7. Người đào luyện các Salêdiêng trẻ
Vấn đề đào luyện các tư giáo tại Nguyện xá ở Turin
Cha Rua, Phó Tổng Bề trên của Tu hội Salêdiêng, thấy mình trực tiếp can dự vào vấn đề đào luyện các tư giáo trẻ tại Nguyện xá. Chúng ta cần định vị những hoạt động của ngài khi Tu hội Salêdiêng non trẻ tiến bước nhọc nhằn qua thập niên 1870. Cách riêng bởi vì, vị Phó Tổng Bề trên là người Don Bosco tín cẩn đầu tiên, vì thế là vị cố vấn tự nhiên của ngài, mặc dù Don Bosco vẫn có mặt trong những năm đó. Ngài tăng trưởng nhờ tiếp xúc thường xuyên với Don Bosco vốn không 'tán tỉnh' khi việc đào luyện con cái mình và tinh thần của lối tiếp cận giáo dục của mình lâm nguy.
Từ năm 1864 Don Bosco, thâm tín rằng Đức Piô IX nâng đỡ dự phóng của mình, đã nỗ lực để bảo đảm rằng Tu hội Salêdiêng có thể đi từ việc là một Tu hội thuộc quyền địa phận chuyển sang một Tu hội thuộc quyền giáo hoàng. Điều đó cho phép ngài, hay ngài nghĩ như thế, không còn lệ thuộc vào các giám mục để tiếp nhận các tư giáo của mình vào các chức thánh nữa. Ngài sẽ hoàn toàn tự do phán quyết về sự thích hợp của họ. Vì vậy ngài đệ trình bản văn Regole (Hiến Luật) cho Tòa Thánh, với hy vọng được phê chuẩn như ngài yêu cầu. Nhưng ngài lầm to. Năm đó ngài chỉ nhận được bước đầu tiên trong tiến trình nhìn nhận tu hội của ngài, sắc lệnh ca ngợi, decretum laudis, đề ngày 23 tháng Bẩy. Một loạt gồm 13 nhận xét về bản văn Hiến Luật, được Bộ Giám mục và các Dòng tu trình bày rõ ràng, một cách nào đó đã làm ngài cụt hứng.[110] Không chỉ như vậy. Như ngài đã báo hiệu cho Thánh Bộ Rôma, trong cụ thể, ngài đã có thể liều trao cho Tu hội dáng vẻ của một dòng tu truyền thống, với tất cả những vấn đề mang theo với nó. Ngoài ra, một trong những nhận xét rõ ràng ngược với việc ban những năng quyền đầy đủ cho riêng Bề Trên Tổng quyền đối với việc tiếp nhận vào chức thánh: "Bề Trên Tổng Quyền không được phép ban hành những lá thư chứng nhận (dimissorial letter) để các phần tử của Hội Đạo Đức đó được tiếp nhận vào chức thánh; vậy điều này phải được lấy đi khỏi Hiến Luật." Điều này triệt để ngược lại những kế hoạch của ngài. Vì vậy ngài ngoan cường chống lại nó.[111]
Tháng Năm 1867, cuối cùng sau 18 năm của địa phận "bị bỏ góa", vì cuộc lưu đầy (1850) và rồi cái chết của Tổng Giám mục Fransoni, một Tổng Giám mục mới long trọng bước vào Turin. Ngài là Tổng Giám mục Alexander Riccardi di Netro, được chuyển từ hiệu tòa Savona tới Turin. Ngài mạnh mẽ ra sức bảo vệ những quyền lợi và bổn phận thuộc tác vụ của mình. Suốt ba năm là Tổng Giám mục, ngài đã làm cho đời sống nên khó khăn đối với Don Bosco, cách riêng về việc đào luyện các tư giáo.[112]
Suốt những năm ở Turin việc đào luyện các tư giáo hơn kém đã lướt qua những quy luật thông thường. Nhiều chủng sinh đã cư trú với Don Bosco; về thái độ của đời sống và học hành giáo sĩ của họ, ngài đã có một khóe nhìn ít tính chất Xuân bích hơn. Ngài dùng đến vài linh mục quanh thành phố để dạy họ, và đôi khi (đối với thần học luân lý) chính ngài cung cấp nó. Khi học hành, các tư giáo này vẫn cống hiến những việc phục vụ khác nhau trong việc giáo dục và dạy dỗ các thiếu niên. Don Bosco nói cho giám đốc chủng viện, Alexander Vogliotti tháng Sáu, 1866: "Tôi có khoảng 50 người." Và rồi, ngài thêm một cách chân thật: "Đời sống của họ đầy ngập với việc hộ trực, huấn giáo và dạy dỗ các trẻ nghèo, nhất là những ai chăm sóc các em tham dự Nguyện xá trong thành phố này."[113] Suốt những ngày hè năm 1866, điều này tiến hành có lợi cho ngài đến nỗi những vị thẩm quyền địa phận, nghĩa là vị Tổng Đại diện và giám đốc chủng viện, chỉ hạn chế hỏi rằng những tư giáo ở lại với ngài có tham dự những khóa học tại Chủng viện không. Nay một vài người đã sống tại Lanzo. Nhưng Don Bosco thấy rằng có một ban giảng dạy cho mọi người tại chính Valdocco. Không phải là không có lý do, hội đồng địa phận cho rằng rằng điều này đang đi quá xa.
Tuy nhiên, Don Bosco theo đuổi những mục tiêu của mình. Ở Rôma vào tháng Giêng 1867, có một chuyển động nào đó liên quan đến việc phê chuẩn Tu hội, giai đoạn cốt yếu thứ hai để Hiến luật của ngài được hưởng quyền giáo hoàng. Ngài cần các giám mục miền Piedmont hỗ trợ và giới thiệu điều này, bắt đầu với Turin. Vì những lý do ta dễ tưởng tượng, hội đồng giáo phận Turin lập tức đưa ra những chống đối. Ngày 8 tháng Tư, khi Tổng Giám mục Ricardi bắt đầu những cuộc tiếp xúc với địa phận mới, ngài bắt đầu làm cho cuộc sống nên khó khăn với Don Bosco. Đức Tổng sẽ không phê chuẩn giáo sĩ học hành vội vã, trong một trường mà bao gồm các xưởng thợ và một Nguyện xá. Đức Tổng coi việc đào luyện kiểu này thì không thích hợp; điều này trở thành một vấn đề từ lúc ngài chịu trách nhiệm phong chức các tư giáo của Don Bosco. Một tháng trước khi bắt đầu niên học, 1867-1868, ngài viết cho Don Bosco một lá thư nói dứt khoát về các sự việc: trong tương lai ngài sẽ chỉ phong chức các sinh viên của chủng viện thuộc địa phận thôi, vì thế bề trên của Nguyện xá Valdocco sẽ phải hành động sao cho phù hợp. Don Bosco tức khắc bắt đầu giải quyết vấn đề, và cố gắng đối thoại; tuy nhiên, ngài phải nhận rằng Tổng Giám mục sẽ không khuất phục. Một lần nữa Don Bosco quay sang Rôma, nhưng phương thức này làm Tổng Giám mục Riccardi khó chịu.
Để những lý lẽ của mình được những người có địa vị cao sang lắng nghe, Tổng Giám mục dùng cùng những phương thức mà Don Bosco đã dùng với các Giám mục để được những lá thư giới thiệu Tu hội Salêdiêng. Sau khi cho Don Bosco thư giới thiệu, ngày 14 tháng Ba, 1868, ngài cũng gởi một lá thư chua cay đặc biệt tới vị Hồng y Chủ Tịch Thánh Bộ các Giám mục và Dòng Tu. Ngài biết Don Bosco được hỗ trợ từ Đức Pio IX và Ngoại Trưởng (Quốc vụ Khanh, Secretary of State) Antonelli. Bất chấp điều này, ngài thấy có bổn phận diễn tả quan điểm của chính mình: "Thật sự, nếu con không được thuyết phục rằng Thánh Bộ cốt yếu sẽ thay đổi Hiến Luật đã được trình bày, con sẽ chẳng hề thâm tín để lấy bước này, cho dù việc con phản đối chỉ mang đến cho con những khó khăn đáng kể, vì con tin mình sẽ bội phản bổn phận là một Giám mục nếu con bảo trợ một Tu hội mà sẽ được phê chuẩn như được đề xướng; điều đó không có thể làm gì khác hơn là làm hại Giáo hội, địa phận và giáo sĩ... Trường Turin đó quả là mớ lộn xộn, gồm công nhân, học sinh, giáo dân, tư giáo và linh mục, tất cả 'hằm bà lằng'. Bằng cách trải rộng phạm vị hoạt động, nó sẽ còn tệ hơn nữa." Ba tháng sau đó, Giám mục Lorenzo Renaldi, của Pinerolo, chọn một khóe nhìn tương tự trong một lá thư cho Thánh Bộ các Giám mục và Dòng Tu.
Rất lúng túng, ủy ban của Rôma bắt đầu thẩm tra những chủng sinh của Don Bosco, vì được mời cho biết khóe nhìn của mình về Hiến Luật của Tu hội Thánh Phanxicô Salê. Những kết luận của Đức Ông Gaetano Tortone, đại diện cho Tòa Thánh ở Turin, thì không có lợi. Ông nghiêm khắc phê bình việc học của các tư giáo thật tồi tàn, thiếu tinh thần giáo sĩ và việc đào luyện của họ không thích hợp giữa các trẻ Nguyện xá. Vài tháng sau, khi được hỏi, vị linh mục nhà báo, cha Giacobê Margotti, một nhân vật có ảnh hưởng trong thế giới giáo sĩ miền Piedmont đã tra hỏi tinh thần độc lập của Don Bosco về đào luyện các tư giáo của ngài.[114]
Đối diện với một liên minh kiểu này, Don Bosco, ít có khuynh hướng nhượng bộ những biện pháp mà ngài coi là đàn áp, bắt đầu tìm nhiều đồng minh hơn ở Rôma. Ngày 9 tháng Chín, 1868, khi vẫn còn hạnh phúc vì những lễ hội kính Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu, ngài nói với Hồng y Philip de Angelis về những vấn đề của mình với Tổng Giám mục Riccardi di Netro, người đã tuyên bố rằng ngài chỉ phong chức những tư giáo đã qua chủng viện. Ngài phản đối điều đó: "...Nếu con gởi các tư giáo của con tới chủng viện đó, thì tinh thần kỷ luật của Tu hội sẽ kết thúc ở đâu? Con sẽ tìm ở đâu hơn một trăm giáo lý viên cho nhiều lớp học của trẻ đây? Và sau khi trải qua năm năm trong chủng viện, ai sẽ muốn trở lại và đóng mình trong Nguyện xá?"[115] Những sắp đặt của Đấng Bản Quyền tại Turin dường như đe dọa sự chiêu mộ nhân sự, việc đào luyện, sự kiên trì của họ cũng như việc vận hành bất kỳ sáng kiến giáo dục nào khác.
Đức Tổng dường như đã thắng. Phiếu về Hiến Luật do Angelo Savivi, dòng Carmelite, Cố vấn của Thánh Bộ các Giám mục và Dòng Tu, chống lại Don Bosco.[116] Những vị thẩm quyền của Rôma hỗ trợ Tổng Giám mục. Ngày 2 tháng Mười, thư ký Thánh Bộ các Giám mục và Dòng tu, thông tri cho Don Bosco về phiếu chống lại lời yêu cầu xin phê chuẩn Tu hội Thánh Phanxicô Salê, đưa ra ba lý do: "Tôi xin lỗi phải thông tin cho cha rằng nay Hiến Luật cho Viện tu của cha không thể được phê chuẩn, bởi vì chúng cần phải được thay đổi cách cốt yếu trong hai khoản chính của nó. Khoản thứ nhất liên quan đến những lá thư tiến chức cho các tư giáo được Don Bosco tiến cử lãnh nhận các chức nhỏ hay chức thánh. Điều thứ hai về việc học hành của cùng những tư giáo đó vì Tổng Giám mục đòi hỏi rằng học hành phải được thực hiện trong những trường thuộc chủng viện của địa phận."[117]
Những sự việc đã rõ. Don Bosco muốn hai điều vốn không thể tương hợp: Sự phê chuẩn của Rôma về Tu hội và giữ lấy hệ thống đạo tạo giáo sĩ của mình. Chướng ngại đó dường như không thể vượt qua.
Nhưng ngài khôn khéo lèo lái đến kết thúc thành công. Ngài đạt được một số những sự tiến cử và né tránh những chướng ngại do chính ngài nại tới thẩm quyền cao hơn một cách hệ thống. Ngày 15 tháng Giêng, 1869, ngài đi Rôma quyết định đẩy sự việc đi tới. Ngài quyết định ở đó một tháng rưỡi, bám lấy những người có trách nhiệm. Khoảng ngày 19 Đức Giáo Hoàng đã tiếp đón ngài trong cuộc triều yết. Đây chính là giai đoạn sơ khởi của cuộc tấn công. Đoạn ngài bắt đầu giải thích phương pháp đào tạo những tu sĩ trẻ của mình cho những vị có thẩm quyền: chấp nhận, những năm thử thách, phong thái đào luyện những tu sinh (đệ tử), (Don Bosco không nhắc đến từ ngữ tập viện), học hành, đào luyện tông đồ thực tiễn. Ngài nói trong diễn từ của mình cho các Salêdiêng ngày 17 tháng Ba sau đó: "Đức Thánh Cha tán thành sự phê chuẩn, nhưng ngài không thể quyết định một mình". Trong một lần triều yết mới ngày 23 tháng Giêng, ngài chỉ nhận xét rằng những lá thư tiến chức của các Giám mục không cốt yếu cho những người trẻ gia nhập Nguyện xá trước khi họ tới 14 tuổi. Tuy nhiên, suốt những tuần đó các sự việc đã lặng lẽ tiến tới. Vào tháng Hai, Don Bosco đã có hai cuộc gặp gỡ lâu giờ với Đức Giáo Hoàng. Suốt lần gặp gỡ thứ hai, ngài học biết rằng Thánh Bộ các Giám mục và Dòng tu cuối cùng đã phê chuẩn Tu hội Thánh Phanxicô Salê. Sắc lệnh phê chuẩn đề ngày 1 tháng Ba, 1869. Nó ban cho bề trên năng quyền, suốt 10 năm, phát hành những lá thư tiến chức cho những người trẻ đã gia nhập Nguyện xá trước khi đủ 14 tuổi.[118] Don Bosco biết rằng cuối cùng ngài đã hoàn thành giai đoạn hai. Bốn ngày sau sắc lệnh, ngài về Turin với sự chắc chắn chiến thắng.
Tuy nhiên, chẳng bao lâu ngài hiểu rằng Hiến Luật đã không được hoàn toàn phê chuẩn và điều đó không đủ để trình bày những lá thư tiến chức cho một Giám mục để xin phong chức một tư giáo.
Cha Rua là Tập sư không có tước vị
Được kiện cường bởi sự nhìn nhận từ Rôma, Don Bosco muốn cẩn thận theo dõi bước tiến của Tu hội. Ngày 15 tháng Tám, 1869, ngài viết một luân thư quan trọng cho các Giám đốc các nhà về bổn phận của họ đối với các hội viên: Hai huấn đức một tháng, bàn thảo (Rendiconto) hàng tháng là bó buộc cho mọi người.[119] Thống kê thường nói trong năm 1869 có 62 người tuyên khấn và 31 ascritti (tập sinh), được phân vào bốn công cuộc Salêdiêng. Năm đó, cha Rua được trao phó trách nhiệm trực tiếp để đào luyện những ascritti này; do vậy ngài trở thành tập sư mà không có tước vị, để tránh Tu hội tỏ ra là một Tu hội truyền thống. Nói thật, trách nhiệm của ngài trải rộng tới những giai đoạn của thời kỳ thử luyện (từ ngữ Don Bosco dùng) đối với các ứng sinh vào đời sống Salêdiêng, từ thỉnh sinh đến thụ phong linh mục. Chẳng khác nhau mấy, sự phân biệt giữa những giai đoạn này khá lỏng lẻo tại Valdocco.
Năm năm sau, khi vai trò của cha Rua chuyển qua cho cha Giulio Barberis, trong một tài liệu được chuẩn bị gởi cho những vị thẩm quyền ở Rôma, Don Bosco minh định phương pháp đào luyện, khi sử dụng phong thái hỏi-thưa ngài ưa thích.[120] Bản văn của ngài đại khái phản ánh vai trò đã được trao cho cha Rua trong những năm trước: chọn các ứng sinh, chỉnh đốn đời tu qua những hoạt động biệt loại, việc dạy dỗ thiêng liêng cho họ, đào luyện thực tiễn cho đời sống tương lai của họ.
Theo Don Bosco, "tập viện" nếu chúng ta muốn gọi như thế, không phải là một cái tuyệt đối: "Chúng ta có tập viện, nhưng lập pháp công cộng, những nơi chúng ta sống, không cho phép chúng ta lập một nhà tách biệt dùng riêng cho mục đích này. Tập viện, mà chúng ta gọi là một thời kỳ thử, được làm theo kiểu gián đoạn tại nhà chính ở Turin." Tập viện này không thể là một loại đan viện. Don Bosco viết: "Khi tiếp nhận các thành viên, chúng ta đặc biệt nhìn đến những nhân đức của họ, vì Tu hội chúng ta không được dành để tiếp nhận những người cải hồi (converts) vốn tìm kiếm cầu nguyện, đền tội, và xa lánh thế giới; nhưng chúng ta chấp nhận những cá nhân có những thói quen tốt dựa trên nhân đức và đạo giáo, những người muốn hiến mình cho sự thiện hảo của giới trẻ, cách riêng những em nghèo và gặp nguy hiểm. Chính vì thế, cho đến nay chúng ta chỉ chấp nhận những người trẻ mà chúng ta đã biết một thời gian dài; họ đã sống gương mẫu trong các nhà chúng ta theo tất cả những bản tường trình."[121]
Những người trẻ này được đào luyện khi hoạt động, kể cả trong "tập viện" nữa. Don Bosco muốn các sự việc theo lối này, vì thế năm 1874, ngài giải thích cho những người trao đổi thư tín ở Rôma: "Suốt thời gian này các tập sinh cũng bận rộn dạy giáo lý bất kỳ lúc nào cần đến, đang khi hộ trực các em trong cơ sở này, và đôi khi thậm chí dạy các lớp ban ngày hay ban tối, chuẩn bị những em dốt nát chịu phép Thêm Sức, rước lễ, hay giúp lễ hoặc những gì tương tự. Đây là phần quan trọng nhất của thời kỳ thử luyện. Bất cứ ai không có thái độ ngay chính cho loại công việc này sẽ không được nhận vào Tu hội."
Chắc chắn đây là chương trình với những hạn từ lý tưởng. Nhưng thực tế nó xảy ra làm sao và đâu là những kết quả của nó? Sự thường xuyên hằng ngày của cha Rua và các ascritti là như thế nào giữa năm 1869 và 1874? Chúng ta nói rằng tập viện như thế không hiện hữu. Đàng khác cũng chẳng có bất kỳ Tu hội chính thức nào tại Valdocco. Đơn giản, đó là trường hợp thỉnh thoảng một ai quyết định ở lại với Don Bosco. Và khi một người trẻ thổ lộ những ý định của mình cho Don Bosco, thì ngài gởi em đó đến với cha Rua.
Chắc chắn Don Bosco có những ý tưởng mới khi ngài quy chiếu tới những thực hành đạo đức đặc biệt cho "các tập sinh của ngài" trong những ghi chú của mình. Ngài viết: "Mỗi sáng, đọc kinh, nguyện ngắm, một khắc lần hạt, hiệp lễ một tuần vài lần. Trong ngày họ có đọc sách thiêng, viếng Thánh Thể và đọc đề tài tu đức, xét mình và hiệp lễ thiêng liêng. Mỗi tối trong năm đó, vào thời gian thiết định, họ quy tụ lại trong nhà thờ, hát một bài thánh ca, rồi đọc đời sống của vị thánh trong ngày; sau khi hát kinh cầu, họ lãnh phép lành của Bí tích cực trọng."[122] Thực tế, ở Turin những thực hành đạo đức này dành cho tất cả các học sinh.
Thông thường mỗi thứ Năm cha Rua có huấn đức thiêng liêng cho 'ascritti' như lá thư của Don Bosco bảo đảm: "Mỗi tuần, vị thầy của những người trong thời kỳ thử luyện này, cho họ một huấn đức mang tính đạo đức về những nhân đức được thực hành và những khuyết điểm phải tránh, thông thường hơn không đặt nền nó trên một khoản Hiến Luật nào đó."[123]
Trong những biên bản của phiên họp mà Rua chủ tọa ngày 8 tháng Mười Một, 1867, chúng ta thấy được viết: "Sẽ cho điểm đối với việc viết đơn và hạnh kiểm của những tư giáo cũng như cho những học sinh khác". Thực vậy, bắt đầu từ đó, có những phiên họp thông thường hàng tháng để cho điểm những tư giáo như chúng ta đã thấy từ biên bản được cha Rua viết lại. Chúng ta không có những sổ bộ (registers) chứa đựng những điểm hay những nhận xét này. Tuy nhiên, phần của một đoạn trong "Sổ bộ về hạnh kiểm của những tư giáo và sư huynh" trong "những quy luật [do cha Rua] để giữ những Sổ bộ" trong các nhà Salêdiêng nói về mục đích của những phán đoán này. Phải lượng giá các ứng sinh có chuyên cần và đạo đức không. "Bằng sự chuyên cần chúng tôi muốn nói việc tuân giữ những luật chung của nhà và chu toàn những bổn phận riêng của họ; còn lòng đạo đức chúng tôi muốn nói đến hạnh kiểm đạo đức, lãnh nhận các bí tích, tham dự trách nhiệm thánh thiêng, thái độ trong nhà thờ, v.v.". Ở những kỳ họp thuộc loại này, Hội nghị cảm thấy cần phải gia tăng sự hộ trực của các tư giáo trong nhà thờ, nhà ngủ, nhà hội và những chỗ khác![124] Vị "thầy" của những người thử luyện (probandi) nói chuyện với mỗi người trong họ, thông thường một hoặc hai lần một tháng. Các người thử luyện, probandi của Nguyện xá được theo dõi tốt từ đó.
Augustinô Auffray kết luận một chút lúng túng nhưng luôn luôn hiền từ: "Họ trở thành tập sinh mà không biết điều đó... Tập viện Salêdiêng trình bày một khía cạnh kỳ lạ nào đó trong những năm ấy. Những điều cốt yếu có đó: độ dài và thử thách; và không có gì khác."[125] Có lẽ. Nhưng Tổng Giám mục Gastaldi đã không có cùng khóe nhìn ấy khi được chọn làm Tổng Giám mục Turin năm 1871. Trong những lá thư chính thức ngài gởi cho Thánh Bộ các Giám mục và Dòng Tu, ngài nhấn mạnh rằng tập viện của Don Bosco lấy những tu sĩ dòng Tên như một khuôn mẫu. Đó thậm chí cũng không phải là khóe nhìn của những người duyệt lại Hiến Luật Salêdiêng; trong năm 1873-1874 họ buộc Don Bosco phải nháp lại một chương quyết định: "Tập sư và sự điều hành của họ", một bản văn mà đấng sáng lập đặc biệt ngần ngại để viết và ngài vội vàng thay đổi bản tiếng Ý năm 1875, bản độc nhất lúc đó được trao cho mỗi hội viên; so với ấn bản Latinh, về việc hoạt động của tập viện, nó ít hơn 10 khoản. Đối với Don Bosco, thời kỳ thử luyện này tương tự với thời kỳ "tu sinh", một thời gian cho hoạt động và việc tông đồ. Hiến luật cần công bố điều này cách rõ ràng, hay ít nhất, không dấu sự kiện đó.
Nói chung, những kết quả của loại đào luyện này thì tốt. Don Bosco tin ngài có bổn phận phải nói điều này năm 1874. "Những kết quả luân lý cho tới nay rất mãn nguyện. Những người qua những thử thách này trở nên những phần tử tốt lành, thích công việc của mình, chán ghét lười biếng, và những trách vụ của họ trở thành những trách vụ thiết yếu đối với họ, và họ sẵn sàng thích hợp với bất kỳ cơ hội nào mà có thể làm cho Thiên Chúa được vinh quang hơn nữa. Còn những người mà thiếu một thái độ cho loại đời sống này đã rời bỏ, tự do theo ơn gọi của họ theo những cách khác".[126]
Nói chung, tuy thiếu một nhà tập có tính tu đức truyền thống, việc đào luyện những hội viên trẻ dưới sự hướng dẫn của cha Rua như tập sư không tước vị, được bảo đảm. Lịch sử Salêdiêng tiếp theo sau minh chứng điều này. Tuy nhiên sau này trở đi, những bất trật tự nghiêm trọng về luân lý giữa những phần tử của những cuộc truyền giáo sơ khai tới Mỹ châu - đặc biệt giữa các sư huynh - dẫn tới suy nghĩ về một lối tiếp cận tập trung vào hoạt động hơn tu đức.[127]
Chú thích
[110] Bạn có thể đọc Animadversiones của Stanislaus Svegliati trong G. Bosco, Costituzioni della Società..., 231 [tài liệu 6].
[111] Theo Supra animadversiones in Constitutiones sociorum sub titulo S. Francisci Salesii in dioecesi Taurinensi, trong G. Bosco, Costituzioni della Società..., 237 [tài liệu 7].
[112] Về Don Bosco vào thời của Tổng Giám mục Riccardi di Netro, cf. Don Bosco en son temps, 734-735, những trích dẫn đến từ đó.
[113] Thư của G. Bosco gởi A. Vogliotti, Torino, 26 tháng Sáu năm 1866, trong Epistolario II, 264.
[114] Về sự phê chuẩn của Rôma, cf. Don Bosco en son temps, 736-740, bản văn và ghi chú.
[115] Thư của G. Bosco gởi cho F. De Angelis, Turin, 9 tháng Giêng năm 1868, trong Epistolario Ceria I, 572-573 (lá thư này không xuất hiện với ngày đó trong Epistolario Motto).
[116] Phiếu, votum, của Savini đã được sao lại trong MB IX, 376-378.
[117] Thư của S. Svegliati gởi cho G. Bosco, Rome, 2 tháng Mười năm 1868, MB IX, 378-379.
[118] Bản văn được xuất bản trong MB IX, 558-561.
[119] Epistolario III, 124-127.
[120] Xem cuốn sách nhỏ 20 trang Cenno istorico sulla Congregazione di S. Francesco di Sales e relativi schiarimenti, Rome. Tipografia Poliglotta di Propaganda, 1874 (được sao chép lại một phần trong MB IX, 507-510).
[121] Cenno istorico, 10-11.
[122] Cenno istorico, 11-12.
[123] Cenno istorico, 12.
[124] P. Braido, «Don Michele Rua primo autodidatta 'Visitatore' Salesiano», RSS 9 (1990) 143. Các tư giáo cần được hộ trực trong nhà thờ, nhà ngủ, phòng học và các nơi khác, theo điều cha Rua nói vào cuối thời kỳ lượng giá cho các tư giáo ngày 14 và 21 tháng Hai năm 1869 (FdR 2916E5).
[125] Auffray, 131-132.
[126] Cenno istorico, 13.