10. Cánh tay phải của Don Bosco
Don Rua và Con Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu
Trong những nhà của các nữ tu, cha Rua là con mắt của Don Bosco về các sự việc. Tháng Sáu 1875 Don Bosco đã sai ngài kinh lý Tu hội Con Đức Mẹ Phù Hộ mới nở ở Mornese. Cuốn nhật ký của chính ngài không nhắc gì đến cuộc kinh lý này, nhưng ký sự Mornese ghi lại rằng 'ngài ở đó vài ngày' và cho họ 'một vài fervorini ngắn gọn, chân thành'.[146] Vì Gioan Cagliero, vị giám đốc Salêdiêng đầu tiên của Tu hội ấy, đã rời đi Mỹ châu cùng năm đó như vị lãnh đạo chuyến hành trình truyền giáo đầu tiên, nên cha Rua được cử gánh vác vai trò đó đối với gia đình thứ hai của Don Bosco. Tháng Tám 1876, ngài ở Mornese đại diện Don Bosco khi các tập sinh mặc áo dòng. Vào dịp đó, ngài ngồi giải tội, giải thích những ý tưởng của Đấng Sáng lập về phong thái sống của các Nữ tu, bàn đến khả thể mở một nhà mới, và xem xét có thể chuyển đổi các nữ tu được không. Ngài cũng xem xét tình trạng luân lý và tài chánh của tu viện, cống hiến những giải thích, khích lệ và khuyên nhủ. Cộng thể ấy, trước kia chưa hề được duyệt xét sâu rộng như thế, đã trân trọng sâu xa tặng phẩm mà Don Bosco đã cho họ nơi con người cha Rua.
Khi giao tiếp với các Nữ tu, cha Rua vẫn là con người của Tu Luật; ngài không ưng thuận cả đến sự sai trệch nhỏ nhất. Trong năm 1877, chị Bề Trên của nhà ở Turin nhận được quà biếu rất nhiều trái cây. Không chút chần chừ, hơn là để cho trái cây hư thối, nữ tu đó bắt đầu chia ra sau bữa càphê sáng. Tuy nhiên, như Tu Luật quy định bữa sáng hoặc dùng càphê hoặc trái cây, nữ tu đó cảm thấy cắn rứt lương tâm và tham khảo cha Rua. Thật với chính mình, cha Rua trả lời rằng theo nguyên tắc để cho trái cây hư thối thì tốt hơn là phá Tu Luật. Trong trường hợp này, ngài khuyên nữ tu đó hoặc cho trái cây cho người nghèo hoặc phân phát cho các em nữ.[147]
Những lá thư hàng tháng cho các giám đốc
Là Phó Tổng Bề trên cha Rua chịu trách nhiệm giám sát các giám đốc địa phương vốn đang trở nên đông hơn vào cuối thập niên 60. Ngài chủ tọa hầu hết những buổi huấn đức cho các giám đốc được tổ chức vào tháng Hai 1876; nơi đây ngài ôn lại những vấn đề về Quy Luật mà đã được nêu lên ở những cuộc kinh lý địa phương trước: đều đặn tiếp nhận các hội viên đến thổ lộ; luôn luôn huấn đức hai tuần một lần; chăm sóc phụng vụ kỹ càng; cắt bớt những ngày nghỉ cho các hội viên. Ngài cũng lợi dụng dịp đó để nhắc nhớ các giám đốc rằng họ không có quyền đuổi các phần tử tuyên khấn hay tập sinh.
Các giám đốc hành động lệ thuộc trực tiếp vào trung tâm của Tu hội. Cha Rua làm rõ điều này trong những lá thư luân lưu hàng tháng được viết tay gởi đến cho mỗi người. Tiêu đề mang tính cá nhân đang khi phần chính của lá thư, được viết bởi một thư ký, mang lấy hình thức của một loạt những điểm được ghi số (thí dụ: số Thánh Lễ được cử hành tháng trước cho những ý của Nguyện xá Turin, hay những lợi nhuận tài chánh cuối năm);
Những tin giờ chót, (chẳng hạn: khi nào danh mục kế tiếp của Tu hội sẽ được gởi ra; ngày thi cho các sinh viên thần học sống trong nhà, hay có lẽ tình trạng sức khỏe của Don Bosco); những lời khích lệ, chẳng hạn như: "Hiện nay chúng ta đang kinh nghiệm những vấn đề tài chính ngoại lệ, vì thế Don Bosco thân yêu của chúng ta chỉ thị cho cha phải khuyên nhủ tiết kiệm trong mọi lãnh vực và tránh bất kỳ chi tiêu không cần thiết"). Có những đòi hỏi tùy dịp (chẳng hạn: gởi tới Turin sớm bao có thể danh sách các nhân viên, hay những kết quả thi của các tư giáo, hay những chứng nhận là thành viên của các Cộng Tác viên Salêdiêng mới), và những khẩn cầu đạo đức: chẳng hạn bảo đảm những buổi tĩnh tâm tốt đẹp cho các học sinh hay chắc chắn rằng chúng trải qua tháng Năm tốt đẹp.[148] Đôi khi cha Rua thêm một tư tưởng thiêng liêng để nâng tâm hồn vào bản văn của thư ký và rồi ngài ký tên. Thỉnh thoảng thậm chí ngài thêm một ghi chú, dài hay ngắn khi cần. Một cách tự nhiên, từ 1876 trở đi sứ mệnh Mỹ châu đòi hỏi những lá thư luân lưu chỉ dành cho họ: trong trường hợp đầu tiên được ngỏ cho cha Bodrato, rồi cho cha Costamagna, người hành sử như những Giám tỉnh. Những thư luân lưu này cuối cùng có thể gồm cả những mục dài dòng được đánh số từ tay của chính cha Rua, như chúng ta có thể thấy từ một trong những lá thư được gởi cho cha Costamagna, gồm có 12 điểm riêng biệt.[149]
Từ 1881 trở đi, những lá thư luân lưu cho các Giám đốc các nhà khác nhau được đi kèm hay được thay bằng một bảng câu hỏi mà cha Rua ký nhận về việc điều hành các trường học. Điều này mang tựa đề: "Tường trình về nhà ... tháng .... năm 188..." và bao gồm 9 câu hỏi sau: "1) cha có bao nhiêu nội trú? 2) Có bao nhiêu học sinh ban ngày? 3) Lối cư xử (hạnh kiểm) tổng quát của chúng? 4) Sức khỏe của những em nội trú? 5) Bao nhiêu thánh lễ được cử hành suốt tháng qua cho những ý chỉ của những người ký dưới đây? 6) Bao nhiêu thánh lễ được yêu cầu cho những ý chỉ của những người ký dưới đây? 7) Có thực hiện tất cả những bàn hỏi (thổ lộ, manifestations) không? 8) Bona Mors (Dọn mình Chết lành) hàng tháng có được tiến hành theo các quy luật không? 9) Có thực hiện hai huấn đức được quy định không?" Một khoảng giấy để trắng được dành ra cho mỗi câu trả lời của các giám đốc.[150]
Trong năm 1881 một bảng biểu in gồm 7 cột để "thông tin về nhân sự" của các nhà xuất hiện giữa những giấy tờ của cha Rua dùng cho các giám đốc. Đối với từng tên, giám đốc được mời gọi để diễn đạt ý kiến của mình về những bổn phận và công việc của người liên quan, về sức khỏe, về "sự chăm chỉ" của họ, về những trách nhiệm cá nhân, lòng đạo đức và học hành của họ. Giám đốc có thể thêm bất cứ "nhận xét và giải thích nào" vào những điều này ngài thấy là thích hợp.[151] Hệ thống có tính cách bàn giấy này nêu lên những câu hỏi. Tuy nhiên, đây là cách thức Don Bosco, rốt cục chịu trách nhiệm về tất cả những trung tâm ngài đã thành lập, làm cho sự hiện diện của ngài được cảm nhận từ Turin qua sự chăm chỉ của người là cánh tay phải và Phó Tổng Bề trên của mình, cha Rua, đang hoạt động cách nào đó như một Bộ Trưởng Nội vụ. Những yêu cầu các nhà phải tường trình mang lại những câu trả lời mà đôi khi nêu lên những quan tâm nghiêm trọng cho vị Phó Tổng Bề trên của chúng ta, đặc biệt khi chúng đến từ truyền giáo Mỹ châu, như khi cha Bodrato phàn nàn những gương mù lập lại ở Achentina. Ngày 4 tháng Chín 1879, ngài tuyên bố: "Chiara đã phản bội chúng ta"; ngài nêu lên bốn nố gương mù về tình dục, hai trong chúng tại St. Nicolas de los Arroyos và hai tại Villa Colon. Ngày 18 tháng Ba 1880, ngài lại tường trình rằng một sư huynh đã buộc phải lập gia đình "cách hết sức vội vàng", đã lừa dối mọi người. Ngài khẩn nài: "Con xin cha chỉ gởi những người có đời sống luân lý lành mạnh". Đó là những cú tát nặng nề đối với cha Rua.
Hai cơ sở thất bại
Việc sai cử các vị truyền giáo đến Mỹ châu năm 1875 tạo nên khuấy động ở Ý, mạnh đến nỗi những yêu cầu mở những cơ sở mới đến Valdocco tới tấp. Những yêu cầu này nằm trên bàn của cha Rua; ngài phải nghiên cứu chúng, và dưới sự hướng dẫn của Don Bosco, ngài can dự vào bất kỳ xử lý nào mà đôi khi có nghĩa là những khảo sát ngay lập tức. Năm 1877 có một đề nghị các Salêdiêng đảm trách một trường tại Mendrisio ở Swiss Canton of Tessin. Qua trao đổi dài bằng thư từ, cha Rua đi tới Mendrisio ngày 30 tháng Tư để tham quan tòa nhà và thu thập thông tin chính xác. Ngày 3 tháng Năm ngài tường trình lại cho Tu Nghị Bề trên có Don Bosco hiện diện.[152] Đối với Don Bosco, điều này dường như mang đến cơ hội để đạt được một bàn đạp ở Thụy sĩ, và vì lẽ đó ngài muốn có những nhượng bộ. Trái lại, những thành viên của Hội đồng tỏ ra rất dè dặt. Trong biến cố đó, vào cuối tháng Tám, chính quyền địa phương ở Canton chỉ định một giáo dân họ chọn với đầy đủ thẩm quyền như hiệu trưởng của trường đó tại Mendrisio. Lúc đó những hy vọng để Salêdiêng hiện diện tại Thụy sĩ đã bị hủy.
Cha Rua lại can dự rất chặt chẽ vào một sự tiếp quản thất bại khác, lần này ở Paris. Năm 1866, Abbé Louis Roussel đã thiết lập một nơi cho trẻ hè phố, được miêu tả là "Những em học nghề-mồ côi", với nơi ăn chốn ở đã xiêu vẹo. Khu vực là Auteuil, mới được nhập vào khu (Phường) mười sáu của Paris.[153] Vì linh mục đó quan tâm đến nhiều vấn đề mà giới lao động đối diện: nơi ăn chốn ở, học nghề, và toàn não trạng của chính những người lao động. Người ta nói rằng mục đích của ngài là mở tâm hồn và trí tuệ của trẻ em và đồng thời chuẩn bị cho chúng một nghề nghiệp tương lai. Vì nơi ăn chốn ở của gia đình hoặc là không có hoặc chí ít là không thích đáng, nên ít nhất ngài muốn cung cấp một mái nhà cho những em học nghề của mình, theo một cách thức rất giống như Don Bosco đang làm ở Turin và Genoa. Tuy nhiên, một sự khác biệt nổi bật là đang khi Don Bosco huấn luyện những người giúp mình tại chỗ, vị linh mục Pháp đó mang đến hoàn toàn những người ngoài. Trong một cuộc thăm viếng Rôma, Abbé Rousse được Đức Piô IX khuyên nên nói chuyện với Don Bosco, và vì thế vào tháng Chín 1887, ngài thăm Nguyện xá Turin. Điều ngài đã thấy gây cho ngài ấn tượng mạnh đến nỗi ngài lập tức nảy sinh ý tưởng về một dự phóng chung giữa Turin và Auteuil. Những người Salêdiêng tỏ ra rất quan tâm, thấy trước một sự hòa nhập sau cùng với Tu hội, với linh mục Pháp đó chỉ đơn giản giữ lại sự quản trị tập san "Le France Illustrée", đã do ngài điều hành. Don Bosco dường như sẵn sàng để tiến tới với dự phóng đó. Với một bệ chân đã ở Pháp, tại Nice và Marseilles bên bờ biển Địa Trung Hải, ngài có những tầm nhìn trên Thủ đô nước Pháp, và các bạn hữu thúc đẩy ngài cũng thiết lập ở đó.
Đang khi ở Turin, Abbé Roussel đã gặp Bá tước Cays, một linh mục mới chịu chức nói tiếng Pháp giỏi; Abbé Roussel đề nghị rằng Bá tước nên đảm nhận tất cả những thương thảo cần thiết. Don Bosco đồng ý, và nhanh chóng bảo Bá tước Cays lên đường đi Paris. Nhưng Bá tước không đi một mình: cha Rua trung thành sẽ đi với ngài, đảm trách việc soạn thảo một khế ước với Abbé Roussel, và thông tri những tư tưởng của Tổng Giám mục Paris, Hồng y Joseph-Hippolite Guibert. Hai người khởi hành ngày 6 tháng Mười Một 1878, và chẳng bao lâu những thương thảo dường như khởi sự cách đúng đắn. Don Bosco, hành động qua cha Rua, rất cẩn thận để tránh bất kỳ ấn tượng về một sự tiếp quản: vị trí của Abbé Roussel như người đứng đầu sự nghiệp Auteuil sẽ là suốt đời; những người Salêdiêng sẽ giúp ngài, chỉ cung cấp một người kế tục khi thời gian đó đến. Ngày 12 tháng Mười Một, tiếp theo một cuộc triều yết với Tổng Giám mục, người tỏ ra rất tán thành sự hiện diện của Salêdiêng ở Thủ đô, Don Rua viết cho Don Bosco và phác thảo một khế ước được đề nghị với bốn mệnh đề: 1) thiết lập một hội dân sự, mà bao gồm Abbé Roussel, về chủ quyền của sự nghiệp Auteuil và những thành phần lệ thuộc của nó; 2) những người đồng sở hữu sẽ cam kết trao công việc bác ái này cho những người Salêdiêng, mà sẽ quản trị nó theo Hiến Luật của họ; 3) khi nhu cầu nảy sinh, Tu Nghị Bề trên Salêdiêng sẽ cung cấp sự giúp đỡ tài chánh cho dự phóng Auteuil; 4) Abbé Roussel vẫn đứng đầu sự thành lập này. Lời ghi chú duy nhất của Don Bosco là đối với người Salêdiêng phải có những bảo đảm để sở hữu vững bền.[154] Ngày 16 tháng Mười Một, ngài viết cho Bá tước Cays trong cùng đường nét này: "Tất cả [những thành viên của Tu Nghị Bề trên] đồng ý rằng chúng ta phải dành cho Abbé Roussel sự kính trọng và quyền bính thích đáng, miễn là chúng ta hiện diện của chúng ta ở Paris được bảo đảm vững bền."[155] Cùng ngày đó ngài diễn đạt hai ước muốn của mình cho cha Rua: thiết lập ở Paris và đừng lao vào nguy cơ bị đuổi đi.[156] Hai vị sứ giả trở về Turin chiều tối ngày 30 tháng Mười Một.
Bản thỏa ước được soạn thảo ở Turin không chút chậm trễ. Cốt yếu, nó nói rằng Abbé Roussel nài xin Don Bosco và Tu hội ngài đến giúp đỡ công cuộc của mình ở Auteuil; Abbé Roussel vẫn còn là giám đốc của công cuộc đó suốt đời; người Salêdiêng sẽ giúp ngài và cung cấp những người thay thế chỉ như và khi điều này trở thành cần thiết mà thôi; Don Bosco có tước vị đồng-giám đốc (co-director) với quyền kế tục.[157] Khế ước này được gởi từ Turin tới Paris ngày 16 tháng Mười Hai 1878 và được Abbé Roussel ký khoảng 20 tháng Giêng 1879 ở Marseilles; tại đó ngài đã gặp Don Bosco. Tiếp theo, sau khi Don Bosco trở về Turin, các biến cố bị đảo ngược nhanh chóng: vào cuối tháng Giêng, các Salêdiêng quyết định rút lui. Don Bosco sợ rằng sáng kiến Paris sẽ đổ vỡ và ngài sẽ mất mặt. Cớ làm cho việc nuốt lời được Hồng y Guibert mang đến; ngài dành cho mình quyền yêu cầu những người Salêdiêng rời đi nếu họ không đáp ứng quang cảnh Paris. Họ không được chuẩn bị để mạo hiểm như thế. Ngày 6 tháng Hai, lúc khai mạc Buổi Huấn đức hàng năm cho các giám đốc, Don Bosco giải thích mọi sự cho con cái mình.[158] Sự rút lui đó được gởi cho Abbé Roussel ngày 10 tháng Hai, và ba ngày sau Bá tước Cays gởi cho ngài một lá thư nữa giải thích vấn đề đầy đủ hơn; nhưng xem ra sự hủy bỏ này khiến vị linh mục người Pháp này phiền lòng.[159] Thực sự, đúng là do Chúa quan phòng đối với dự phóng Auteuil. Thậm chí nó chặn trước kết cục này, vì việc nước Pháp áp dụng những luật lệ chống lại các Dòng Tu giữa năm 1901 và 1903 sẽ minh chứng là chí tử đối với nó.
Cha Rua trong cuộc tranh cãi với Tổng Giám mục Gastaldi
Don Bosco đau khổ nhiều giữa 1871 và 1883 vì Tổng Giám mục Lawrence Gastaldi.[160] Ngài giả như không biết những lý lẽ trước sự thù hằn đột ngột này từ một người đã từng là một trong những người bạn chí thân của ngài, một người mà ngài đã ủng hộ vào số ứng sinh được phong Giám mục trong thập niên 60, người đã công khai nâng đỡ những thương thảo với Rôma để nhìn nhận Tu hội, và sự thuyên chuyển đáng ca ngợi của ngài từ tòa Saluzzo tới tòa Turin Don Bosco đã đạt được từ Vatican trong năm 1871.
Sự thù hằn nảy sinh trong 1873-1874 khi Don Bosco cố gắng có bản văn Hiến Luật được các vị thẩm quyền Rôma chấp nhận, thì không phải không có cơ sở. Tổng Giám mục Gastaldi nghiêm chỉnh đảm nhận những bổn phận mục vụ của mình. Ngài cố gắng cải cách giáo phận mình, bắt đầu với hàng giáo sĩ mà ngài muốn thấy họ là những linh mục xứng đáng, đạo đức và học hành đầy đủ. Don Bosco đã kinh nghiệm những vấn đề đào luyện các tư giáo của mình với Tổng Giám mục Riccardi di Nietro. Tình trạng đó còn tệ hơn dưới triều của vị kế tục ngài. Tổng Giám mục Gastaldi rất đòi hỏi với những ứng sinh Salêdiêng xin thụ phong; điều ấy khiến Don Bosco âu lo. Ngài hỏi cha Rua trong một lá thư ngày 18 tháng Mười Một 1875: "Có phải việc thụ phong đang gặp rắc rối với Tổng Giám mục không?" Những cải cách của Tổng Giám mục Gastaldi làm xáo trộn (một phần) hàng giáo sĩ địa phận và họ phàn nàn với Rôma. Đức Tổng Giám mục nghi ngờ Don Bosco, vốn được Đức Giáo hoàng và vị thư ký Antonelli của ngài coi trọng, như là một người đáng bị khiển trách vì một lá thư trách mắng từ Đức Piô IX. Bầu khí của những mối liên hệ giữa Hội đồng giáo phận và Valdocco ngày một chua cay hơn. Ngày 27 tháng Tám 1873, Don Bosco rất buồn khổ vì những chỉ trích của Tổng Giám mục nhân dịp ngài thăm viếng trường Alassio.
Trong những tình hình của cuộc tranh cãi, cha Rua thường xuyên bị buộc đi vào tuyến đầu của hành động. Trong cuộc bất đồng giữa hai hội viên thân cận với Don Bosco - Gioakim Berto và Gioan Bonetti - ngài cố hết sức để làm dịu tình trạng bằng mọi cách có thể được. Ngài thường giữ bình thản, đưa ra những giải thích, lý luận hay đơn giản giữ im lặng. Không bao giờ người ta thấy ngài nổi đóa. Đối với Valdocco, vị thư ký, Kinh sĩ Toma Chiuso, của Tổng Giám mục đó là một kẻ thù đối với vụ việc của họ, nhưng cha Rua đối xử với ngài như "một người bạn rất thân yêu", khi bắt đầu các lá thư của mình bằng "Teologo mio Carissimo" ("Cha rất thân mến của con"), và kết thư bằng cách xin ngài "vì tất cả chúng con ở Valdocco, hôn tay Đức Tổng Giám mục Gastaldi, vị Giám mục thân mến và xứng đáng trước nhan Chúa."[161] Theo cha Ceria, một lá thư giải thích như thế, được viết ngày 13 tháng Giêng 1879, "là một tuyệt tác của sự tinh tế ngoại giao".[162]
Vụ việc có văn kiện rõ ràng về sự treo chén tưởng tượng của Don Bosco vào tháng Mười Hai 1875 cho thấy vai trò của ngài trong điều mà chỉ có thể được gọi là cuộc chiến giữa Valdocco và Tòa Tổng Giám mục. Cha Rua không chỉ là môi giới tiện lợi đối với Don Bosco. Ngài can thiệp khéo léo. Ngay cả trong những trao đổi nóng nảy nhất, ngài vẫn có thể cân bằng sự thẳng thắn với sự chừng mực, sự chính xác với sự tế nhị, tình yêu vô điều kiện dành cho Don Bosco với sự tôn kính đầy đủ đối với Tổng Giám mục. Những năng quyền giải tội của Don Bosco đã không được gia hạn trong thời gian quy định.[163] Ngày 24 tháng Mười Hai cha Rua thông tin cho Don Bosco, người diễn dịch rằng vị Tổng Giám mục đã từ chối để gia hạn chúng - một biện pháp vị Tổng Giám mục thường nại đến trong việc đối xử với hàng giáo sĩ. Don Bosco rút sang Borgo San Martino [ngoài địa phận] để tránh phải từ chối giải tội ở Turin. Ngày 27, Canon Chiuso cho cha Rua hay rằng Tổng Giám mục Gastaldi cho phép Don Bosco tiếp tục giải tội, vì năng quyền này không bao giờ bị lấy khỏi ngài. Ngày 29, một ghi chú nữa từ vị Canon mời cha Rua gặp Tổng Giám mục. Chiều hôm đó ngài đến và bảo vệ, cách tốt nhất mà ngài có thể làm được, lập trường mục vụ Don Bosco đã có. Ngày hôm sau, ngài viết lại lý do chính cho lời ngài giải thích, đồng thời khiêm nhường xin lỗi vì có lẽ đã quá kịch liệt khi bảo vệ Don Bosco. Rồi ngài tự ý thêm rằng: "suốt những năm con sống gần Don Bosco và ai nấy đều thấy rõ là ngài làm được nhiều điều tốt và Chúa chúc lành cho công việc ngài làm. Con cũng có thể thấy rằng ngay cả những dự phóng tham vọng nhất của ngài đã hoàn thành tốt; từ đây con chỉ có thể kết luận rằng Chúa thật sự ban cho ngài ơn địa vị, và đã đặt định ngài hoàn thành một vài dự phóng may lành; Chúa mưa tuôn trên ngài sự trợ giúp ngài cần để đưa các dự phóng đó tới hoàn thành, và hoàn thành tới mức rằng thỉnh thoảng ngài thấy mình bị những người đáng kính chống đối, như từng xảy ra cho nhiều vị sáng lập thánh thiện."[164]
Cuộc tranh cãi vẫn tiếp tục không suy giảm. Ngày 31 tháng Mười Hai, Hội đồng giáo phận chĩa một loạt những lời khiển trách có tài liệu dẫn chứng vào những người Salêdiêng. Tu hội không thể nhận những ứng sinh không có những thư chứng thực từ những Đấng bản quyền của họ; họ không thể có những người trẻ trong trường mang áo dòng mà không có phép của Giám mục. Còn nghiêm trọng hơn nữa, có một sự bất hòa rõ ràng giữa thẩm quyền giáo sĩ của Turin và Tu hội khi Tu hội chấp nhận những người đã có phép vào chủng viện địa phận. Họ tuyên bố, vết rạn nứt này thậm chí rõ hơn, khi thiếu kính trọng thẩm quyền Tổng Giám mục trong những lá thư và những cuộc đối thoại. Vì vậy Tu hội buộc phải tuân giữ những giáo luật chặt chẽ. Khi bắt đầu năm mới 1876, cha Rua lại cầm bút trả lời cả loạt nhận xét này, từng điểm một, trong một lá thư dài gởi lên Tổng Giám mục Gastaldi. Với văn phong trực tiếp, gãy gọn, hoàn toàn cao quý và không có bất kỳ lời lẽ xúc phạm hay khó nghe nào, ngài bàn đến từng luận điệu, và chỗ nào cần thiết, có những quy chiếu tới Giáo luật.
Những câu ngài mở đầu định rõ giọng điệu cho toàn lá thư. "Đức Tổng Giám mục kính mến, con có bổn phận phải cám ơn ngài rất chân thành vì những nhận xét trong lá thư đề ngày 31 tháng Mười Hai. Nó minh định ấn tượng rộng rãi giữa chúng con rằng lý do chân thật để Đức Tổng không bằng lòng với Tu hội Salêdiêng chỉ là thiếu sự minh tỏ cần thiết. Con có lý lẽ vững tin rằng khi các sự việc được trình bày trong ánh sáng thật sự của nó và thiện ý của chúng con trở thành hiển nhiên, thì các vấn đề sẽ biến mất, bởi vì chúng không có hoặc bởi vì chúng được gán ghép sai lầm cho chúng con. Như một người Phó Bề trên của Tu hội, con luôn hoàn toàn ý thức về mọi điều đang xảy ra; vì thế, nếu Đức Tổng cho phép, con sẽ giãi bày quan điểm của con đang khi đặt mọi sự rốt cục lụy phục sự khôn ngoan được soi sáng của Đức Tổng."
Lá thư kết thúc: "Con biết rõ mình đã quá dài dòng, nhưng xin Đức Tổng vui lòng tha thứ cho con mở lòng mình bằng cách này để bảo đảm với Đức Tổng rằng những người Salêdiêng không hề thiếu kính trọng và tôn kính đối với Đức Tổng, khi ngài còn là Kinh sĩ trong thành phố này, hay khi đã thành Giám mục của Saluzzo, hay khi Chúa Quan phòng thấy là thích hợp để ngài là Tổng Giám mục của chúng con. Về phần con, tuyên bố mình là tôi tớ rất khiêm hạ của Đức Tổng luôn là niềm vinh dự và một lý do để biết ơn, cha Micae Rua."[165]
Biết một cách chi tiết nào đó đâu là vai trò cha Rua thực hiện trong vụ tranh cãi của Gioan Bonetti quả thật lý thú. Người Salêdiêng này, được Don Bosco chọn làm tuyên úy và giám đốc của Nguyện xá Thánh Têrêsa dành cho trẻ nữ ở Chieri được các Con Đức Mẹ Phù hộ điều hành, thấy mình mâu thuẫn với cha xứ. Dường như vào tháng Hai 1879, sau khi đã đi quá những quyền lợi của mình ở giáo xứ, ngài tiếp tục lăng mạ cha xứ bằng lá thư, và như vậy những năng quyền giải tội của ngài bị Đức Giám mục rút lại và thậm chí cấm ngài đặt chân đến Nguyện xá. Bonetti phản ứng cách buồn khổ, nhưng Don Bosco nâng đỡ ngài, đang khi thực thế cha Rua hành động như một trung gian, cố gắng minh định điều gì đã sai và để khôi phục lại một sự bình thản nào đó. Tất cả đều vô ích. Suốt ba năm Chieri vẫn còn là một điểm sôi động đối với những người Salêdiêng và phần số của vị Phó Tổng Bề trên là can dự hoàn toàn vào đó.[166]
Hãy cho phép tôi lựa ra một trong những việc xảy ra mà chúng ta có nhiều thông tin. Vào tháng Mười Một năm 1889 một nữ tu Salêdiêng chết trong nhà ở Chieri. Nữ tu ấy đã ở trong tình trạng nguy kịch trước khi những người Salêdiêng bị cáo ở Hội đồng giáo phận vì vi phạm rõ ràng những quyền lợi giáo xứ và Giáo luật. Vị biện lý (người đại diện của Tổng Giám mục) tin rằng thông tin đó là xác đáng, mời cha Rua tới Hội đồng giáo phận và đặt những sự kiện cho ngài như sau:
Hai Salêdiêng đã ban các bí tích sau cùng cho Nữ tu hấp hối đó, sử dụng những dầu thánh từ nhà nguyện của dòng Tên và sau khi nữ tu đó chết đã đi theo đám tang qua thành phố và tới nghĩa trang.
Suốt cuộc phỏng vấn đó, cha Rua cho vị luật sư đó điều dường như đối với ngài là lời giải thích đáng tin cậy nhất, khi xin lỗi vì những hội viên đó không biết rành về những quy luật giáo xứ. Sau đó, ngày 27 tháng Mười Một, ngài trình bày giải thích của mình về những biến cố một cách đầy đủ cho Tổng Giám mục: một trong những linh mục đó là cha giải tội thường xuyên của nữ tu đó; đối với những bí tích sau cùng và đám tang, hai linh mục đã theo phong tục của Nguyện xá Turin. Cuối cùng, cha Rua "khiêm nhường xin Đức Tổng tha thứ cho hai linh mục liên hệ" và nói ngài "được chuẩn bị để làm cùng điều ấy đối với cha xứ địa phương nếu Đức Tổng xét là cần thiết". "Nếu xem ra thích hợp để đền bù sự vi phạm những quyền lợi giáo xứ, đối với cha xứ, theo một dấu kính trọng và đơn sơ từ Đức Tổng, chúng con được chuẩn bị để làm bất cứ điều gì cần thiết."[167] Nay rõ ràng là, trong biến cố đó, cha Rua đã cường điệu vụ việc, bởi vì thực thế, các bí tích sau cùng không phải những người Salêdiêng, nhưng do một kinh sĩ ban (tình cờ, vị này chống lại cha xứ và đứng về phía Bonetti), còn đám tang chỉ gồm có các trẻ nữ từ Nguyện xá Thánh Têrêsa mà thôi...[168]
Sự bất đồng đến mức căng thẳng khi Tổng Giám mục tố cáo Don Bosco khởi đầu những tuyên bố xấu xa về ngài được phát ra giữa năm 1877 và 1879. Theo những phỉ báng này, Don Bosco là kẻ thù số một của Đức Tổng Giám mục, và rõ ràng những người viết chúng được biết rõ những vấn đề nội bộ của Tu hội Salêdiêng. Một trong những lời phỉ báng, vốn diễu cợt cả Đức Tổng Giám mục lẫn vị cha xứ ở Chieri trong vụ việc Bonetti, mang tựa đề: "Đức Tổng Giám mục Turin, Don Bosco và cha Oddenimo, hay những câu chuyện ngu xuẩn, nghiêm trọng và đáng buồn được một người từ Chieri kể lại."
Vụ việc Bonetti và vấn đề lời sỉ nhục là một sự liên kết không may. Don Bosco bất lực để bảo vệ chính mình hay hội viên của mình; ngày 27 tháng Hai, ngài thổ lộ cho cha Rua: "Cha đã nhận được một lá thư từ Hồng y Nina [người bảo vệ các vụ việc Salêdiêng ở Rôma] về vấn đề cha Bonetti. Cha ao ước duy nhất là dàn xếp ổn thỏa sự khác biệt này với mọi người liên hệ. Giải pháp đơn giản nhất cha có thể thấy là giải pháp từ năm trước, nghĩa là, xóa bỏ sự treo [chén] mà Đức Tổng Giám mục đã áp dụng thế nhưng ngay hôm sau lại áp đặt lại. (Ở đây, ta phải nhắc nhớ rằng tin tức về những vụ xảy ra ở Chieri cuối cùng đã tới tòa Tổng Giám mục; vì vậy sự đổi ý như thế là khả thi.) Tuy nhiên vẫn có vấn đề nghiêm trọng được cha Colomiatti phác họa: nếu Don Bosco không đồng ý một sự thích nghi nào đó, Đức Tổng Giám mục sẽ mang vụ việc chống lại Don Bosco vì những xác quyết phỉ báng chống lại ngài nơi báo chí. Cha phải ngăn cản mối đe dọa Tu hội chúng ta chịu trách nhiệm về những phát hành này trong đó cha đã không có phần trực tiếp hoặc gián tiếp. Còn hơn thế nữa, vì cha bị đè nặng do chính Đức Tổng Giám mục đe dọa; hơn một lần ngài tuyên bố rằng nếu Don Bosco, hoặc chính mình hay từ người khác, trong ấn phẩm hay bản thảo, đã xuất bản hay phân phát [tài liệu chống lại ngài] hay làm như thế trong tương lai, ngài sẽ bị treo [chén] ipso facto incurrendo từ Đức Thánh Cha và Bộ lo về các Giám mục và Quy luật. Căn cứ vào những đe dọa nghiêm trọng này, ai sẽ tin rằng Don Bosco mất khôn tới độ tung ra những xuất bản như thế? Con có thể để cho cha Colomiatti biết suy nghĩ của cha. Cha trao quyền cho con giải quyết tất cả điều này và làm cho yên chuyện theo cách mà con tin là để Chúa được vinh quang hơn và các linh hồn được ích lợi, nhưng chắc chắn phải cho cha Bonetti biết bất kỳ điều gì xảy ra liên quan đến ngài."[169] Buồn thay, nỗ lực này của Don Bosco chẳng đi đến đâu.
Đức Tổng Giám mục tiếp tục điều tra những lời phỉ báng, thu thập chứng từ nào đó rằng Don Bosco có lẽ phạm tội và gọi ngài ra hầu tòa trước tòa án địa phận... Toàn vụ việc tới Rôma, ở đó thực thế vào năm 1882, Đức Lêô XIII cuối cùng đã gán một mức độ có tội cho những người Salêdiêng. Đối với cha Rua, ngài vẫn chân thật với những nguyên tắc ngài đã giữ từ lâu: "Im lặng, cầu nguyện, không phản ứng không đúng lúc, báo cho Don Bosco khi cần thiết, và vâng lời ngài tuyệt đối." Hoàn toàn trái ngược với cha Bonetti, người đã đi khắp nơi phản kháng cách ồn ào và tố cáo những kẻ khác, cha Rua, người thông tin hoàn hảo, khôn ngoan giữ an bình và cầu nguyện.
Vị Phó Tổng Bề trên nghiêm nhặt
Don Rua mất mẹ, Joan Maria, ngày 21 tháng Sáu 1876.[170] Người phụ nữ thánh thiện này đã dành 20 năm cuối đời cho các thiếu niên của Don Bosco; chúng đã tìm thấy ở bà một trái tim mẫu tử chân thật. Đối với người con của bà, cái chết của bà đúng là một nỗi buồn khủng khiếp; toàn Nguyện xá chia sẻ nỗi buồn này. Cha Rua gởi một bức ảnh của mẹ cho anh Antôn, người điều hành xưởng vũ khí của nhà Vua tại Brescia, cùng lúc cho ông một số đồ của bà. Những tài sản này gồm một ít vải vóc, một ít vàng trị giá 38.50 lire, nhẫn cưới mà người ta nghĩ là bằng vàng nhưng thực ra là mạ bạc và đáng giá 2 lire, cùng một ít đồ khác đáng giá 80 lire. Ngài đã chia những vải vóc áo quần cho các thành viên gia đình; đối với vật còn lại, ngài viết: "Tổng cộng nửa số nữ trang của mẹ là 30 lire và nửa đồ đạc là 40 lire, em gởi đến anh ở đây 70 lire mà em mong rằng anh sẽ chia sẻ với con cái để chúng đều có vật kỷ niệm nhỏ bé về bà nội thân yêu của chúng."
Nhìn vào những số lượng này, độc giả sẽ rút ra những kết luận của mình. Tuy nhiên, thật rõ rằng một người quá tỉ mỉ trong việc quản lý một gia tài giản dị lại rất thích hợp để trông nom những số tiền khổng lồ Chúa Quan phòng mang đến cho Don Bosco. Hẳn nhiên nhiều tiền đã qua tay cha Rua, nhưng không một xu nào bị tắc nghẽn ở các ngón tay ngài; ngài không hề chi tiêu hay phung phí hơn điều cần thiết. Trong những vấn đề này, cũng như trong các vấn đề khác, ngài theo quy luật của Don Bosco: "Chúa Quan phòng không bao giờ, và sẽ không bao giờ, bỏ chúng ta, bao lâu chúng ta không trở nên bất xứng với Ngài bằng cách phung phí tiền bạc và để cho tinh thần nghèo khó suy giảm. Vì vậy, cha Rua chặt chẽ tuân giữ lời khấn nghèo khó, nghiêm nhặt với mọi người, song ngài bắt đầu với chính mình. Nghèo khó nơi áo quần: Năm 1877, cha Vespignani, một trong những thư ký của ngài, được giao trách vụ chải áo thâm chùng của ngài, đã phải rất cẩn thận kẻo rách, vì đã sờn quá rồi. Nghèo khó trong giày dép: ngài không chút xấu hổ khi mang giày vá. Nghèo khó nơi văn phòng: một chiếc bàn ở đó ngài làm việc và tiếp khách, có hai ba chiếc ghế thường, hai bức tranh về Bí tích Thánh Thể và Mẹ Maria Phù hộ, đơn giản treo trên tường đối diện với ngài, và không có gì khác nữa.
Ngài cũng để mắt đến sự nghèo khó của các hội viên. Có quá nhiều điều có thể nói về vấn đề này, nhưng chỉ gợi lại một ít thí dụ từ những năm 1875-1880 là đủ rồi. Các vị truyền giáo được ngài săn sóc, và năm 1876 một hội viên sắp trẩy đi Achentina muốn có một sách nguyện mới. Cha Rua xin được coi cuốn sách người đó đang dùng, rồi cho xem cuốn sách của mình, cũ kỹ và đầy vết tay, rồi mỉm cười xin người đó trao đổi. Người kia cúi đầu khuất phục và từ chối. Năm 1877, cha thư ký Vespignani của ngài, vẫn còn là một tập sinh nhận được một hộp sách từ gia đình và xin phép giữ trong phòng. Cha Rua tử tế trả lời: "Cha sẽ nói cho con cha sẽ làm gì với sách của cha: cha đặt tất cả trong thư viện cộng thể rồi." Gia đình của Vespignani cũng gởi cho ngài một bàn viết lớn ở đó ngài có thể đứng làm việc. Cha Rua trả lời: "này, cha cao lớn rồi. Cách tiện lợi nhất cho cha để đứng làm việc là đặt một cái ghế trên bàn", hàm ý rằng ngài có thể viết trên ghế. Cha Ceria bình luận, trong từng trường hợp, cha Rua đều thử thách tập sinh. Ngài từ khước họ bất kỳ sự thừa thãi nào, và không cho phép họ giữ những tặng phẩm cho chính mình để phá Luật.
Ngài có những tường trình chi tiêu được các thư ký của ngài kiểm soát mỗi hội viên tiêu bao nhiêu cho quần áo, và xin một danh sách những ai có hơn một chiếc áo dòng mới hay đôi giày mới suốt năm, để ngài có thể nói một lời với họ. Căn cứ vào tài chánh liên lỷ thiếu hụt (vay nợ), những lời khuyến cáo về tiết kiệm thật nhiều và khác nhau: tiết kiệm trong nhà bếp, phòng rượu, phòng vải, giặt giũ, và trong sưởi và điện sáng. Những thí dụ này, được cha Ceria cung cấp, có thể xa lạ với xã hội tiêu thụ của chúng ta, nhưng ngài tuyên bố rằng sự chú ý đến từng chi tiết như thế giúp hình thành một tinh thần tiết kiệm trong não trạng của những người Salêdiêng, không chỉ bảo đảm nền kinh tế gia đình tốt đẹp, nhưng kiến tạo một ý thức về giá trị của tiền bạc trong tay của một người khấn sống nghèo khó. Đối với một tu sĩ, tiền bạc hầu như là một sự thánh thiêng, bởi vì nó là quà tặng của Chúa Quan phòng chỉ vì một mục đích: Vinh quang Thiên Chúa và phần ích các linh hồn. Vậy chúng ta có thể hiểu tại sao cha Rua xem xét rất nhiều đến những quản lý có trách nhiệm đối với việc quản trị của các cộng thể khác nhau. Ngài muốn quy tụ họ lại để giải thích những hướng dẫn cụ thể để tiết kiệm và đồng ý trên những phương pháp kế toán, căn cứ vào nhu cầu thiết lập một thực hành chung phù hợp với tinh thần chân thật của Tu hội Salêdiêng đang phát triển.
Không có gì keo kiệt về phía ngài hoặc đối với những người khác, vì tất cả sự nhiệm nhặt của ngài. Dù giữ nghèo khó trong ăn mặc, ngài không chỉ gọn gàng, nhưng cũng rất sạch và chỉnh tề. Tinh thần nghèo khó khiến ngài ý thức đến những nhu cầu của kẻ khác. Ngài rất nhớ đến những người ốm đau, và, ngài trách nhiệm đối với họ, cũng như những vị truyền giáo. Ngài không bủn xỉn khi liên quan đến vẻ đẹp của phụng vụ. Ngài có hai nguyên tắc dẫn đường trong những vấn đề khó nghèo, một mang tính tu đức và một mang tính luân lý. Không có tinh thần nghèo khó, không thể cầu nguyện sốt sắng, không sẵn sàng hy sinh vốn cố hữu trong ơn gọi Salêdiêng, không thể tiến bộ thiêng liêng hay trở nên con cái chân chính của Don Bosco.
Nguyện xá Valdocco sống trên đức ái. Năng khiếu của Don Bosco để tìm ân nhân cho công cuộc của mình thì đã thành cách ngôn. Dần dần, người là cánh tay phải của Don Bosco được dạy cùng kỹ năng đó, dù điều ấy phải khiến ngài đau khổ cách nào đó; trong những thời kỳ Don Bosco vắng mặt nhiều hơn, ngài không có sự chọn lựa nào ngoài việc đưa nó ra thực hành. Rồi ngài đặt định công việc, viết cho người này, rồi người khác loan báo cuộc thăm viếng sắp tới, hy vọng nhận được bất kỳ tặng phẩm bác ái nào họ có thể biếu tặng.
Đôi khi, ngay cả lúc Don Bosco ở nhà, cha Rua không biết đường nào để xoay sở hầu tìm được trợ giúp một nhu cầu khẩn cấp nào đó, Don Bosco vẫn không xao xuyến, thâm tín rằng Chúa Quan phòng sẽ lo liệu điều đó. Vì đối với cha Rua, chính trong một tình huống như thế mà ngài học một bài học nhỏ, như cha Lemoyne thuật lại trong hình thức của một cuộc đối thoại.[171]
Vào bữa tối ngày 29 tháng Tư 1879, và trước một vài hội viên, Don Bosco bảo cha Rua rằng một số người phàn nàn, bởi vì khi họ đến xin ngài chút tiền ngài để họ về tay trắng. Cha Rua trả lời, "vì lý do đơn giản: két tiền rỗng hết rồi."
- Con hãy bán bất kỳ giao kèo nào chúng ta có.
- Con đã bán một số rồi, nhưng bán tất cả đi thì không. Chúng ta phải giữ lại một số để đáp ứng những nhu cầu khẩn cấp vốn có thể nảy sinh.
- Nếu điều đó xảy ra, Chúa sẽ cung cấp. Trong lúc này con hãy cố gắng sắp xếp những món nợ còn tồn đọng mà chúng ta đang đối diện.
- Nhưng trong vòng hai tuần, con sẽ phải trả chi phiếu 28.000 lire.
- Nhưng không trả món nợ hôm nay và giữ tiền chỉ cần thiết trong hai tuần tới quả là điên.
- Những món nợ của hôm nay không thúc ép, vì thế chúng ta sẽ làm gì đây?
- Chúa sẽ cung cấp. Bất kỳ ai để dành tiền ra một bên cho những nhu cầu tương lai đang đóng cửa cho Chúa Quan phòng.
- Nhưng chúng ta phải khôn ngoan...
- Con hãy nghe cha. Nếu con muốn Chúa Quan phòng giúp chúng ta, con hãy lấy ra điều con có và trả những món nợ. Vì đối với tương lai, chúng ta hãy trao vào bàn tay Thiên Chúa. Cha không biết về bất kỳ người quản lý nào của chúng ta mà hoàn toàn tin tưởng vào Chúa Quan phòng và không xây dựng những quỹ cho tương lai. Cha sợ rằng những vấn đề hiện tại của chúng ta là vì quá cẩn thận. Khi con người sử dụng điều đó, Thiên Chúa rút lui.”
Hai tính khí, hai lối thiêng trong sự hợp tác tuyệt vời
Những khác biệt là đáng kể trong những khóe nhìn của họ về tầng lớp và địa vị. Cha Rua cảm thấy mạnh mẽ về phẩm giá linh mục. Tuy nhiên, vì buổi ban đầu của Tu hội Salêdiêng con số giáo dân, chính yếu là những người buôn bán, làm vườn hay nấu nướng đã trở thành hội viên hoàn toàn. Như chúng ta biết, cha Rua đã đặc biệt hiến mình lo đào tạo tư giáo. Còn để lại cho Don Bosco, rồi cha Barberis, chăm sóc đào luyện các hội viên giáo dân, được thực hiện chính yếu qua hàng loạt những huấn đức chung, và có một khuynh hướng nhìn những sư huynh này là những Salêdiêng hạng hai. Vào Tổng Tu Nghị III năm 1883, một trong những đề xướng đọc thấy như sau: "Phải dành cho sư huynh một địa vị thấp hơn: họ phải được gán cho một loại (phạm trù) riêng của chính mình", và v.v. Rõ ràng khó chịu với điều này, Don Bosco phản đối: "Không, không, không được! Các sư huynh là như nhau với những người khác.”[172] Sau này, tháng Chín 1884, cha Rua muốn đề nghị hai loại sư huynh khác nhau. Như khi ngài nói, "một luật sư, dược sĩ hay thầy giáo lại phải xếp hàng bên cạnh một người công nhân thường” thật không thích hợp tí nào.[173] Don Bosco chống lại thẳng thừng: "Cha không thể chấp nhận hai loại sư huynh"; nhưng ngài nói rõ rằng những người thô lỗ, ngớ ngẩn không thể trở thành hội viên của Tu hội.
Vẫn bảo vệ lập trường của mình, cha Rua hỏi ngài liệu xem ngài không thể thiết lập một nhóm tương tự như dòng Ba Phan sinh hay sao, nhưng ngay cả điều này cũng không thể thay đổi tâm trí của Don Bosco. Người nông dân nơi Don Bosco không thể đi đôi với tính quan chức thành phố nơi cha Rua với những quan tâm của ngài đối với xã hội thập niên 90.
Bất cứ điều gì chúng ta làm về những lối tiếp cận trái ngược này, những phẩm tính trí thức, luân lý và tôn giáo của cha Rua thật nổi bật đến nỗi bất kỳ ai có mắt nhìn đều có thể nhận ra ngay lập tức. Quá nhiều đến nỗi ý tưởng đó trở nên mạnh mẽ hơn vào ngày mà ngài kế vị Don Bosco. Vào năm 1879, khi nói cho cha Cagliero từ Mỹ Châu trở về, Don Bosco đặt câu hỏi về người kế vị mình, nói rằng theo ý kiến của ngài có ba ứng viên có thể được. Cha Cagliero trả lời: "Sau này, có thể có, nhưng bây giờ thì chỉ có một - cha Rua." Don Bosco không phủ nhận ngài. Trái lại ngài tuyên bố: "Chúng ta chỉ có một cha Rua! Ngài đã luôn và vẫn luôn là cánh tay phải của Don Bosco." Cha Cagliero nói thêm: "Không chỉ cánh tay phải của cha, nhưng còn là đầu, là mắt, là tâm trí và cõi lòng của cha."[174] Cha Rua chắc chắn có nhân cách độc đáo của chính mình, nhưng hơn là thả lỏng nó, ngài bắt nó lụy phục, thậm chí hy sinh nó vì Don Bosco và công cuộc ngài; ngài thâm tín rằng bằng cách này chính ngài được đồng hình đồng dạng với một ơn gọi đến từ trên cao.
Chú thích
[146] Theo sử biên niên Mornese được lặp lại trong Amadei 1, p. 260
[147] Từ Ceria, Vita, p. 87
[148] Chẳng hạn, xem những lá thư hàng tháng gởi cho Fr Lazzaro được sao chép lại trong FdR 3909 C12 at 3911 D5.
[149] Xem những lá thư luân lưu gởi cho Tỉnh dòng Châu Mỹ trong FdR 3975 C12 at 3977 C1
[150] Xem một thí dụ của định dạng này trong FdR 3910 B1.
[151] Danh mục này ở trong FdR 3910 B11.
[152] Biên bản của Hội đồng ngày 3 tháng Năm năm 1877.
[153] Bản tường trình về sự thất bại trong khi thành lập ở Paris trong Don Bosco en son temps, p. 1120-1123.
[154] M. Rua - G. Bosco, Paris 12 tháng Mười Một, 1878, FdR 3862 A7-9
[155] G. Bosco - C. Cays, Turin, 16 tháng Mười Một, 1878, Epistolario, Ceria III, p. 414-415
[156] G. Bosco - M. Rua, Turin, 16 tháng Mười Một, 1878, Epistolario Ceria III, p. 415-416
[157] Piece biên soạn trong Documenti XX, p. 79. E. Ceria ưa thích sao chép lại trong MB XIII, p. 999, doc.59, một phiên bản chuẩn bị từ Bá tước Cays vốn khác biệt chút ít với bản văn được ký nhận.
[158] Bản tường trình về phiên họp trong Documenti XX p. 77-78.
[159] C. Cays - L. Roussel, Turin, 13 tháng Ba năm 187, ed. MBXIII, p. 1001-1002 doc. 61.
[160] Bình luận sau chót về cuộc tranh luận nổi tiếng này giữa Tổng Giám mục và Don Bosco được tìm thấy trong Arthur J. Lenti, Don Bosco, his Pope and his bishop. The trials of a Founder, Rome, LAS, 2006, p. 65-245
[161] M. Rua - T. Chiuso, Turin, 13 tháng Ba năm 1879, ed. MB XIII, p. 1001-100”, doc. 61
[162] MB XIV p. 231
[163] Đọc về những năng quyền giải tội không được canh tân MB XI, p. 485-488
[164] M. Rua - L. Gastaldi, Turin, 30 tháng 12, 1875 FdR 3903 D6-9
[165] M. Rua - L. Gastaldi, Turin, 8 tháng Giêng, 1876, biên bản được sao chép lại trong FdB 673 B4-7
[166] Về vụ việc Bonetti xem Don Bosco en son Temps, p. 1087-1092, 1137-1141, 1158-1161.
[167] M. Rua - L. Gastaldi, Turin, 27 tháng Mười Một năm 1880, biên bản trong FdR 3903 E 1-2.
[168] Việc xảy ra được E. Ceria thuật lại, MB XIV p. 249-250.
[169] G. Bosco - M. Rua, Roquefort, 27 tháng Hai năm 1881, Epistolario Ceria, t.IV, p. 28
[170] Đối với đoạn này chúng tôi theo E. Ceria, Vita, p. 88-89
[171] Được tìm thấy trong Amadei I, p. 294. Chính lập luận có lẽ mang tính lịch sử. Cuộc nói chuyện được cống hiến ở đây chắc chắn là một can thiệp của người viết sử biên niên.
[172] Được P. Braido trích dẫn, Religiosi nuovi per il mondo del lavoro, Rome PAS 1961, p. 27
[173] Annali I, p. 709
[174] Từ E. Ceria, Vita, p. 99