903, P.P.X, một công thức có nghĩa là ngài chấp thuận thỉnh cầu.[523]
Bằng cách này, Đức Giáo Hoàng đã làm dịu đi một chút những ảnh hưởng của sắc lệnh của Văn phòng Tòa Thánh, mặc dù phần còn lại vẫn nguyên vẹn. Phải nói thêm rằng cha Rua sử dụng đặc quyền này hết sức thận trọng và từ chối giải tội cho những người Salêdiêng vốn đã quen xưng tội với ngài.
Tổng Tu Nghị Thứ Mười
Tổng Tu Nghị Thứ Mười của Tu hội Salêdiêng được cha Rua triệu tập ngày 6 tháng Giêng năm 1904 tại Turin-Valsalice ngày 23 tháng Tám sau đó, được chuẩn bị với sự cẩn thận đặc biệt.[524] Cha Cerruti sẽ là người điều phối và mục tiêu chính là việc bầu cử các thành viên của Tu Nghị Bề trên sẽ mãn hạn vào tháng Tám. Việc xét lại và đối chiếu các quyết định được đưa ra trong các Tổng Tu Nghị trước cũng được dự tính.[525]
Lần đầu tiên trong lịch sử của Tu hội, Tổng Tu Nghị sẽ chỉ gồm các Giám tỉnh và các đại biểu tỉnh, không còn các giám đốc cộng thể nữa. Sự mới mẻ này ngụ ý sự tổ chức sơ bộ của các Tu Nghị Tỉnh, các thực thể pháp nhân cho đến nay chưa được biết đến trong thế giới Salêdiêng. Do đó, cùng ngày 6 tháng Giêng, cha Rua đã ký một cuốn sách nhỏ có tựa đề Thông tin và Quy tắc trên đường chuẩn bị cho Tổng Tu Nghị.[526] Tài liệu đặt ra các quy luật liên quan đến thành phần và mục đích của các Tu Nghị Tỉnh. Dưới sự chủ trì của Giám tỉnh, tất cả các giám đốc trong tỉnh dòng, cùng với một đại biểu từ mỗi nhà do cộng thể lựa chọn, sẽ tập hợp lại. Văn bản của cha Rua cũng xác định vai trò của các Tu Nghị Tỉnh này: trước hết họ phải bầu đại biểu tỉnh và người thay thế cho vị đại biểu đó; thứ hai, đối với nước Ý, họ có nhiệm vụ bổ nhiệm tập sư và các thành viên của ủy ban được giao việc nhận lời khấn; cuối cùng, họ phải trình bày các đề xuất để trình cho Tổng Tu Nghị.
Việc chuẩn bị cho Tổng Tu Nghị diễn ra suôn sẻ. Tuy nhiên, trong số ba mươi lăm tỉnh được thiết lập theo giáo luật, chỉ có ba tỉnh gửi hai đại diện đến Turin. Thiếu các tỉnh Ecuador, El Salvador và Hoa Kỳ. Đại diện của họ vắng mặt vì đau ốm hoặc những lý do khác ngoài tầm kiểm soát của họ. Trong phiên họp chuẩn bị, ngày 2 tháng Tám, cha Rua đề nghị hành động đầu tiên của hội nghị phải là gửi một điện tín diễn đạt sự tòng thuộc hiền thảo lên Đức Thánh Cha và cầu ngài ban phúc lành cho công việc của Tổng Tu Nghị. Bức điện được cha Bertello soạn và được gửi đi ngay lập tức.[527] Sau đó, cha Rua chào đón các thành viên của Tổng Tu Nghị theo phong cách của người cha: ‘Ý nghĩ về Don Bosco người thực sự là con người của Thiên Chúa và lòng bác ái, lòng bác ái mà phải thấm sâu vào tất cả các cuộc thảo luận của chúng ta, đã thúc giục tôi triệu tập Tổng Tu Nghị này tại Valsalice, nơi thi hài đáng kính của ngài an nghỉ.’ Sau đó, ngài tiếp tục đề nghị rằng các vấn đề khác nhau phải được xử lý với sự bình tĩnh và đức ái, không xúc phạm bất cứ ai trong số những người có mặt hoặc vắng mặt, ‘chắc chắn người ấy cảm động vì ý định tốt lành nhất’.
Như mục mở đầu, sự tham gia tích cực của các Giám mục Cagliero và Costamagna đến từ Nam Mỹ, đã được quyết định. Sau khi kiểm tra và giải quyết một số trường hợp nghi ngờ, số thành viên của Tổng Tu Nghị là bảy mươi lăm người.
Ngày 24 tháng Tám, các cuộc bầu Tu Nghị Bề trên đã diễn ra, trong đó tất cả những người đương nhiệm đều được xác nhận lại. Ngày hôm sau, Bề Trên Cả báo tin cho những người Salêdiêng trên khắp thế giới, tha thiết yêu cầu họ tiếp tục cầu nguyện cho ‘kết quả thành công của một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của Tu hội chúng ta.’[528] Trên thực tế, Tổng Tu Nghị đang thảo luận về vấn đề khó khăn trong việc phân loại các thảo luận trước đó, chia chúng thành các điều khoản được gọi là ‘có hệ thống’, có giá trị hiến pháp và các điều khoản chỉ liên quan đến các quy định, một vấn đề mà, không đạt được kết luận tốt đẹp. Điều sau đây được soạn ra, ad experimentum: một Quy định cho các Tổng Tu Nghị; một ghi chú quy định các Tỉnh; một Quy định cho các tập viện và các học viện triết học; và một Quy định-Chương trình cho các sinh viên thần học.[529] Tổng Tu Nghị chính thức bế mạc ngày 13 tháng Chín, sau tất cả 33 phiên họp khoáng đại.
Cha Rua thường xuyên xen vào các phiên họp này. Như các nhân chứng chứng thực, mọi người lắng nghe ngài hầu như cách tôn kính. Thật không may, những tham luận đó luôn luôn ngắn gọn, cũng như thói quen của ngài, chỉ còn lại trong các ghi chú phác họa được các thư ký ghi lại và trong những ghi chú mà ngài viết từng ngày trong một cuốn sổ tay có tựa đề ‘Các đề xuất trong Tổng Tu Nghị Thứ 10’.[530] Bây giờ chúng ta sẽ trích dẫn một số xem ra cho thấy điều ngài quan tâm hơn.
Chiều ngày 25 tháng Tám, ngài tham luận về vấn đề sử dụng ngôn ngữ Ý. Ngài mời những anh em không phải người Ý xem xét nó vì ba lý do: a) bởi vì đây là ngôn ngữ của Nhà Mẹ, của người cha tôn kính của chúng ta, Don Bosco, và của Đức Giáo Hoàng; b) bởi vì nó sẽ là một phương tiện để chúng ta hiểu nhau dễ dàng hơn trong các cuộc họp trong tương lai của các Tổng Tu Nghị, như kinh nghiệm hiện tại cho thấy; c) bởi vì điều này sẽ tạo thuận lợi cho các mối quan hệ giữa người cấp dưới và các bề trên thượng cấp vì bề trên thượng cấp không thể luôn luôn đích thân thăm viếng họ cũng như không học ngôn ngữ của họ. Nhấn mạnh rằng các bề trên của những nhà nước ngoài khuyên người thuộc quyền của họ viết cho các bề trên thượng cấp bằng tiếng Ý hoặc tiếng Latinh. ‘Đây là những điều mong ước được chính Don Bosco bày tỏ.’[531]
Ngày 26 tháng Tám, cha Rua đề nghị các Giám tỉnh chỉ chấp nhận các tuyên úy và các cam kết tương tự khác ngoài cộng đoàn một cách rất thận trọng. Họ hãy chỉ chấp nhận khi vắng mặt linh mục tại chỗ có thể thực hiện các chức năng như vậy, nhưng ngay khi có một linh mục triều lo liệu thì họ phải bàn giao. Bằng cách này sẽ tránh được những cạnh tranh với các giáo sĩ địa phương và sự bỏ bê quan tâm việc nội bộ trong nhà. Trong khóa họp buổi chiều, ngài khuyên các thành viên Tu Nghị chú ý cẩn thận đến các lá thư hàng tháng hoặc những thư tùy dịp của Tu Nghị Bề trên và tất cả các tài liệu in được gửi đến các nhà từ Tu Nghị Bề trên.
Chiều ngày 31 tháng Tám mang lại một sự can thiệp dài từ cha Rua về các Hội nghị của Thánh Vinh Sơn Phaolô. Ngài nhận xét rằng người Salêdiêng hàm ơn họ rất nhiều. “Nhờ họ mà những người Salêdiêng có thể vào nước Pháp và nhiều nước ở Nam Mỹ. Sự hỗ trợ của Hội nghị này rất hiệu quả. Don Bosco rất thích công việc này và nói về nó với sự hăng say thực sự. Đức Tổng Giám mục Đavít Riccardi, Tổng Giám mục Turin, từng nói rằng những quý ông của Hội nghị bố thí rất khôn ngoan bởi vì họ không chỉ quan tâm đến những lợi ích vật chất của người dân mà, trên hết là lợi ích tinh thần của họ. Họ không hài lòng với việc bố thí nhưng bản thân họ đến thăm người nghèo và quan tâm tới nỗi bất hạnh của họ. Vì vậy, các Giám tỉnh hãy ghi nhớ Hội nghị và khuyến khích sự trải rộng của họ.’[532]
Năm ấy (1904) cuộc khủng hoảng chủ nghĩa tân thời đã làm rúng động những người trí thức Công giáo. Ngày 16 tháng Mười Hai năm 1903, Văn phòng Tòa Thánh đã cấm sách của Alfred Loisy. Những người ủng hộ ‘chủ nghĩa tân thời’ của vị giáo sư này và các đối thủ bảo thủ của họ đối đầu với nhau qua vấn đề về tính lịch sử của các sách Phúc Âm. Những người cấp tiến đưa vào vấn đề vị thế của Đức Giáo Hoàng và Giáo triều của ngài, lý lẽ thứ hai bị đánh giá là hơi ngu ngốc. Trong bối cảnh này, chúng ta có thể hiểu tại sao trong phiên họp buổi chiều ngày 2 tháng Chín, cha Rua đã xen vào về kính trọng dành cho Đức Giáo Hoàng và các vị có thẩm quyền Rôma. ‘các Giám tỉnh trong các chuyến viếng thăm của họ, trong tất cả các kỳ tĩnh tâm, trong các bài huấn đức và các buổi nói chuyện ngắn vào buổi tối, hãy cổ vũ các anh em và cả người trẻ tuổi yêu mến Đức Thánh Cha, vị Đại dcện Chúa Giêsu Kitô, và yêu mến các Thánh Bộ Rôma vốn là người phát ngôn của ngài. Tình cảm này phải được đâm rễ nơi các hội viên. Để giữ cho nó không bị xâm phạm trong lòng họ, phải tránh những bài đọc nguy hiểm về điểm này. Người cha đáng kính của chúng ta, Don Bosco, từng nói, “Đừng tin những người phát biểu chống lại Đức Giáo Hoàng và các Thánh Bộ Rôma; họ là những kẻ thù của Giáo hội và các linh hồn.” Don Bosco đã cẩn thận không chỉ phục tùng các mệnh lệnh mà còn cả những ước muốn của Đức Giáo Hoàng, ngay cả khi phải trả giá hy sinh lớn lao. Vì vậy, trong việc này chúng ta cũng hãy tỏ lộ chính mình là những người con xứng đáng của một người cha như vậy.’[533]
Sáng ngày 5 tháng Chín, trong khi các quy định cho các Giám tỉnh đang được soạn thảo, cha Rua đã thúc giục họ hãy để tâm đến việc huấn luyện các giám đốc. Trong những lần viếng thăm, họ phải dành nhiều thời gian cần thiết với các giám đốc mới, tiếp chuyện riêng với họ, và sau buổi huấn đức theo quy định dành cho tất cả các thành viên của cộng đoàn, họ nên nói chuyện riêng với họ một lần nữa, cho họ lời khuyên thích hợp của người cha. Trên hết, họ phải cố gắng khắc sâu tình yêu dành cho Quy luật thánh thiện và sự tôn trọng tỉ mỉ ngay cả đối với những việc tuânn giữ nhỏ nhất. Đọc lại với họ các quy định dành cho giám đốc và xác minh rằng họ tuân thủ chúng quả là tốt đẹp. Họ cũng hãy đọc các quy định khác liên quan đến họ và, trên cơ sở đó, thực hiện những điều tuân thủ cần thiết cho lợi ích của nhà. Họ phải lưu ý xem các giám đốc có thường xuyên thăm lớp học và xưởng hay không, xem họ có chu toàn những gì được yêu cầu trong nhà ở của người Salêdiêng hay không. Đặc biệt, hãy để họ kiểm tra xem các giám đốc có chăm sóc nhân viên đầy đủ hay không, vì lợi ích của các hội viên là nhiệm vụ chính của mọi giám đốc.
Cha Rua trở lại chủ đề này vào buổi chiều cùng ngày 5 tháng Chin, lần này nói với các giám đốc. ‘Giám đốc không nên quá khắc khổ mà cũng không quá dễ dãi. Một số người lầm lẫn tin rằng để có được cảm tình của người thuộc quyền mình, họ phải nhượng bộ nhiều lần. Trung dung mà không đưa đến sự lạm dụng nào thì thích hợp hơn. Bằng cách này sẽ giữ được tinh thần của người cha và Đấng Sáng lập hiền lành nhất của chúng ta.’[534] Trong những chỉ dạy này, chúng ta một lần nữa nhận thấy nhân vật cha Rua là ‘Quy Luật được nhân cách hóa’ và là vị kinh lý chu đáo của các nhà-con khi ngài là Phó Tổng Bề trên của Tu Hội.
Tu hội Salêdiêng giờ đây đã mang tính quốc tế rất cao. Ngày 6 tháng Chín, cha Rua tỏ ra quan tâm về điều đó. Với mục đích duy trì tốt hơn sự bình an và hòa hợp trong các nhà và xua đi mọi cảm giác xấu, ngài đặc biệt giao cho các Giám tỉnh việc can ngăn tranh cãi về quốc tịch. Mọi người không bao giờ được tự hào về quốc gia của mình mà phương hại cho người khác. Trong mỗi người đều có thiện và ác. Ngài cũng khuyến cáo cấm hút thuốc lá trong các cộng đoàn. Ngài hoàn toàn không muốn các hội viên hút thuốc. Hít thuốc cũng phải chừng mực. Những người đã có thói quen này, nếu họ thực sự không thể từ bỏ nó, nên dùng riêng; trên hết, họ không nên mời những người khác.[535]
Trước khi chuyển sang nghị sự làm việc, vị điều hành đã mời cha Têphanô Trione nói về vấn đề người Ý di cư. Cha Trione kết luận bằng cách nói lên hai điều mong ước: để thu hút thiện chí của các thuộc địa Ý thông qua việc sử dụng tiếng mẹ đẻ của họ và việc thành lập các văn phòng thư ký cho những người di cư; và lập một ủy ban thường trực cho di dân. Cha Rua rất háo hức về các đề xuất của cha Trione và ngay lập tức bổ nhiệm ngài làm chủ tịch của ủy ban được mong muốn, với trách nhiệm chọn các thành viên khác với sự đồng ý của Tu Nghị Bề trên. "Tôi rất muốn chúng ta làm việc để ủng hộ những người Ý đồng bào của chúng ta. Chúng ta không nên nản chí với kết quả kém, đặc biệt lúc ban đầu. Cha Coppo đã nói gì với chúng ta ở New York? Rằng Chúa có lẽ đã sắp đặt để những người Ý di cư nghèo của chúng ta, cùng với người Ba Lan và người Ailen, sẽ là những người gieo giống và giữ gìn đức tin ở những nơi xa xôi nhất. Không được bỏ bê những người di cư của các nước khác.’[536]
Cùng ngày đó, cha Rua tuyên bố mình chống lại việc lấy những ngày nghỉ ở trong gia đình. Chỉ sau vài năm vắng mặt, Giám tỉnh có thể cho phép một người anh em dành tối đa một tuần ở nhà. Trong trường hợp đặc biệt, có thể cho phép hai tuần. Giám tỉnh phải chú ý đến những việc cho phép này và phải được thông báo về bất kỳ sự lạm dụng nào. Nếu cần thiết, ngài phải hành động không chậm trễ để sửa lỗi này khi xảy ra.
Tổng Tu Nghị dài ngày này kết thúc với một bài thánh ca cảm tạ vì những thành công đạt được. Cha Rua viết trong thư luân lưu: ‘Chúng tôi trải qua hai mươi ngày quy tụ bên nhau trong khi các Giám tỉnh được các nhà phụ thuộc vào họ mong ngóng, đặc biệt là đối với kỳ tĩnh tâm. Tuy nhiên, tất cả các thành viên của Tổng Tu Nghị vẫn ở Valsalice cho đến tối ngày 13 tháng Chín khi Te Deum được hát lên.
Các kết luận của Tổng Tu Nghị Thứ Mười
Cha Rua đợi cho đến ngày 19 tháng Hai (1905) để đưa ra kết quả của Tổng Tu Nghị thứ mười.[537] Trong khi chờ đợi, ngài đã phải giành được sự phê chuẩn của các vị thẩm quyền Rôma. Ngài bày tỏ sự hài lòng với chất lượng của các cuộc thảo luận trong phiên họp. “Thật là an ủi khi tôi có thể nói rằng một sự bình tĩnh không xao động, một tình bác ái huynh đệ thực sự và một sự đồng tâm nhất trí gương mẫu trong các trường hợp bất đồng ý kiến, là đặc trưng của Tổng Tu Nghị này. Thực vậy, một trong những thành viên thâm niên nhất của Tổng Tu Nghị viết cho tôi rằng các cuộc họp thực sự là một trường dạy khôn ngoan, khiêm nhường và bác ái.’
Trong thư luân lưu ngài cũng giải thích rằng vào ngày 3 tháng Chin, với sự hiện diện của Đức Hồng y Richelmy, nghi thức mở quan tài của Don Bosco đã long trọng diễn ra, theo các tiến trình Giáo luật yêu cầu. Việc chiêm ngắm nét mặt ngài đã làm trái tim của các thành viên Tổng Tu Nghị xúc động sâu sắc. Họ đã sợ rằng sự cho phép sẽ không đến đúng lúc và vì vậy họ sẽ không thể ngắm nhìn một lần nữa khuôn mặt yêu dấu của Don Bosco, người được chôn cất gần hội trường. Nhưng ai đó đã xoay xở để được phép đó; vì vậy ngày hôm đó các thành viên của Tổng Tu Nghị có dịp tĩnh lặng chiêm ngắm thi hài Don Bosco. Cha Rua viết: ‘Thực vậy, quan tài được đưa vào đại sảnh ở tầng trệt của tòa nhà mới. Ở đây, sau khi cử hành nhiều Thánh Lễ cầu nguyện cho linh hồn ngài, đến 9 giờ 30 quan tài đã được mở ra và hơn hai trăm người đã dán mắt nhìn vào thi hài của người cha tốt lành của chúng ta, vốn đã không được thấy trong mười bảy năm. Ta thấy tình trạng thân xác ngài được bảo quản tốt, da dẻ và da mặt và bàn tay vẫn nguyên vẹn. Tuy nhiên, cặp mắt mà nhiều lần đã nhìn chúng ta với sự tốt lành không thể tả đã biến mất; miệng ngài cũng hơi mở khi hàm dưới đã sụt xuống. Mặc dù vậy, nhìn chung khuôn mặt của Don Bosco vẫn giữ lại hầu như tất cả đường nét của bức ảnh chụp vào ngày ngài mất. Tất nhiên, chúng ta rất hạnh phúc khi thấy ngài trong tình trạng này nhưng đồng thời vô cùng buồn bã vì cái chết đã để lại những vết sâu như vậy trên diện mạo đáng kính đó.
Theo cha Rua, những kết quả chính yếu của Tổng Tu Nghị cốt ở các quyết định liên quan đến các tỉnh. Ngày 27 tháng Giêng năm 1902, ba mươi mốt tỉnh đã được thiết lập.[538] Cho đến lúc đó, Tu hội Salêdiêng được tập quyền mạnh mẽ, tùy thuộc vào Tu Nghị Bề trên; bây giờ nó đã trở nên khu vực hóa, có lợi cho tất cả. Cha Rua lưu ý trong thư luân lưu của ngài:
Mọi người chí lý coi đây là một bước tiến lớn trong Tu hội chúng ta khi thiết lập các tỉnh mà Tòa Thánh đã phê chuẩn theo giáo luật. Có các nhà trong cùng một vùng được nhóm lại với nhau dưới sự chăm sóc thận trọng của một bề trên, là người đại diện cho Bề Trên Cả, mang đến hy vọng có nhiều điều tốt đẹp. Các thành viên của Tổng Tu Nghị Thứ Mười cũng rất được thuyết phục về tầm quan trọng của bộ phận này và thực hiện một nghiên cứu cẩn thận về nhiệm vụ của các Giám tỉnh và mối quan hệ phải tồn tại giữa họ và các ngôi nhà dưới sự chăm sóc của họ. Kết quả là một quy định ngắn mà tôi gấp rút gửi đến từng nhà ngay cả trước khi tôi nhận được sự chấp thuận từ Tòa Thánh, để bây giờ nó có thể đảm nhiệm như một sách hướng dẫn, dành quyền giới thiệu những sửa đổi được Tòa Thánh đánh giá là thích hợp. Trong khi chờ đợi, nói chung sẽ rất tốt cho các giám đốc nại đến các Giám tỉnh mỗi khi họ cần nhân sự, một số hỗ trợ tài chính cụ thể hoặc khi họ gặp khó khăn với các nhà chức trách giáo hội hoặc dân sự. Tôi tin rằng với hết lòng sốt sắng các Giám tỉnh sẽ giúp đỡ người phụ thuộc của họ và nếu đôi khi họ không thể làm như vậy, ít nhất họ sẽ trấn an các giám đốc rằng họ sẽ cầu viện đến Tu Nghị Bề trên để có được những gì bản thân họ không thể cho. Các điều mà cá nhân hội viên tin rằng mình phải xin phép, cũng sẽ được các Giám tỉnh lo liệu. Tôi chân thành hy vọng rằng về phần các Giám tỉnh có sự cam kết thực hành sự dịu dàng và dễ mến mà Don Bosco là thầy dạy của chúng ta, và về phần các hội viên, nỗ lực liên tục để thấy nơi các bề trên là người của Chúa Giêsu Kitô. Bằng cách này, giữa các bề trên và người phụ thuộc sẽ có những mối quan hệ gần gũi và thân mật, bảo đảm cách quản trị tốt của Tu hội và sự bình an của mỗi thành viên.’[539]
Tổng Tu Nghị Thứ Mười làm cho Tu hội Salêdiêng linh hoạt hơn, mạnh mẽ hơn và thậm chí gắn bó hơn với Don Bosco. Sự phân quyền trong việc quản trị là việc làm quan trọng nhất trong nhiệm kỳ của cha Rua. Do đó, Tu hội sẽ có thể đối mặt với ít rủi ro hơn trong việc mở rộng ở các quốc gia mà nền văn hóa của họ không phải từ Ý.
Chú thích
[505] Phải nhớ rằng Dòng Con Đức Maria Phù hộ các Giáo hữu vốn vẫn là phần không thể thiếu của Hội Salêdiêng, vào năm 1904 gồm 2143 người khấn và 358 tập sinh ở 248 nhà.
[506] Biên bản trong FdR 4036C11-4041D10; bản tường thuật trong Annali III, 144-169.
[507] L.C., 269-285.
[508] Biên bản cuộc họp Tu Nghị Bề trên, ngày 12 tháng 2, 1902, trong FdR 4243D4-5.
[509] Biên bản cuộc họp Tu Nghị Bề trên, ngày 12 tháng Bảy, 1897, trong FdR4242B7.
[510] Được trích trong Annali III, 149-150.
[511] X. Văn bản được trích trong Annali III, 160-161.
[512] Được trích trong Annali III, 152.
[513] Annali III, 162.
[514] Annali III, 164.
[515] L.C., 475.
[516] Trong đoạn văn này, tôi theo sát bản tường thuật của Ceria trong Vita, 374-382.
[517] L.C., 466.
[518] Ceria, Vita, 377.
[519] Để có được đại hội thành công này mà trong đó Cha Rua hiếm khi xen vào vì việc tổ chức nằm trong bàn tay chuyên môn của Cha Stefano Trione, x. Annali III, 310-339.
[520] Thư giáo dục ngày 19 tháng Sáu, 1903, trong L.C., 473-477.
[521] Đoạn này được thuật lại trong Ceria, Vita, 383-391.
[522] Ceria, Vita, 385.
[523] Văn bản này được tìm thấy trong FdR 3832E10-3833A1.
[524] Văn khố Trung ương Salêdiêng giữ một hồ sơ đáng kể gần 1400 trang về Tổng Tu Nghị này, x. FdR 4041D11-4064A5. X. cũng bản tường thuật trong Annali III, 537-557.
[525] Thư luân lưu của Cha Rua, ‘Carissimi Figli...’ ngày 6 tháng Giêng, 1904, trong FdR 4041D11-E2.
[526] Informazioni e Norme pel X Capitolo Generale, 9 trang in, trong FdR 4041E4-12.
[527] Bức điện tín được tìm thấy trong FdR 4042B6.
[528] Bản viết tay và bản in trong FdR 3984C7-8.
[529] Những văn bản này được tìm thấy trong FdR 4050C8-4052D4.
[530] Raccomandazioni fatte durante il Cap. Gen. X, năm trang viết tay trong FdR 4042A9-B1. Chúng tôi theo phác thảo điểm này.
[531] L.C., 316-330.
[532] Annali III, 222.
[533] FdR 4055B10.
[534] FdR 4056A10-11.
[535] FdR 4056B2-3.
[536] FdR 4056D2.
[537] L.C., 316-324.
[538] Biên bản cuộc họp Tu Nghị Bề trên, ngày 20 tháng Giêng, 1902, trong FdR 4243D4.
[539] L.C., 323-324.