8. Cha Rua, cột trụ của nguyện xá và luật sống
Một Tu hội liên lỷ tăng trưởng
Cha Rua đã đạo luyện những Salêdiêng trong giai đoạn nguyên thủy. Như ta biết ngài là Phó Tổng Bề trên của Tu hội. Ngài đại diện cho Don Bosco, mà mọi người đều kính yêu. Cha Rua làm mọi nỗ lực để gìn giữ một Tu hội đang tăng trưởng con số và phạm vi được hiệp nhất. Các nhà được mở thêm ở Alassio, Varazze và Sampierdarena, Liguria, giữa năm 1870 và 1873. Năm 1871 Don Bosco trao cho cha Angelo Savio trách vụ xây nhà thờ thánh Gioan Thánh sử ở Turin. Năm 1872, việc thành lập Tu hội Con Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu ở Mornese được Don Bosco xem như một phần toàn vẹn của Tu hội Salêdiêng, và chấp nhận điều hành trường cao đẳng dành cho giới quý tộc tại Valsalice, làm gia tăng sự kiên định của công cuộc đó.[128]
Giữa tháng Giêng và tháng Hai 1869, Don Bosco ở Rôma dần dần thắng vượt những chướng ngại nảy sinh từ cách thức ngài quan niệm những tiến trình đào luyện các ứng sinh trẻ và cuối cùng đạt được việc [tòa thánh] phê chuẩn Tu hội Salêdiêng. Đang khi đó cha Rua ở Turin xin các học sinh cầu nguyện mãnh liệt cho ngài. Các thiếu niên, cảm động vì việc ngài khích lệ, tự phát lập thành những nhóm, chúng cam kết để bảo đảm rằng mỗi người chọn một ngày trong tuần đi hiệp lễ, hầu mỗi sáng sẽ có một số đông người xếp hàng lên rước lễ cầu theo những ý nguyện của Don Bosco. Đây là một cách thức diễn đạt niềm tri ân chúng dành cho người Cha của mình, nhật ký của cha Rua viết thế.[129] Những lời cầu nguyện này đã được chiếu nhận. Ngày 26 tháng Hai, Don Bosco thông tin cho vị Phó Bề trên của mình về kết quả tích cực, xin ngài đừng lan truyền tin này vì sợ gây ra những sự om xòm bởi nghe biết một Tu hội mới được thành lập. Cha Rua chỉ nói cho một nhóm nhỏ vốn giúp ngài chuẩn bị đón Don Bosco trở về chiều ngày 5 tháng Ba.
Ban kèn chúc mừng Don Bosco ở cổng trường. Như một sự chào đón, chúng sắp thành hai hàng dọc theo sân Nguyện xá từ cổng vào tới nhà có mái vòm. Những quả cầu tinh thể được chiếu sáng và những bó đuốc bằng mỡ được đốt sáng và được treo trên những cột xen cách nhau. Những thiếu niên lập thành hai cánh, một cánh gồm những trẻ làm việc và cánh khác gồm những học sinh. Với ban nhạc dẫn đầu, Don Bosco đi ở giữa với mọi người hai bên hoan hô. Ngài đi lên lầu một ở đó ngài được nổi bật nhờ những ánh sáng từ sân trong. Ban hòa tấu tiếp tục giữa sự nhiệt nồng ngoại thường của mọi người. Cha Rua mãn nguyện. Nhật ký ngài miêu tả chi tiết cuộc biểu diễn và ngài kết thúc nói rằng: đó là một biểu lộ hò la vui sướng không dứt."[130]
Sự phê chuẩn Tu hội muốn nói rằng Hiến Luật phải được kính trọng. Don Bosco đã cố gắng rất nhiều để xin những đấng có thẩm quyền trong giáo hội nhìn nhận Hiến Luật. Ngài giải thích trong một huấn đức: "Mọi người đang nhìn chúng ta và Giáo hội có quyền đối với công cuộc chúng ta. Vì thế từ nay trở đi chúng ta phải thi hành từng chữ mọi phần của Hiến Luật". Ít ngày sau ngài nhấn mạnh: "Chúng ta hãy bảo đảm rằng chúng ta trở thành những người sáng lập chân thật của Tu hội Thánh Phanxicô Salê, hầu những ai đọc lịch sử của chúng ta sẽ tìm thấy những mẫu mực giữa chúng ta và họ sẽ không có lý thốt lên: những người này là loại sáng lập gì vậy!" Một trong những lá thư của ngài cho cha Rua từ Rôma gợi nhắc nhu cầu phải vâng phục.[131] Ta phải thực thi vâng phục đến nỗi tạo nên một nền tảng cho thói quen của Tu hội. Sự kiện họ có ít (người) hẳn có lợi.
Một Phó Bề trên đòi hỏi
Cha Rua là cánh tay phải của Don Bosco trong sự nghiệp tế nhị này. Khiêm tốn và quảng đại, ngài không bao giờ lần lữa khi liên hệ đến những nỗ lực và khó khăn khi đáp lại những ý hướng của vị thầy. Ngài là một người canh gác tỉnh thức, và chú ý đến bất kỳ sự bất quy tắc nào. Bình thản và kiên nhẫn, ngài không ngại đòi buộc khi ngài khám phá bất kỳ những phá luật nào.
Sự thinh lặng thánh sau kinh tối thường không được kính trọng. Ngài tự lấy trách nhiệm điều này - như ta biết - là đi một vòng quanh nhà lúc khuya khoắt hầu chữa trị điều này bằng sự hiện diện đơn giản của mình. Một vấn đề khác thiết thân với lòng ngài là thực hành khó nghèo tu trì. Cha Rua nỗ lực hết sức bảo đảm rằng mọi người tuân giữ điều này cặn kẽ. Khi trao cho một hội viên một số tiền, ngài muốn người đó tường trình lại tới xu cuối cùng. Có ít trường hợp biệt lập mà không thoát khỏi sự kiểm soát của ngài. Sự can thiệp có thể thật khó khăn. Người ta có thể tưởng tượng làm thế nào ngài có thể và phải nên phản ứng trước một lá thư từ Don Bosco ngày 21 tháng Tư 1869 ra lệnh cho ngài "phải nói cho D. Chiapale rằng Chúa Nhật vừa rồi cha đi tìm mà không thấy: con hãy hỏi Chiapale xem Luật có cho phép mình đi đâu tùy ý mà không có phép tắc hay không; con bảo Chiapale rằng phải ngừng lại ngay lập tức". Don Bosco đã dạy ngài rằng tuân giữ Luật là điều kiện sine qua non để Tu hội có tương lai. Đấy là điều ngài thật sự muốn.
Ngược lại điều chúng ta có thể tưởng tượng, ngài yêu cầu phải trật tự, nhưng lại không làm một cách thô kệch. Ngài đòi hỏi, đúng, nhưng không mô phạm hay quấy rầy. Ngài tỏ ra một khả năng hiếm có khi phải sửa lỗi. Ngài biết làm sao để chờ đợi đúng lúc, và khi dăm ba lời đã đủ, thì ngài không bao giờ nói thêm nữa. Ngài thích ứng những can thiệp của mình theo những tính khí khác nhau. Ngài không bao giờ mất bình thản, không theo lối tính toán. Sự tốt lành đơn giản của ngài ngăn ngài không làm nhục người có tội.
Sức mạnh của những sửa lỗi ấy đến từ sự kiện rằng ngài là gương mẫu đầu tiên trong việc tuân giữ Hiến Luật. Mọi người có thể làm chứng điều này; họ kết tận 'khi rửa tội' ngài với cái tên tục "Luật sống". Chính Don Bosco gọi ngài như thế trong những cuộc đối thoại riêng tư, khi ngài chỉ ra Don Rua là một khuôn mẫu cho sự tuân giữ cách riêng điểm này hay điểm nọ khi ngài đi vắng.
Giữa năm 1867 và 1872, cha Rua không xao nhãng sự kiện rằng như Phó Tổng Bề trên, ngài cũng là Phó Bề trên của Nguyện xá. Ngài phải chăm sóc tổ chức đó và theo dõi tiếp tục những biến cố tôn giáo quan trọng (Tuần 9 ngày Giáng sinh, Tuần Thánh, Tháng Đức Mẹ, Mùa chay, những ngày tĩnh tâm, ngày lễ của Don Bosco vào 24 tháng Sáu, lễ thánh Cecilia, Mẹ Vô nhiễm, thánh Phanxicô Salê, thánh Lu-y Gonzaga và Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu). Lời ngài dạy về điều này có thể tìm thấy trong biên bản của những khóa họp được ngài triệu tập và chủ tọa.[132] Có gần 900 thanh thiếu niên lúc đó. Ngài thiết định rằng những học sinh trẻ nên đi vào lớp cách trật tự, được các hộ trực đi kèm; các sinh viên triết học nên có một hộ trực đặc biệt trong giờ nghỉ (phiên họp ngày 8 tháng Mười Một 1867). Ngài khích lệ họ giữ nhà ngủ ngăn nắp và trong ngày cấm đi vào đó; nhà ngủ phải đóng kín từ 8:30 sáng (phiên họp ngày 16 tháng Mười Một 1871).
Vị Phó Bề trên ấy đã có thể nói rằng ngài hầu như được mãn nguyện với các sinh viên; còn với các thiếu niên lao động thì ít hơn một chút. Sự tham dự của họ trong nhà thờ để lại một cái gì đáng ao ước. Ngài quy định trong hội đồng ngày 27 tháng Mười Hai 1867: "Chúng được phân vào những nhà ngủ khác nhau với những hộ trực của chúng; mỗi người phải có chỗ của mình và một cuốn sách đạo đức." Những học sinh này chưa giữ kỷ luật xác đáng. Chẳng hạn những thiếu niên lao động thường đi vào phố mua những vật chúng cần trong các xưởng thợ: Cha Rua hủy bỏ việc thực hành đó, nhưng không thành công nhiều. Thời khóa biểu quá uyển chuyển. Ngày 13 tháng Ba 1870, Hội đồng ấy đã quyết định rằng có tiếng chuông nhắc gọi những người lãnh đạo và các trẻ lao động. Những trẻ lao động có giờ giải trí trong sân cùng với các học sinh: cha Rua thiết định một sự chia tách quyết liệt giữa các trẻ lao động và học sinh; điều này không phải không gặp khó khăn, đang khi phán đoán từ những nhận xét liên tục từ hội đồng đó. Thậm chí người ta còn quyết định xây một hàng rào để giúp sự chia tách này.[133] Những thời giờ đề ra cho lao động và dạy học không được chính thức viết ra; cha Rua đề ra những điều để việc đào luyện kỹ thuật xảy ra theo cấp và quyết định các học sinh lao động có lớp lý thuyết mỗi ngày lao động để giúp chúng tiến bộ trong nghề nghiệp và văn hóa toàn diện của chúng. Chẳng hạn, ngày 9 tháng Mười Một 1871, cha Rua ấn định những lớp học cho các học sinh lao động.[134] Thỉnh thoảng ngài quan sát xưởng này xưởng nọ, quan sát các thiếu niên, nói chuyện với giám xưởng, thường là một người đầy thiện chí nhưng ít biết cách thức kỹ thuật (dạy kỹ thuật). Những phiên họp Hội đồng do ngài chủ trì, thông thường trở lại "vấn đề của những thiếu niên lao động" (như vào ngày 20 tháng Ba, 1873) và những cách thức "cải thiện các trường hợp luân lý của những trẻ lao động" (phiên họp ngày 27 tháng Bảy 1873). Dần dần, nhờ cha Rua, những khóa học kỹ thuật tại Nguyện xá cải thiện đáng kể và chiếm được uy tín.
Cha Rua và Hội đồng của ngài cũng can dự vào máy móc hư hỏng trong các xưởng thợ, sự sạch sẽ, giặt giũ và phân phối khăn trải giường, vệ sinh trong các nhà ngủ. Chúng ta ghi nhận cách thức năm 1870 khi trường học tại Mirabello chuyển tới Borgo san Martino, Joan Maria Rua đến với con bà ở Valdocco để giải quyết những vấn đề cùng loại. Nhiều thiếu niên ăn mặc như chúng tùy thích, và số lớn trong chúng, quá nghèo khổ để làm cách khác, hoàn toàn lệ thuộc vào trường học đó. Cha Rua thấy rằng mọi nguời có thể ăn mặc chỉnh tề trong ngày Chúa nhật và khi chúng ra ngoài. Ngài bảo đảm xem xét lại các tủ áo quần trong các nhà ngủ hàng tuần, kiểm tra may vá hay khâu lại áo quần, giày dép.
Ngài muốn mọi người tuân giữ cẩn thận luật nhà. Don Bosco đã viết những quy luật này năm 1852, sau một thời gian thử nghiệm và rồi xem xét lại năm 1854 và có hiệu lực cho niên khóa 1854-1855. Chúng không được in trước năm 1877 nhưng dường như thế ngài đã xin long trọng đọc luật trước mọi người vào đầu mỗi niên học và bảo đảm rằng mỗi Chúa nhật cắt nghĩa một chương. Thời đầu đúng là thế. Nhưng những quy luật này được biết đến thật sự bao nhiêu? Sử gia (tôi nghĩ ở đây là cha Ceria) không có những ảo tưởng. Dù sao chăng nữa, biên bản cuộc họp Hội đồng ngày 22 tháng Mười Một 1869 viết xuống: "Để những quy luật này được từng người biết đến [của những thành viên của Hội đồng!] người ta quyết định rằng đọc lên một đoạn vào mỗi phiên họp". Và Hội đồng ngày 8 tháng Mười Hai 1872 thiết định "huấn đức cho những trưởng xưởng và hộ trực về những quy luật dành cho họ". Được giáo dục tại trường của các Sư huynh, Cha Rua nhìn nhận tuân giữ chính xác các quy luật mới bảo đảm tốt nhất cho các thanh thiếu niên hưởng lợi được cả về luân lý lẫn học hành. Phần còn lại Don Bosco trao ban một tầm quan trọng đặc biệt cho chúng và mọi sự tỏ lộ ý muốn của Don Bosco đều là một mệnh lệnh tuyệt đối cho cha Rua.
Tất cả điều này muốn nói ngài thường phải cảm thấy rằng sức nặng của quyền bính là một điều mà cuối cùng làm cho mọi người kính sợ hơn là yêu mến ngài, bất chấp dự thế tử tế của ngài. Những người tốt nhất và có thẩm quyền nhất trong nhà đó, cách riêng là Đức Hồng y tương lai Cagliero lo lắng nhiều về điều này đến độ họ nói cho Don Bosco họ quan tâm ở chỗ nào. Gioan Cagliero đã trình bày hơn kém thế này: "Cha Bosco yêu dấu, xin Chúa giữ cha sống lâu, nhưng chắc chắn một ngày kia cha sẽ lên trời và chuyển giao chiếc áo của cha cho cha Rua. Mọi người đều nói thế và chính cha đã nói nhiều lần. Nhưng không phải mọi người đều đồng ý rằng ngài (cha Rua) sẽ được mọi người tín nhiệm như cha đâu. Đời sống của người giám thị mà ngài sống tại Nguyện xá để giữ kỷ luật, không làm cho nhiều người thích ngài đâu". Don Bosco chấp nhận rằng nhận xét đó thật chí lý. Năm 1872, ngài chỉ định một vị phó Bề trên khác của Nguyện xá là cha Phanxicô Provera và trao tước vị Giám đốc cho cha Rua. Nhưng do kính trọng Don Bosco, vị Giám đốc chân thật của công cuộc, cha Rua (vị sau) đã thay đổi tước vị đó thành Phó Giám đốc.
Vị Phó Giám đốc này có khả năng đảm đương nhiều trách vụ. Có hai trách vụ mới ngài không thể từ chối. Ngài phải giảng lễ sáng Chúa nhật cho các tín hữu và học sinh trong nhà thờ Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu. Điều này được dành cho Don Bosco cho đến lúc đó. Ngài đảm trách bình giải về Kinh Thánh và đã có những ghi nốt sẵn sàng của mình từ những cuốn tập ghi nốt. Những người nghe ngài không quên những dạy dỗ của ngài, luôn luôn rõ ràng và thứ tự. Ngài thêm một suy tư hay lưu tâm thiêng liêng, luân lý hay tôn giáo nào đó vào những trình thuật, như các ghi chú bài giảng của ngài cho thấy. Trách vụ thứ hai bao gồm việc dạy Thánh Kinh cho các tư giáo trong nhà, bắt đầu từ khi khóa học thần học tại Valdocco trở thành khóa học bên trong. Theo cuốn cẩm nang, đề tài dường như khô khan, nhưng từ điều mà các cựu học sinh nói, tài năng nói chuyện tự nhiên và thoải mái của ngài đã làm cho mọi thứ nên đủ rõ ràng và hấp dẫn.
Ngài cũng chịu trách nhiệm để tổ chức tổng quát các khóa thần học. Biên bản của phiên họp Hội đồng ngày 10 tháng Mười Một 1872 cho chúng ta biết về thời khóa biểu hàng tuần. Những khóa thần học tín lý vào sáng thứ hai và thứ sáu (giáo sư: cha Molinari); thần học luân lý các ngày thứ ba, thứ tư và thứ bảy (giáo sư: cha Cagliero). Ban chiều có những bài học về Kinh Thánh vào thứ hai và thứ sáu (giáo sư: cha Rua); giáo sử vào chiều thứ ba và thứ bảy (giáo sư: cha Barberis); đang khi đó vào thứ tư họ học Tân ước (với cha Rua). Vào thứ năm, một ngày nghỉ, chỉ có một lớp về phụng vụ, hay những lễ nghi thánh, vào lúc 10 giờ sáng với cho các sinh viên triết và thần (giáo sư: cha Cibrario). Rồi ngài phải quan tâm đến những việc thụ phong của các tư giáo, như chúng ta biết được từ thư tín ngài viết từ Turin vào thời kỳ đó.
Ngoài mọi điều này, và cha Ceria hỏi, bạn có tin nổi không là cha Rua vẫn tiếp tục đảm nhận việc chuẩn bị những kỳ thi công lập? Phải, đúng là thế. Vào năm 1872 ngài ở giữa những ứng sinh chuẩn bị thi văn bằng để dạy cấp ba. Với con số các trường cao đẳng gia tăng, họ cần những văn bằng được công nhận. Ít nhất cha Rua thấy là một người trong họ. Năm 1866 ngài đã thử, khi ngài qua kỳ thi viết; ngài bị rớt khi thi vấn đáp vì những giáo sư không bằng lòng mấy đối với những sinh viên không dự các khóa học của họ. Lần này, ngày 1 tháng Mười 1872, ngài được văn bằng (diploma) hạng ưu.[135] Hơn nữa, (chúng ta không biết ai giới thiệu điều này), một tài liệu gốc nói cho chúng ta rằng ngày 9 tháng Mười 1873, Micae Rua được giới thiệu vào hội hàn lâm văn chương của Arcadia mang biệt danh 'Tindaro Stinfatico'.[136] Theo cha Lemoyne, Abbot Peyron, một giáo sư nổi tiếng của Turin đã nói rằng nếu ngài có sáu người có năng lực của Rua, ngài có thể mở một đại học.[137]
Một linh mục sốt sắng
Được giải phóng khỏi trách vụ là Phó Bề trên của nhà Valdocco, cha Rua bây giờ có thể dành nhiều giờ hơn cho trách vụ Phó Tổng Bề trên. Ngài đã can dự vào việc tổ chức các trường (cao đẳng) đang trong tiến trình mở ra, và do Don Bosco yêu cầu, ngài đã in và phân phát những chương trình của các trường ấy. Tháng Mười 1872, Don Bosco cũng trao cho ngài trách vụ chỉ định nhân sự cho các trường khác nhau. Đây là một trách vụ tế nhị. "Con hãy làm mọi điều có thể để bảo đảm rằng các việc được thi hành sponte chứ không phải coacte, [tự phát chứ không phải bị ép buộc], ngài viết cho cha Rua trong một lá thư.[138] Rồi ngài cần phải biết rõ những người của mình, đối xử với họ hiền dịu bao có thể, đo lường đúng những khả năng của họ...
Tinh thần của ngài được nuôi dưỡng bằng một lòng sùng mộ sống động vốn làm cho ngài mạnh mẽ và kiên trì hy sinh. Một giai thoại từ 1873 cho thấy rõ điều này. Cha Rua không để mình bị chia trí khỏi kinh nguyện. Một thày dòng từ Lerins, vốn là một người phòng áo (ông từ) năm đó tại nhà thờ Mẹ Phù Hộ, đã để lại cho chúng ta chứng từ chi tiết về điều này. Một ngày kia, một Hoàng tử với nhóm lính của mình tới Nguyện xá. Khi Don Bosco vắng mặt, cha Rua có bổn phận tiếp họ. Đúng lúc đó ngài đang dâng lễ. Vị khách được thông tri như thế và chờ đợi cùng với một người tùy tùng của mình trong phòng thánh. Sau khoảng 20 phút, cha Rua từ bàn thánh đi vào. Người ta bảo ngài vội lên. Nhưng như thể chẳng nghe thấy gì, ngài từ từ cởi áo lễ. Khi ngài quay ra, vị Hoàng tử cất bước đến ngài. Nhưng cha Rua làm một cử chỉ xin đợi một chút và ngài đi tới ghế quỳ của mình. Ngài úp mặt trong bàn tay và đắm chìm trong cầu nguyện khoảng 20 phút. Cuối cùng ngài đứng lên, và với một nụ cười thiên thần, vòng tay giang rộng, ngài tiến tới các vị khách, xin lỗi vì đã không sẵn sàng ngay. Họ thông cảm và rất lịch thiệp về điều ấy. Sau này họ nói họ đã được xây dựng biết bao bởi việc tạ ơn lâu giờ đó của ngài.[139]
Không ai hơn Don Bosco có thể nói cho chúng ta cha Rua đã tiến bộ nhiều như thế nào trên đường trọn lành. Cùng thày dòng đó đến từ Lerin vào tháng Chín 1874 ở tại Lanzo, tham dự cuộc tĩnh tâm Salêdiêng, khi nghe Don Bosco nói: "Nếu cha phải chỉ ra một điểm trên cha Rua mà ở đó có một nhân đức nào đã không tới hoàn thiện, thì cha sẽ không thể làm được bởi vì điểm đó không có".[140]
Đây là năm khi Rôma, sau một cuộc chiến lâu dài và khó khăn, cuối cùng (3 tháng Tư) đã trao ban sắc lệnh phê chuẩn Hiến Luật. Cha Rua đã cầu nguyện biết bao ở Turin để được kết quả này! Don Bosco biết rõ như thế. Ngày 14 tháng Tư, ngài gởi cho cha Rua một ghi chú để đọc công khai lúc huấn từ tối. Ghi chú đó như sau: "Người cha, người anh và người bạn linh hồn của các con hôm nay rời Rôma sau khi đã vắng nhà ba tháng rưỡi, ngày thứ tư sẽ qua đêm tại Florence và hy vọng sáng ngày thứ năm mồng 8 sẽ ở với các con. Không cần lễ lạc, kèn trống và đón tiếp đâu". Thực sự, Nguyện xá đang khóc than cái chết mới đây của cha Phanxicô Provera, người kế vị cha Rua, như là Phó Bề trên (Prefect) của nhà đó.[141]
Chú thích
[127] Bất kỳ ai muốn thấy một thí dụ được nhân vị hóa có thể đọc tường trình của cha Giuse Vespignani, Un anno alla scuola del B. Don Bosco, San Benigno Canavese, Scuola Tipografica Don Bosco, 1930 (Auffray đã dịch một mảng của nó trong sách của ngài, 134-137).
[128] Ở đây tôi rút trực tiếp từ Ceria, Vita, 73-84, với sự liều lĩnh là đơn giản hóa nếu không đối nghịch những đính kèm, vì tôi cũng dùng biên bản của Hội đồng nhà.
[129] P. Braido, "Don Michele Rua...", 355.
[130] Theo P. Braido, "Don Michele Rua...", 355-356.
[131] Lá thư của Don Bosco gởi cho M. Rua, 31 tháng Giêng năm 1869, trong Epistolario III, 46.
[132] Chúng tôi gợi nhắc rằng những quyết nghị của Hội đồng, được chính cha Rua viết xuống, được tìm thấy trong FdR 2916D1-2919E9.
[133] Biên bản trong FdR 2917C1-3.
[134] Biên bản trong FdR 291B12.
[135] Chứng chỉ trong FdR 2665B5.
[136] Tài liệu trong FdR 2774A7.
[137] MB VIII, 252.
[138] Thư của G. Bosco gởi tới M. Rua, Peveragno, 16 tháng Mười năm 1872, in Epistolario III, 475-477.
[139] Thư gởi cho Don Albera, Lérins, tháng Mười năm 1914, in FdR 2835D3-6; cf. Ceria, Vita, 83.
[140] Cùng một lá thư; cf. Ceria. Vita, 84.
[141] Thư của G. Bosco gởi cho M. Rua, Rome, 14 tháng Tư năm 1874, trong Epistolario IV, 277-278.