28. Vấn đề xã hội
‘Rerum novarum’
Thời gian cha Rua làm Bề trên Cả được đánh dấu bằng việc công bố và áp dụng thông điệp nổi tiếng của Đức Lêô XIII, Rerum novarum, ngày 15 tháng Năm năm 1891.
Vào cuối thế kỷ ngành công nghiệp trên đà gia tăng; các thị trấn và các khu vực thuộc tầng lớp lao động dần mở rộng, trong khi các nước tự do hầu như không cảm thấy cần phải ban hành luật xã hội. Cuộc suy thoái năm 1885-1890 đã nhấn mạnh rõ ràng tính cấp bách của cái gọi là ‘vấn đề xã hội’: tầng lớp lao động đã nhận thức được sức mạnh của mình và kết quả là bắt đầu tự tổ chức. Vào năm 1884, ở Pháp, rốt cục hệ thống công đoàn đã được cho phép. Chủ nghĩa xã hội phát triển với sự thành lập Quốc tế Công nhân lần thứ hai vào năm 1890. Người Công giáo lo lắng hơn cả với vấn đề chính trị: họ có nên chiến đấu để phục hồi Ancien Régime (Chế độ cũ) hay chấp nhận một chế độ tự do thế tục? Ở bình diện xã hội, nhiều người hài lòng làm giảm bớt những thiếu sót của chủ nghĩa tự do bằng những công việc bác ái, ‘chủ nghĩa gia trưởng’ của các tầng lớp thượng lưu. Hẳn nhiên, Don Bosco, một nhà truyền giáo vĩ đại về lòng bác ái và bố thí đối với người nghèo, vẫn kiên định trong quan điểm lịch sử tĩnh tại này về phía người giàu và những người bạn bảo thủ và phản cách mạng của ngài.
Việc ban hành Thông điệp Rerum novarum mang lại men mới cho thế giới Công giáo. Văn bản được chia thành bốn phần: phê phán chủ nghĩa xã hội; Giáo huấn của Giáo hội; vai trò của Nhà Nước; tầm quan trọng của các hiệp hội tự do. Một số định hướng cơ bản xuất phát từ nó:
1) Xã hội kinh tế phải dựa trên quyền tư hữu, doanh nghiệp tự do và thương mại, trái với chủ nghĩa xã hội sẽ mở ra cánh cửa ‘ghen tị, công kích lẫn nhau, và gây bất hòa; tự nguồn của cải sẽ cạn kiệt, vì không ai quan tâm đến việc sử dụng tài năng hay sự siêng năng của mình’; thực vậy, ‘tính cộng đồng của tài sản [...] chỉ làm thiệt hại những người mà có vẻ như nó phải giúp đỡ nhiều nhất’ (số 15).
2) Chủ nghĩa tư bản không thể là một luật cho chính nó: nền kinh tế phải phụ thuộc vào đạo đức. Người ta phải từ bỏ một thái độ ‘laisser faire/mậu dịch tự do’ đơn giản, cách hoạt động tự do của ‘luật tự nhiên’, như thể ‘bàn tay vô hình’, thân thiết với Adam Smith, sẽ tự động bảo đảm kết quả xã hội tốt nhất. "Người lao động và người chủ hãy thỏa thuận tự do, và đặc biệt họ hãy tự do thỏa thuận mức lương; tuy nhiên, ẩn dưới đó một sự bức chế công lý tự nhiên cấp thiết và và cổ xưa hơn bất kỳ sự mặc cả nào giữa người và người ..." (số 45). Có một mức lương chính đáng; và công bằng phải chiếm ưu thế hơn kinh tế.
3) Biểu hiện thực sự đầu tiên của kỷ luật đạo đức là pháp lý do Nhà Nước cung cấp, sự can thiệp của họ được các phần tử yếu nhất của xã hội mong đợi trên hết. ‘Tầng lớp giàu có hơn có nhiều cách che chắn bản thân, và ít cần Nhà Nước giúp đỡ, trong khi đa số người nghèo không có nguồn lực của riêng họ để dựa dẫm, và chủ yếu phụ thuộc vào sự hỗ trợ của Nhà Nước’ (số 37).
4) Để tránh sự thống trị của Nhà Nước, một hệ thống các hiệp hội trung gian phải được hồi sinh. Trong thông điệp đó, các tập đoàn thích nghi với thế giới đương đại được trình bày rất chi tiết. Tuy nhiên, tư cách hội viên công ty không bắt buộc; công dân được tự do cùng tham gia trong các hiệp hội mà ‘phải được tổ chức và quản lý để cung cấp phương tiện tốt nhất và phù hợp nhất nhằm đạt được mục tiêu của họ’ (số 56). Trên hết hệ thống công đoàn phải là một sự lựa chọn tự do. Đức Lêô XIII viết: ‘Thật phấn khởi khi biết rằng thực sự tồn tại không phải chỉ một vài hiệp hội theo bản chất này, bao gồm chỉ riêng công nhân, hoặc công nhân và người chủ với nhau, nhưng mọi người rất mong muốn những hiệp hội này trở nên nhiều hơn và hiệu quả hơn '(số 56).
Cha Rua, Bề Trên Cả, là một người kỷ luật và không liên hệ gì đến cách mạng, nhưng ngài luôn nhớ giáo huấn của Đức Lêô XIII về mức lương xứng đáng và việc bảo vệ người nghèo.
Những công nhân Pháp hành hương đến mộ Don Bosco (1891)
Theo sáng kiến của Léon Harmel, Nghiệp đoàn [hội đoàn] ‘nước Pháp Lao động’ ngay lập tức muốn đến Rôma để cảm ơn Đức Lêô XIII vì thông điệp của ngài về các điều kiện của người lao động.[540] Khi đề xuất cuộc hành hương, ‘người Cha tốt lành’ của Val de Bois đã viết trong thư luân lưu ngày 2 tháng Tám năm 1891: ‘Liệu chúng ta không cảm động khi nghe thấy lời kêu gọi thống thiết của Đức Lêô XIII sao? Chúng ta chưa sẵn sàng để làm bất kỳ hy sinh nào hầu an ủi trái tim ngài, để làm chứng trước toàn thế giới sự vâng phục của chúng ta với tiếng nói của ngài sao? Nếu ai đó nêu lên vấn đề chi phí, chúng ta sẽ nhắc họ đoạn viết về Maria Madalena. Chúng ta hãy đi thật đông; chúng ta hãy đến với Chúa Giêsu Kitô sống trong vị Đại diện của Người. Chính ngài sẽ cứu chúng ta bằng công lý và tình yêu.’
Léon Harmel, một người bạn tuyệt vời của Don Bosco và cha Rua, dự tính cho những người Pháp hành hương đi Rôma dừng chân ở Turin tại phần mộ của Don Bosco. Sử Biên niên nói với chúng ta rằng ngày 1 tháng Chín ông đã đi đến Valdocco để ‘thực hiện các thỏa thuận cuối cùng và chi tiết với cha Rua cho chuyến hành hương, lên tới bảy chuyến tàu hỏa, từ Paris đến phần mộ của Don Bosco, lúc đó là tại Valsalice.
Tất cả mọi thứ được tổ chức tuyệt vời. Dưới những cây cổ thụ ở sân vườn của Valsalice, một người cung cấp thực phẩm từ Turin đã dựng một phòng ăn ngoài trời, được chống nắng và những thay đổi bất thường của thời tiết bằng một tấm bạt lớn. Có bốn chiếc bàn dài được đặt ở góc bên phải phần mộ của Don Bosco; đối diện với nó là chiếc bàn trên cùng được kê ngang qua những đầu bàn theo một dãy dài. Ở đây những người hành hương có thể thư giãn trong lúc dừng chân giữa Paris và Rôma. Sử Biên niên kể cho chúng ta rằng: ‘Một thời gian dài trước đó, với một mối quan tâm hiền phụ thực sự, chính cha Rua muốn tham gia tổ chức, cũng như có thể, một buổi tiếp đón xứng đáng với Đức Lêô XIII và nước Pháp. Ngày 17 tháng Chín, ngày chuyến tàu đầu tiên được trông ngóng, ngài đặt câu hỏi với mỗi người mà ngài đã giao phó việc thực hiện các mệnh lệnh của mình, để tin rằng không rủi ro gì xảy ra. Cuối cùng, khoảng hai giờ chiều ngài đến Valsalice và hài lòng khi thấy ngay cả những mong muốn nhỏ nhất của ngài cũng đã được thực hiện từng chi tiết một. Những người hành hương có thể đến: mọi thứ đã sẵn sàng để nồng nhiệt chào đón họ.[541]
Thật vậy, 464 người hành hương trong chuyến hành trình đầu tiên này nhận thấy mọi thứ được tổ chức tới mức hoàn hảo: trước hết là tại ga Porta Nuova, sau đó dọc theo hành trình đến Valsalice, đến thời điểm nhạc mừng chào đón của các đoàn đại biểu công nhân Turin xếp hàng dưới cổng của ngôi nhà, tới bài hát Magnificat trong nhà nguyện ... Ở nơi họ ăn tối, trên chiếc bàn trên cùng có một tấm biểu ngữ hoành tráng tuyên bố: ‘Gửi tới các công nhân Pháp lời chào mừng, nhìn nhận và tôn trọng từ những người con của Don Bosco.’ Bữa ăn được ngắt quãng một cách tự nhiên với nhiều bài phát biểu khác nhau. Chúng tôi chỉ có một bản tóm tắt sơ sài về sự can thiệp của cha Rua:
Khi gợi nhớ rằng lao động và người công nhân, từ quan điểm Kitô giáo, luôn là trọng tâm của những mối quan tâm linh mục của Don Bosco và trở thành raison d’être (lẽ sống) trong gia đình tu trì của ngài, cha Rua vui mừng khi nhìn thấy tinh hoa của lực lượng lao động Pháp tại phần mộ của Don Bosco. Lời cầu nguyện của những người lao động từ rất xa đến đây sẽ thắt chặt hơn nữa mối liên kết hợp nhất Pháp và Don Bosco và tất cả những công cuộc mang dấu ấn của đức tin của ngài. Cha Rua sau đó yêu cầu những người hành hương dâng lên Đức Giáo Hoàng lòng tôn kính sâu sắc và mộ mến vô hạn Tu hội Salêdiêng. Trước tất cả mọi người và các anh em người Ý của họ, ngài kết thúc bằng việc nhận tước hiệu chủ tịch danh dự của mình trong một phần của Giới Công giáo ở Turin, để hết lòng hoan nghênh, Ba lần hoan hô Đức Lêô XIII, vị Giáo Hoàng của công nhân![542]
Lúc 5 giờ, cả nhóm trở về nhà ga. Ban nhạc chơi khi những người hành hương lần lượt đi ra, và nhận được ‘một sự hoan hô thực sự’ từ những vị khách Pháp.
Những cảnh tượng giống hệt vậy được lặp lại cho những chuyến tàu khác chở khách hành hương Công giáo đi Rôma, trong suốt mùa thu năm 1891. Ngày 15 tháng Mười, Léon Harmel đến Turin lần nữa để cảm ơn những người Salêdiêng vì đã chào đón các cuộc hành hương của người lao động. Ngày hôm sau, Il Corriere Nazionale tường thuật bài phát biểu của Harmel vào cuối bữa tối được tổ chức cho dịp này trong nhà mẹ của người Salêdiêng, trong đó ngài rất vui khi nhớ lại cách [các công nhân Pháp] đến Rôma đầy lòng biết ơn nhiệt tình, nhớ đến sự chào đón trìu mến và huynh đệ tại Valsalice’.[543]
Những bài học từ Đại hội Bologna (1895)
Thông điệp Rerum novarum sinh hoa trái tại Đại hội Quốc tế đầu tiên của các Cộng Tác viên Salêdiêng tổ chức tại Bologna vào năm 1895.[544] Trọn một hội nghị được dành riêng cho vấn đề của người lao động, xét từ quan điểm của các công nhân trẻ nhất, như có thể dự kiến trong môi trường Salêdiêng. Sự phân tích tình hình đã được trình bày trong mười điều cân nhắc và phản ánh quan điểm xã hội của người Công giáo trung bình của thời đại về tình trạng trẻ em trong các gia đình thuộc tầng lớp lao động trong một xã hội mà phần lớn vẫn bao gồm những thợ thủ công, nhưng là một xã hội mà trong đó những ngành công nghiệp lớn đang bắt đầu tự thành lập. Tóm lại, bảng phân tích cho thấy:
1) Việc giáo dục đầu tiên và hiệu quả nhất của giới trẻ được bảo đảm bởi các bà mẹ Kitô hữu trong các gia đình đạo đức và lành mạnh. 2) Hiện tại, đặc biệt trong các thành phố lớn, nhiều nơi ở không có được sự bảo đảm như vậy, cả trong vấn đề vệ sinh cũng như từ quan điểm đạo đức, chúng rất tồi tệ và gây chết người vì chúng giết chết cả xác hồn của trẻ em. 3) Hơn nữa, nhu cầu của nền công nghiệp hiện đại buộc các bà mẹ lao động bỏ bê nhà cửa cả ngày để không mất giờ ra khỏi các nhà máy, do đó cản trở họ thực hiện nhiệm vụ tự nhiên là giáo dục con cái của họ. 4) Các xưởng thợ nơi các công nhân trẻ đến học nghề, không thể đóng góp cho họ được nền giáo dục tốt trừ khi những người hướng dẫn họ được ‘thấm nhuần cảm thức thánh thiện và tinh khiết về luân lý Kitô hữu'. 5) Ngày Chúa nhật, ngày nghỉ ngơi không chỉ là nhiệm vụ mà còn là quyền của người lao động. 6) Việc công nhân trẻ tham dự buổi dạy giáo lý trong giáo xứ của họ vào các Chúa Nhật là ‘phương cách chắc chắn nhất để củng cố nền giáo dục tốt mà họ nhận được ở nhà’. 7) Một thực tế ai cũng biết đến hiện nay là phần lớn các bạn trẻ thuộc các tầng lớp lao động, ngay cả khi họ có các bà mẹ Kitô giáo, hầu như tất cả đều bỏ việc giữ đạo sau khi rước lễ lần đầu, vì họ bị bạn bè xấu làm cho hư hỏng hoặc vì những cớ vấp phạm mà họ chứng kiến. 8) Những thanh niên này, và tệ hơn những người không có mẹ chăm sóc họ vì bà bị công việc cản trở hoặc vì thiếu những cảm xúc Kitô hữu, bị để mặc cho tự xoay sở hoặc bị giao phó cho người chủ không tôn trọng họ, và không có đủ giáo huấn họ quên đi những gì họ học được khi còn nhỏ; ‘họ lớn lên mà không biết gì về Thiên Chúa và các nghĩa vụ công dân và Kitô hữu của mình.’ 9) Hậu quả là, những người vốn sẽ hình thành thế hệ tương lai, sẽ lại chỉ là Kitô hữu trên danh nghĩa, thiếu ánh sáng và niềm hy vọng Kitô hữu và do đó chắc chắn coi thường những luật thánh thiện và phổ quát nhất và gia tăng tầng lớp ‘của những đám đông vốn là mối nguy hiểm và đe dọa đến xã hội dân sự’. 10) Chỉ có bác ái Kitô giáo, được cổ vũ bởi tinh thần hy sinh và quên mình, mới có thể làm chệch hướng sự bất hạnh như vậy ‘bằng sự chăm sóc kiên nhẫn và sự siêng năng thánh thiện''.[545]
Dựa trên những nhận xét này, Đại hội đã trình bày mười một đề nghị được đánh dấu bằng một tinh thần gia trưởng nhất định, không màu mè vào thời điểm đó, và ít nhiều dựa trên thông điệp. Chúng theo bản chưa được rút gọn:
Đại hội đưa ra các đề nghị:
Các Cộng Tác viên Salêdiêng tham gia với tất cả những người có trái tim nhân hậu và thiện chí để có được, bất cứ khi nào có thể, luật pháp để làm dịu bớt các nhu cầu của những ngành công nghiệp lớn, hòa hợp các lợi ích thực sự và hợp pháp của họ với nghĩa vụ tôn trọng quyền và nghĩa vụ thiêng liêng của tư cách làm mẹ;
Họ ủng hộ các hiệp hội đó để cải thiện nhà ở cho tầng lớp lao động;
Họ sử dụng ảnh hưởng của họ trong việc sắp đặt trẻ em thuộc tầng lớp lao động bị bỏ bê hoặc bị bỏ rơi trong các nhà trẻ, tốt nhất là ở những nơi được tu sĩ điều hành, khi sự giáo dục có lợi hàng đầu bởi người mẹ trong gia đình trở thành không thể được;
Họ làm hết sức mình để đặt công nhân trong những nhà máy mà các quy tắc của đức tin và luân lý Kitô hữu được tôn trọng;
Các Cộng Tác viên Salêdiêng là người chủ hoặc người đứng đầu các xưởng thợ quan tâm đến những thiếu niên học nghề được giao phó cho họ như thể chúng là con cái của họ, và cho họ mẫu gương về một đời sống Kitô hữu thật sự;
Vì vậy, họ chăm lo, không chỉ đến việc hướng dẫn kỹ thuật mà còn cả về giáo dục tôn giáo và đạo đức của họ cũng như về vệ sinh cơ thể;
Họ cổ xúy việc tuân thủ ngày nghỉ và việc thánh hóa ngày Chúa nhật và những ngày thánh, hỗ trợ tốt nhất bao có thể các sáng kiến trong vấn đề này được những người khác thực hiện;
Do đó họ chú ý xem các công nhân trẻ tham dự các buổi giáo lý ở giáo xứ, các Nguyện xá ngày lễ và các lớp học Công giáo buổi tối, chăm lo để họ hoàn thành nghĩa vụ tôn giáo của họ;
Thay vì để họ bị vấp phạm vì ngôn ngữ bẩn thỉu, phạm thánh hoặc say sưa, bằng lời nói và gương sáng họ sẽ khắc sâu trong những người trẻ sự kính trọng Thiên Chúa và bản thân họ, tránh biếng nhác và yêu thích làm việc;
Họ sẽ bảo người trẻ ngay từ thời niên thiếu của các em, ghi danh vào các chương trình Công giáo tương trợ và kế hoạch bảo hiểm và tập cho họ thói quen tiết kiệm để họ có thể không thiếu những nhu cầu cần thiết trong cuộc sống trong trường hợp bệnh tật, bất hạnh và tuổi già;
Cuối cùng, khi quyết định tiền lương cho công nhân của họ, họ sẽ tuân theo các nguyên tắc đã được Đức Thánh Cha Lêô XIII nêu lên, trong thông điệp Rerum novarum đáng kính của ngài.[546]
Không có gì là cách mạng trong những đề nghị này mà giọng điệu chỉ mang tính răn dạy. Từ ‘công bằng' không bao giờ xuất hiện; chính cảm thức bác ái chiếm ưu thế. Thậm chí không hề đề cập đến việc cấm thuê mướn trẻ em trong các nhà máy, cũng không giảm giờ trong ngày làm việc mà tại thời điểm đó nói chung là mười tiếng rưỡi hoặc thậm chí mười một tiếng rưỡi một ngày. Chỉ có đề nghị đầu tiên hơi hé mở cánh cửa theo nghĩa này. Hội nghị này được cha Rua chủ trì và là một dấu hiệu của thiện chí tốt đẹp đối với những người lao động trẻ, thường bị những người chủ vốn không quan tâm đến việc học của họ bỏ bê.
Hiệp hội Quốc gia Bảo vệ và Tương Trợ của các Nữ Công nhân trẻ
Chính trong những năm đó mà Cha Rua, với sự giúp đỡ của Cesarina Astesana (1858-1946) đã tạo ra một Hiệp hội Tương Trợ cho các Nữ Công nhân trẻ Công giáo.[547] Cesarina Astesana là người không lập gia đình, một người Công giáo tự tin và mạnh dạn; bà tỏ ra phiền muộn vì hoàn cảnh của các thợ may và các công nhân nữ khác ở Turin. Giờ giấc làm việc của các thợ may rất linh động, tùy thuộc vào đơn đặt hàng và thời hạn hoàn thành chúng. Công việc thường bị kéo dài đến ban đêm và tiếp tục vào các ngày Chúa nhật nếu khách hàng yêu cầu. Tình trạng thể chất và tinh thần của họ khiến bà lo lắng rất nhiều. Với sự giúp đỡ của một số người hào phóng, Cesarina thành lập một Nguyện xá, do đó đáp ứng được một trong những yêu cầu theo như họ mong muốn. Cha Rua, người mà bà đã đến xin lời khuyên, không hài lòng với việc đưa ra những đề xuất đơn thuần, ngài gửi tới cho bà các linh mục để cử hành Thánh Lễ và cho huấn đức. Thực vậy, buổi huấn đức thành công nhất do cha Têphanô Trione giảng trong nhà thờ Thánh Barbara, làm cho nhà thờ thành quá nhỏ so với đám đông tham dự. Vị giảng thuyết làm mê hoặc công chúng. Vì vậy, ngay tại đó, một Hiệp hội Tương Trợ cho các Nữ Công nhân Công giáo trẻ được thành lập. Năm sau, Cha Rua đã thành công trong việc yêu cầu Con Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu dành hai ngôi nhà của họ cho các công nhân trong suốt mùa hè, tại Giaveno ở chân dãy núi Alps, và tại Varazze trên Riviera, để các nữ công nhân trẻ có thể hít thở không khí trong lành trên núi hoặc biển cả trong một vài ngày.
Cesarina mở rộng công việc của mình ra khỏi Turin. Bà tìm sự hỗ trợ và cha Rua giúp bà. Năm 1904 ngài viết cho Giám đốc của cộng đoàn ở Florence ‘Về cô Astesana,' “cha có thể bảo đảm với Nữ Bá tước Alfieri rằng cô ấy là một người đáng tin cậy nhất. Cô đang làm một dự án rất đáng quan tâm cho những người tốt, cụ thể là bảo vệ những nữ công nhân trẻ, bảo đảm rằng họ được nghỉ vào Chúa nhật, và ngăn ngừa không để họ bị khai thác bởi giờ làm việc quá độ gây thiệt hại cho sức khỏe thể chất và đạo đức của họ, v.v’ Với sự động viên của Đức Hồng y Richelmy và phép lành của Đức Giáo Hoàng, công việc lan truyền và củng cố lợi ích của các công nhân trẻ. Khi gặp khó khăn, Cesarina Astesana cậy nhờ đến cha Rua vốn là người không bao giờ bỏ mặc không tư vấn và hỗ trợ bà. Năm 1901, Hiệp hội Quốc gia Bảo vệ và Tương Trợ các Nữ Công nhân Trẻ ra đời. Đến năm 1906 đếm được 1505 nữ bảo trợ và 15.168 công nhân và vào năm 1910, khi Cha Rua qua đời, con số đã tăng gấp ba lần.
Cuộc đình công ở nhà máy Anselmo Poma
Tuy nhiên, các đề xuất trong Rerum novarum được thực hiện chậm. Những năm đầu của thế kỷ đã được đánh dấu bởi sự xáo trộn trong các khu vực được công nghiệp hóa. Những người theo chủ nghĩa xã hội đã đúng đắn yêu cầu giảm giờ làm việc trong các nhà máy. Quốc hội Ý tranh luận các vấn đề về việc làm của người phụ nữ và lao động trẻ em. Khi họ tin rằng đó là cần thiết thì các công nhân đình công. Nhưng nghiệp đoàn Kitô hữu không dễ dàng chịu nhượng bộ sự ép buộc của họ. Về vấn đề này, những khó khăn gặp phải ở Turin trong nhà máy dệt Anselmo Poma giữa tháng Năm và tháng Bảy năm 1906 là nổi bật và từ một quan điểm nhất định, Cha Rua cũng tham gia.[548]
Anselmo Poma là một người bạn tuyệt vời của cha Rua. Nhà máy bông của ông ở ngoại ô Valdocco đã thuê hàng trăm công nhân, cả nam và nữ. Lúc đầu nổi lên vấn đề về giờ làm việc, sau đó là tiền lương. Trong nhà máy Poma, một ngày làm việc gồm mười một tiếng rưỡi. Tháng Năm năm 1906, với sự hỗ trợ của Phòng Công nghiệp thuộc thành phố và các công đoàn của họ, các công nhân yêu cầu giảm xuống còn mười tiếng, như trong các nhà máy khác. Nhà tư bản công nghiệp chấp nhận việc cắt giảm giờ, nhưng đến lượt ông ta yêu cầu cắt giảm tiền lương của công nhân theo mức tương ứng. Sau nhiều nỗ lực không kết quả để giữ ở mức lương hiện tại, các công nhân đã đình công. Anselmo Poma, một nhân vật ngạo mạn, bám chặt quyền lực của mình và tuyệt đối từ chối không chịu bị tác động. Các người đình công chống lại và phản đối không trở lại làm việc.
Cha Rua cố gắng xoa dịu nhà tư bản công nghiệp, cố thuyết phục ông ta đừng cứng rắn trong cương vị của mình và chỉ ra sự hợp lý nơi các nhu cầu của công nhân. Ngài đề nghị rằng, để không làm giảm uy tín của ông ta, như một giải pháp thỏa hiệp, Poma nên giao phó các cuộc đàm phán cho các con trai của mình. Theo Amadei, cha Rua viết cho Poma ngày 29 tháng Năm năm 1906:
Ông Poma thân mến,
Tôi rất quan tâm đến vấn đề khiến ông lo lắng vào lúc này, và tôi cập nhật tình hình những gì đang xảy ra. Tôi nghe nói những tình cảm xấu vẫn dai dẳng với đa số công nhân. Thứ năm vừa qua [ngày 24 tháng Năm, Lễ Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu] như tôi đã nói với ông, tôi nhận thấy sức khỏe của ông đang bị tổn hại. Hãy kiên nhẫn; hãy đi xa vài ngày; ra khỏi Turin. Ông có những người con trai rất thông minh và rất đáng mến, các cậu ấy có thể đại diện cho ông rất tốt; cung cấp cho các cậu ấy bất kỳ hướng dẫn nào ông cho là cần thiết: các cậu ấy sẽ cập nhật cho ông những gì xảy ra. Trong lúc chờ đợi, ông hãy quên chuyện rùm beng này đi. Xin hãy nhận sự tôn trọng của tôi và trong khi tôi cầu xin Chúa cho ông bình an và tĩnh lặng, hãy tin tôi là đầy tớ và bạn hữu rất thân mến và biết ơn của ông.
Cha Micae Rua.[549]
Cha Rua cập nhật thông tin qua cha Rinaldi, Vị Phó Tổng Bề trên của ngài, người rất khéo léo đảm nhiệm làm trung gian với nhà tư bản công nghiệp. Tuy nhiên, Poma không tin ông ta phải chịu theo các đề xuất của cha Rua. Chẳng ích lợi gì lặp đi lặp lại cho công nhân rằng hệ thống tiền lương sẽ được dàn xếp một khi việc giải quyết hành chính bắt buộc được sẵn sàng, họ sẽ không có nó. Ít nhiều mang tính bạo lực, cuộc đình công tiếp tục. Ngày 19 tháng Sáu, một cuộc trưng cầu dân ý giữa các công nhân đã gần như nhất trí chấp thuận nó. Các yếu tố lật đổ đã xâm nhập vào đa số công nhân và thổi bùng lên. Họ từ chối các giải pháp hòa bình và yêu cầu giải quyết bất đồng. Phòng Công nghiệp, bị chi phối bởi các nhà theo chủ nghĩa xã hội, ủng hộ họ. Sự tức giận dâng cao trong các cuộc họp. Nhà máy bị bao vây theo nghĩa đen. Những cá nhân mạnh mẽ sẵn sàng cầm đá đuổi theo những người muốn quay trở lại làm việc.
Trong khi đó, cha Rua tiếp tục trò chuyện với Anselmo Poma. Ngài thuyết phục nhà tư bản công nghiệp đưa ra lời kêu gọi các phụ nữ, với lời hứa công bằng, nếu họ trở lại làm việc. 650 người đồng ý, được Cesarina Astesana khuyến khích và ủng hộ. 150 người nam cũng quay trở lại. Sau đó, những công nhân và người đình công đã lâm vào một trận chiến thực sự, ngày và đêm. Những phụ nữ không đình công dựng trại bên trong nhà máy. Amadei mô tả sự nguy hiểm của việc kháng cự. Phòng Công nghiệp hỗ trợ tài chính cho các người đình công và thúc giục họ tiến lên chiến đấu bằng bất cứ giá nào. Ở phía bên kia, người chủ không nhượng bộ và sẽ gửi tiền cho cha Rua để hỗ trợ các nữ công nhân nhốt mình trong nhà máy. Vào Chúa nhật, ngày 8 tháng Bảy, một linh mục từ giáo xứ đã cử hành Thánh Lễ tại đó với sự hiện diện của ông Poma.
Trong khi tất cả việc này đang xảy ra, các công nhân trong thành phố, liên đới với đồng nghiệp của họ, đe dọa tổ chức một cuộc tổng đình công. Tại thời điểm này, các nhà lãnh đạo theo chủ nghĩa xã hội trở nên lo ngại về những rắc rối có thể xảy ra và tự tuyên bố sẵn sàng yêu cầu mọi người trở lại làm việc với điều kiện rằng quyết định đó có vẻ xuất phát từ chính Phòng Công nghiệp. Vì vậy, vào giữa tháng Bảy tình thế bị bế tắc, không bên nào chịu nhúc nhích. Tuy nhiên, nhờ cha Rua dàn xếp, một giải pháp cuối cùng đã trở nên rõ ràng. Ngày 17 tháng Bảy, tờ báo cánh hữu Il Momento, đưa tin một bức thư của ngài, kèm theo một tuyên bố từ Anselmo Poma.
Bức thư gửi cho chủ bút viết như sau: ‘Với hy vọng trả lại sự bình tĩnh nào đó cho những tâm hồn đã tức giận quá lâu và kết thúc một tình huống gây tổn hại nghiêm trọng đến tầng lớp lao động, tôi tìm đến ông Anselmo Poma xin ông giải thích ý định liên quan đến những nữ công nhân của ông. Ông ấy đã cho tôi câu trả lời mà tôi truyền đạt lại cho quý vị ở đây. Tôi chắc chắn rằng việc đưa tin này sẽ tạo thuận lợi cho giải pháp, mà tất cả chúng ta đều mong muốn, về tranh chấp đáng buồn này. Với niềm tin chắc chắn rằng quý vị sẽ chia sẻ với tôi tình cảm nhân đạo này, tôi có vinh dự ... v.v.
Thư của Anselmo Poma: tiếp theo. Khi trở lại làm việc, với tình trạng nhà máy bị sa sút thê thảm, xưởng ấy không thể không cần đến việc chọn lựa dần dần những công nhân mà nó cần. Những nhượng bộ mà nó đã thực hiện, để thỏa mãn những người nam nữ đã làm việc ở đó từ ngày 8 tháng Bảy trở đi, có thể được mở rộng cho tất cả những ai muốn quay trở lại. Những nhượng bộ như vậy rõ ràng có nghĩa là tăng tỉ lệ trong quá khứ khoảng 5 phần trăm cho các thợ dệt, thợ xe sợi và một số thợ cuốn chỉ.
Ngày hôm sau, cha Rua gửi một bức thư khác cho chủ bút tờ Il Momento, thông báo rằng công ty đã đồng ý phục hồi tất cả các công nhân, luôn luôn ghi nhớ các tiêu chuẩn đạo đức theo yêu cầu khi nhận người vào. Khoảng 200 khung cửi dệt với 100 thợ dệt và 100 thợ cuốn chỉ đã không hoạt động tại thời điểm này nhưng hy vọng sẽ sớm hoạt động lại. Cuối cùng, tùy vào hành vi tốt của họ, không một công nhân nào sẽ bị loại vì đã tham gia vào cuộc đấu tranh. Il Momento viết thêm những suy nghĩ này:
‘Chúng tôi, những người luôn bảo vệ vụ việc của tự do và công bằng, công khai chống lại mọi hành vi mưu hại lạm dụng quyền lực, rất vui mừng với giải pháp khôi phục sự hòa hợp giữa một nhà tư bản công nghiệp tầm cỡ và công nhân của ông ấy, và đồng thời hiến dâng công việc tốt lành của cha Rua, vị linh mục đáng kính, và thất bại của Phòng Công nghiệp và những đại diện bạo lực của nó.’[550]
Vì vậy, ngày 19 tháng Bảy, Anselmo Poma đã có thể chứng kiến đoàn diễu hành của hơn 900 nữ công nhân trở về nhà máy sau khi tạm dừng gần hai tháng. Ngày 21 tháng Bảy tất cả các khung cửi dệt đều hoạt động vì tất cả các công nhân đã quay trở lại ngoại trừ những người đã tìm được việc ở nơi khác.
Trong nhiều hoàn cảnh khác nhau trong nhiệm kỳ của mình, cha Rua đã tìm cách bảo vệ và tôn vinh tầng lớp lao động. Lý tưởng của ngài chắc chắn là một xã hội phân cấp, như được mong đợi vào thời điểm đó, nhưng là một xã hội được thống nhất bởi mỗi người cảm thông tốt đẹp lẫn nhau. Các mối quan hệ của con người phải được điều chỉnh bởi công lý vốn phải luôn thấm nhuần với lòng bác ái.
Chú thích
[540] Ở đây chúng tôi theo bản tường thuật đầy đủ do Bollettino Salesiano cung cấp (tháng Mười, 1891, 190-197) từ đó các phần trích được trích dẫn.
[541] X. Bollettino Salesiano, tháng Mười, 1892, 192.
[542] X. Bollettino Salesiano, tháng Mười, 1892, 194.
[543] X. Bollettino Salesiano, tháng Mười, 1892, 196-197..
[544] Đối với Đại hội này, xem chương 19 ở trên.
[545] Atti del primo Congresso Internazionale dei Cooperatori Salesiani, Torino, Tipografia Salesiana, 1895, 186-187
[546] Atti del primo Congresso Internazionale dei Cooperatori Salesiani, Torino, Tipografia Salesiana, 1895, 187-188.
[547] Thông tin không chắc chắn trong Auffray, 252-257; chắc chắn hơn trong Ceria, Vita, 437-438.
[548] Bản tường thuật chi tiết và quá mức trong Amadei III, 247-254, có lẽ không hoàn toàn chính xác. Ở đây chúng tôi theo bản tường thuật rõ ràng hơn và có thể tin hơn trong in Ceria, Vita, 433-437.
[549] Amadei, III, 249.
[550] X. bản sao các bản thảo các thư của Cha Rua gửi cho tờ báo (16 và 17 tháng Bảy) trong FdR 3926B3-4. Phần trích dẫn được lấy từ Amadei III, 252-253.