FMA Logo

14. Cha Rua làm Bề Trên Cả



Kế vị Don Bosco[230]

Trong lá thư luân lưu ngày 31 tháng Giêng, cha Rua đã viết khi quy chiếu đến Don Bosco: "Nay với trách nhiệm đại diện ngài, cha sẽ cố gắng hết sức để đáp ứng những kỳ vọng của anh em." Tại sao ngài không nói là 'thay thế' Don Bosco? Chính giữa những người Salêdiêng, âm điệu ấy bị lãng quên, tới mức độ rằng ta hoàn toàn chấp nhận đã rồi là cha Rua kế vị Don Bosco. Nhưng ở đây chính cha Rua lại chỉ coi mình không gì khác hơn là người đại diện của ngài. Ngài không biết đến bất kỳ sắc lệnh chính thức nào chỉ định ngài là vị Tổng đại diện với quyền kế vị. Don Bosco đã không bao giờ quy chiếu, bằng miệng hay văn bản, tới bất kỳ một sắc lệnh như thế. Chỉ có những lá thư từ Tổng Giám mục Alimonda trước hiệu quả đó thôi. Dù sao chăng nữa, trong suy nghĩ của mình, một sự sắp xếp như thế không hề loại bỏ tính khả thể là một cuộc bầu phiếu thông thường bởi một Tổng Tu Nghị; vì thế ngài hỏi Đức Tổng Giám mục Alimonda về điều ấy. Dù Đức Tổng Giám mục hoàn toàn chắc chắn về kết quả đó, ngài khuyên cha Rua tiếp xúc với Rôma. Vậy, ngày 8 tháng Hai, ngài viết cho Đức Lêô XIII miêu tả tình trạng như ngài nhìn thấy: "Đức Thánh Cha kính mến, biết mình yếu đuối và không có khả năng, con thấy mình buộc phải khiêm nhường xin Đức Thánh Cha cho con suy nghĩ khôn ngoan về vấn đề này, và cho người ký tên dưới đây miễn khỏi trách nhiệm khó khăn của Bề Trên Cả. Tuy nhiên, con bảo đảm với Đức Thánh Cha rằng, với ơn Chúa giúp, con sẽ tiếp tục hết lòng đóng góp phần khiêm tốn của mình vì thiện ích của Tu hội chúng con, bất kể xảy ra điều gì."[231] Đang khi đó, các thành viên của Tu nghị Bề trên lại nhìn khác. Ngày hôm sau, các ngài cùng gởi một lá thư cho Hồng Y Parocchi, bảo trợ của Tu hội, đưa ra những lý lẽ mạnh mẽ để xác quyết cha Rua trong vai trò Bề Trên Cả. Họ bảo đảm với ngài rằng toàn Tu hội không chỉ khiêm tốn vâng phục mà thôi: họ thấy đó là một lý do cho niềm vui lớn lao, chân thành. Vì vậy, họ xin ngài cho Đức Thánh Cha biết điều này.[232]

Lá thư này giúp dẹp yên những đồn đoán từ những người ở Rôma; họ tiên đoán toàn sự nghiệp của Don Bosco không thể tránh khỏi sụp đổ. Một số vị trong giáo triều nghĩ rằng các người Salêdiêng không có người có khả năng để cứu Tu hội: giải đáp độc nhất sẽ là giải thể nó và sát nhập các thành viên vào một Tu hội có những mục đích tương tự. Những quan tâm này đã đến tai Đức Lêô XIII; chúng đủ mạnh để thậm chí ngài xét đến bước triệt để như thế. Đức Lêô XIII không biết cha Rua mấy, chỉ gặp ngài một lần vào tháng Năm 1887. Dáng vẻ khiêm tốn và chân thật của ngài che dấu những phẩm tính tri thức cần thiết nơi một người kế vị Don Bosco. Đúng là do Chúa quan phòng. Giám mục Emilian Manacorda, Giám mục Fossano, rất ấn tượng bởi Don Bosco và công cuộc của ngài, lúc đó đang ở Rôma. Ngài hoàn toàn quen thuộc với giáo triều Rôma, vì chính ở đó mà ngài bắt đầu sự nghiệp. Ngay khi nghe phong phanh nguy hiểm trên, ngài nhảy vào để xua tan những hoài nghi và sợ hãi đó, bảo đảm với các ngài rằng giữa những người Salêdiêng không thiếu những người có khả năng. Các ngài có thể hoàn toàn tin tưởng vào tương lai của Tu hội ấy. Lá thư từ Tu nghị Bề trên tới vào giữa những điều này; nó được đọc với sự quan tâm, càng hơn nữa vì Giám mục Gioan Cagliero ký đầu tiên. Hồng y Parocchi không mất giờ khi nói chuyện với Đức Giáo Hoàng. Trở về từ cuộc triều yết đó, ngài viết ngay cho Cagliero, báo cho ngài tin vui: "Sung sướng vì Đức Thánh Cha đã chuẩn nhận lời khẩn xin chính đáng được Đức Giám mục và các hội viên xứng đáng của ngài trình bày, tôi không thể chần chừ chuyển đạt cho Đức Cha tin vui này. Chúc tụng Chúa Giêsu Kitô!" Ngay lập tức vị Hồng y gởi cho ngài sắc lệnh chỉ định cha Rua làm Bề Trên Cả 12 năm, bắt đầu từ 11 tháng Hai 1888. Sắc lệnh chỉ có một chút dè dặt: thủ tục này chỉ có giá trị cho lần này thôi, và không thể tạo thành một tiền lệ.[233] Khi văn kiện này phơi ra ánh sáng, như chính cha Rua có thể xác quyết, rằng đã có một sắc lệnh trước, đề ngày 27 tháng Mười Một 1884, vào lúc đó, về việc chỉ định ngài là Tổng Đại diện. Cái gì xảy ra ở đó? Vẫn còn là một mầu nhiệm.

Triều yết Đức Lêô XIII

Tháng Hai, tuần thứ hai, cha Rua lại xuất hiện ở Rôma. Như một cựu học sinh của trường các sư huynh Lasan, ngài ở đó vì việc phong chân phước thánh Gioan Tẩy Giả de la Salle, và có dịp để thăm viếng Đức Lêô XIII. Ngài quan tâm hàng đầu là khởi sự vụ việc xin phong thánh Don Bosco. Danh tiếng về sự thánh thiện đã theo Don Bosco lúc sinh tiền, đã trở thành một vấn đề của việc dân chúng ca ngợi khi ngài đau yếu và sau khi chết. Trong khoảng 24 giờ của việc chôn táng ngài tại Valsalice, cha Rua, đã hết lòng tin vào sự thánh thiện của ngài, bắt đầu làm việc. Ngài triệu tập Tu Nghị Bề trên để khảo sát những triển vọng cổ xúy vụ việc ấy trong một tương lai gần. Rồi, tại Rôma, giữa những thành viên của giáo triều ngài gặp, là vị cổ xúy đức tin, Giám mục Caprara, người có thể nói cho ngài cách thức tiến hành không chút chậm trễ với vụ việc của Don Bosco. Ngài học biết rằng ngài phải bắt đầu bằng cách thâu họp tất cả tài liệu sẵn sàng minh chứng những phép lạ và đặc ân đạt được nhờ Don Bosco chuyển cầu. Ngài ký thác việc này cho cha Bonetti.[234] Ngày 28 tháng Hai vào một phiên họp của Tu Nghị Bề trên, cha Bonetti được yêu cầu soạn thảo một khổ thích hợp để ghi tất cả những sự kiện và nhân đức thích đáng của Don Bosco, và để khởi sự việc tra vấn những chứng nhân trực tiếp.[235]

Đức Giáo Hoàng tiếp đón cha Rua trong một cuộc triều yết riêng sáng ngày 21 tháng Hai; một trình thuật dài về cuộc đối thoại ấy được gởi tới tất cả các Salêdiêng ngày 19 tháng Ba cùng với một thư luân lưu. Điểm lớn đầu tiên mà Đức Giáo Hoàng đề cập là cần phải điều hòa sự bành trướng của Tu hội, để tránh lặp lại kinh nghiệm buồn thảm của một số tu hội khác vốn thiết lập những trung tâm với hai ba nhân sự và sau đó chịu khổ là phải rút lui. Theo sau một loạt những bài học từ Đức Giáo Hoàng là đào luyện tu đức phải được dành cho tập sinh. Cha Rua phải cảnh giác, quan tâm để bảo đảm rằng chỉ giữ lại những người có nhân đức được tôi luyện mà thôi. Vì vậy ngài phải có những tập viện với một chế độ nghiêm nhặt. "Salêdiêng các con đang nhấn mạnh loại tập viện nào?" "Và nếu như thế, nó kéo dài bao lâu?" Đức Giáo hoàng, vốn đã phải biết rõ những 'phóng khoáng' mà Don Bosco đã lấy trong lãnh vực này. Cha Rua trả lời: "Vâng, thưa Đức Thánh Cha, đối với các ứng sinh cho tư cách linh mục tập viện của chúng con kéo dài một năm, và cho ứng sinh sư huynh, chúng con dành hai năm."

Đức Giáo Hoàng trả lời: "Tốt rồi. Nhưng con hãy khuyên những người đang đảm trách tập viện phải bảo đảm rằng các tập sinh kinh qua một sự thay đổi triệt để. Họ gia nhập [tập viện] bị vấy bẩn với những cặn bã của đời sống trước kia; vì thế, họ cần được thanh tẩy khỏi tất cả thứ đó và được canh tân trong những đường lối quên mình, vâng phục, khiêm nhường, đơn giản và những nhân đức khác cần thiết cho đời tu sĩ. Vì thế, tại tập viện, mối quan tâm chính, thậm chí cha muốn nói mối quan tâm duy nhất phải là sự hoàn thiện cá nhân của mỗi người. Nếu họ không tỏ ra cải thiện chút nào, con đừng ngần ngại sa thải họ.”[236] Mười năm trước, Tổng Giám mục Gastaldi đã có thể dùng cùng một ngôn ngữ đó về việc đào luyện thiêng liêng của những người Salêdiêng. Không giống như vị tiền nhiệm nhân lành, Đức Giáo hoàng này không muốn cho phép cha Rua bất kỳ việc uốn cong các quy luật nào; ngài lấy một lập trường khác về việc đào luyện những ascritti (tập sinh) như ta biết. Một tập viện không phải là một trường cao đẳng hay trung tâm trẻ, nhưng là một thể chế có một căn tính loại biệt. Đức Lêô XIII nhấn mạnh những nhân đức thụ động hơn cần thiết nơi một ai đó muốn sống như một tu sĩ. Cha Rua là một người trật tự và kỷ luật, và không muốn điều gì hơn là áp dụng những bài học đến từ một thẩm quyền cao hơn. Dưới sự lãnh đạo của ngài đầy ngập những tập viện Salêdiêng được tổ chức tốt; vì lẽ đó, con số của ascritti được tìm thấy trong các trường, vốn nhận được một đào luyện chắp vá từ những Giám đốc thường được chuẩn bị tồi, đã giảm thiểu.

Ta sẽ thấy rằng những lời khuyên này của Đức Giáo Hoàng - nếu thực sự chúng đúng là thế như cha Rua thuật lại - phù hợp trong một mức độ nào đó với điều Bề Trên Cả mới phải nói trong lá thư luân lưu của ngài gởi cho các giám đốc ngày 8 tháng Hai. Ngài cũng xin các Salêdiêng thực thi sự kiềm chế nhưng vì những lý do tài chánh. Ngài thấy trước gánh nặng tài chánh có thể có mà Tu hội có thể phải gánh do luật tư hữu mà ra. Kín múc từ những hướng dẫn được Don Bosco để lại, ngài cũng cảnh giác các giám đốc: "Công việc xây cất phải đình lại; không nhà mới nào được mở (hàm ý rằng không một sáng kiến mới nào sẽ thẳng tiến trong những nhà hiện có mà sẽ đòi hỏi nhân sự thêm hay chi phí lớn lao); không một khoản nợ mới nào được gánh chịu; tuy nhiên phải quan tâm bù đắp tất cả những thuế bất động sản, loại bỏ thái độ tự do [kinh doanh], và hoàn chỉnh những đòi hỏi nhân sự trong những nhà hiện có". Ngài kết thúc khô khan: "Hãy tuyệt đối làm cho những điều này thành quy luật cho tất cả các Salêdiêng".[237]

Lá thư thứ nhất của ngài như Bề Trên Cả đề ngày 19 tháng Ba, lễ Thánh Giuse. Một cách dễ hiểu, nó không phản ánh bất kỳ những quan tâm nào. Hai tư tưởng hàng đầu trong tâm trí ngài vào lúc khởi đầu sứ mệnh của ngài: cổ xúy vụ việc của Don Bosco và trung thành với gương sáng của ngài. Ngài viết rằng khi ngài ở Rôma, Hồng y Parocchi đã khích lệ ngài, mạnh mẽ nhấn mạnh: "Tôi khuyến khích cha cổ xúy vụ việc của Don Bosco". Như một người quen thuộc với những thủ tục cho tiến trình phong thánh, cha Rua khích lệ các hội viên viết xuống bất kỳ cái gì quan trọng mà họ biết về cuộc đời ngài, những nhân đức bản lề, đối thần và luân lý, và những ân điển siêu nhiên: chữa bệnh, tiên tri, thị kiến và những gì tương tự.

Những đệ trình được gởi cho Gioan Bonetti trong khả năng của ngài như một vị Tổng Linh hướng; công việc của ngài là gom chúng lại với nhau như một cơ bản để giới thiệu vụ việc. Cha Rua báo trước cho các chứng nhân rằng cuối cùng họ có thể được yêu cầu tuyên thệ cho xác quyết của mình. Vì thế họ phải quan tâm đến hoàn toàn chính xác. Mãi đến ngày 2 tháng Sáu 1890 cha Rua mới công bố sắc lệnh chỉ định cha Gioan Bonetti như vị thỉnh nguyện viên cho vụ việc.[238]

Cha Rua thâm tín rằng những người Salêdiêng phải thấy mình được chúc phúc vì được là con cái của một người cha như Don Bosco. Họ phải hăm hở nâng đỡ và khi thích hợp, phải phát triển hơn mãi những công cuộc ngài đã khởi sự, trung thành đi theo những phương pháp và giáo huấn của ngài, và ngay cả trong cách họ nói và hành động "để bắt chước mẫu mực mà Chúa trong sự tốt lành của ngài đã ban cho họ nơi ngài". Cha Rua long trọng tuyên bố: "Các con cái dấu yêu của cha, chương trình mà cha sẽ theo đuổi bao lâu cha giữ chức vụ này sẽ là như thế. Mục đích và quan tâm của mỗi người Salêdiêng cũng phải là thế.”[239] Ngài sẽ xếp những thay đổi mà Rôma áp lực trên ngài vốn thách đố sự trung thành tuyệt đối của ngài với truyền thống của Don Bosco được kể vào giữa những thử thách lớn lao của cuộc đời ngài.

Gia Đình Salêdiêng: Gia sản của Don Bosco

Như Bề Trên Cả, cha Rua thừa hưởng từ Don Bosco một cây có một số ngành, để canh tác và vun xới: nói tắt, một gia đình tôn giáo chân chính, gồm Tu hội Thánh Phanxicô Salê, được biết là các Salêdiêng, Tu hội Con Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu, và Hiệp hội đạo đức Cộng Tác viên Salêdiêng.

Thống kê của Tu hội Salêdiêng vào thời gian đó tỏ cho thấy rằng có tất cả 56 nhà, và 768 người tuyên khấn trọn (có 301 linh mục), 95 người tuyên khấn tạm, 276 ascritti (tập sinh) và 281 đệ tử (thỉnh sinh, postulant). Ngoài Nguyện xá ở Valdocco và ba nhà đào luyện ở Piedmont, 52 nhà khác được chia thành sáu nhóm tỉnh, được đặt tên theo địa lý của chúng: Piedmont, Liguria, Rôma, Pháp, Achentina, Uruguay/Braxin. Những nhà ở Tây Ban Nha, Anh và Áo vẫn gắn với Tỉnh dòng Rôma.

Don Bosco đã để lại cho con cái tu sĩ của mình một chúc thư thiêng liêng mà đáng lặp lại ở đây; càng hơn thế nữa, vì chính cha Rua đầu tiên và trên hết là người phải ghi nhớ nó.

Các con thân mến trong Chúa Giêsu Kitô,

Trước khi từ giã cõi trần để về nơi vĩnh cửu, cha phải chu toàn một vài bổn phận đối với các con, hầu làm trọn ước vọng mãnh liệt của lòng cha. Trước hết, với tấm lòng yêu mến nồng nhiệt nhất, cha cám ơn các con đã tùng phục cha, cám ơn các con đã dày công lao nhọc để xây dựng và làm phát triển Tu hội chúng ta.

Cha để các con ở lại trần gian, nhưng chỉ một thời gian ngắn thôi, cha trông cậy lòng nhân từ vô hạn lượng Chúa sẽ cho chúng ta hết thảy một ngày kia được đoàn tụ trên nơi vĩnh phúc. Ở đấy cha đợi các con. Cha xin các con chớ than khóc khi cha chết. Cái chết là một món nợ ai cũng phải trả, nhưng rồi chúng ta sẽ được ân thưởng bội hậu vì những lao nhọc chúng ta đã chịu vì tình yêu Chúa Giêsu nhân lành, vị Thày của chúng ta. Thay vì than khóc, các con hãy quyết tâm vững vàng và hăng hái trung thành với ơn gọi cho tới cùng. Các con hãy tỉnh thức canh chừng, đừng để lòng say đắm thế gian, quyến luyến cha mẹ hay ham muốn cuộc sống an nhàn làm lung lạc và dẫn đưa các con tới chỗ tục hóa những lời khấn thánh thiện và như vậy là phản bội đời thánh hiến chúng ta đã cam kết với Chúa. Chớ gì đừng ai trong chúng con đòi lại những gì mình đã dâng cho Chúa. Các con đã yêu mến cha trong quá khứ, hãy tiếp tục yêu mến cha trong tương lai bằng việc tuân giữ cặn kẽ Hiến Luật của chúng ta.

Bề trên đầu tiên của các con chết đi. Nhưng Bề trên đích thực của chúng ta là Chúa Giêsu Kitô sẽ không chết. Ngài sẽ mãi mãi là Thày, là Hướng đạo, là gương mẫu của chúng ta; nhưng các con hãy nhớ rằng, tới giờ của Ngài, chính Ngài cũng sẽ là Thẩm phán xét xử và ân thưởng chúng ta, nếu chúng ta trung thành phục vụ Ngài. Bề trên của chúng con chết đi, nhưng sẽ có một Bề trên khác được chọn để lo lắng cho các con và cho phần rỗi đời đời của các con. Hãy biết nghe theo Ngài, yêu mến, vâng phục ngài; hãy cầu nguyện cho ngài như các con đã từng cầu nguyện cho cha. Vĩnh biệt các con dấu yêu, vĩnh biệt các con. Cha đợi các con ở trên trời. Ở đó chúng ta sẽ ca ngợi Chúa, ca ngợi Đức Maria là Hiền mẫu và là Đấng nâng đỡ Tu hội chúng ta; ở đó chúng ta sẽ tán dương muôn đời Tu hội của chúng ta, vì nhờ tuân giữ Hiến Luật của Tu hội, chúng ta có phương thế hữu hiệu và vững chắc để được cứu rỗi.[240]

Theo Don Bosco ước muốn, Tu hội Con Đức Mẹ Phù Hộ được tháp nhập hoàn toàn với Tu hội Thánh Phanxicô Salê. Do Hiến Luật của họ, Bề Trên Cả của Salêdiêng là Bề Trên Tổng Quyền của họ và theo một mức nào đó, Hiến Luật của họ được dựa trên Hiến Luật của những người Salêdiêng. Công việc tông đồ cho thanh thiếu nữ của họ phản ánh điều mà các người Salêdiêng làm cho thanh thiếu niên. Suốt 10 năm họ đã làm việc ở Nam Mỹ. Vào thời gian đó, họ có 390 nữ tu tuyên khấn và 100 tập sinh, với cả thảy 49 nhà: 35 nhà ở Ý, 4 nhà ở Pháp, 1 nhà ở Tây Ban Nha, 6 nhà ở Achentina, 3 ở Uruguay. Bốn trong những nhà này - Turin, Trecastagni ở Sicily, Almagro ở Buenos Aires (Achentina), và Villa Colon ở Montevideo (Uruguay) - là những nhà Tỉnh. Nhà Trung ương (nhà Mẹ) ở Nizza Monferrato và nhà ở Almagro có một tập viện.

Hiệp hội đạo đức của các Cộng Tác viên Salêdiêng được Don Bosco thiết lập năm 1874 và được Đức Giáo Hoàng Piô IX nhìn nhận năm 1876. Don Bosco đã bị những vị thẩm quyền ở Rôma ngăn cản việc xen nhập vào trong Tu hội mình những phần tử giáo dân vốn sống ngoài cộng thể và tuân giữ Hiến Luật theo những hoàn cảnh của họ. Đây là cách thức ngài đã vạch ra nó ở một trong những chương gây tranh cãi nhất. Vì thế ngài soạn một quy luật biệt loại cho họ. Trong tâm trí ngài họ giống như một loại dòng ba mà mục đích chính của nó là sự thánh thiện của cá nhân họ, không phải qua cầu nguyện cho bằng qua đức ái thực tiễn đối với giới trẻ. Một cách tự nhiên, các cộng tác viên trợ giúp ngài rất nhiều trong công cuộc của ngài, và điều này dẫn tới sự hàm hồ suốt nhiều năm, cầm bằng các cộng tác viên như các ân nhân. Ngay cả Don Bosco đóng góp vào điều này khi ngài kể vào giữa các cộng tác viên tất cả những ai đặt mua báo Bollettino Salesiano dài hạn.[241] Vị biên tập thực sự là Gioan Bonetti; chính ngài rõ ràng cũng hiểu lầm theo những lời ngỏ, khi ngài mở đầu nói cho "các Công Tác viên tốt lành của tôi".[242]

Ta phải nhấn mạnh rằng theo Don Bosco nhìn, Hiệp hội đạo đức ngài thành lập cốt yếu là Hiệp hội vươn tới những người khác. Theo bản quy luật 1876: "mục đích chính của Cộng Tác viên Salêdiêng là tìm kiếm thiện ích của chính mình qua một lối sống vốn làm chúng ta bao có thể giống lối sống của một cộng thể". Ý của Don Bosco thật rõ ràng. Ngài thường nói ở nơi khác: "Nhiều người Kitô hữu tốt lành, muốn tìm kiếm sự hoàn thiện và đạt được sự cứu rỗi, sẵn lòng bỏ thế gian lại đằng sau để tránh đi những nguy hiểm của việc sa ngã khỏi ân sủng, tìm thấy sự bình an và tiêu hao đời mình trong cô tịch và yêu mến Chúa Giêsu Kitô. Nhưng không phải tất cả được gọi tới bậc sống đó. Nhiều người bị ngăn trở vì tuổi tác, vì các hoàn cảnh hay vì sức khỏe, và nhiều người khác chỉ là không được gọi tới lối sống đó. Để đáp ứng ước muốn như thế, chúng ta cống hiến Hiệp hội đạo đức Thánh Phanxicô Salê".[243] Trung thành với khái niệm nguyên thủy của chương de externis trong Hiến Luật sơ khai, Don Bosco làm các Cộng Tác viên ngài thành"tu sĩ trong thế gian". Tuy nhiên, những khác biệt rõ ràng này vượt quá những phân biệt quanh cha Rua khi ngài đảm nhận quyền lãnh đạo trong Gia đình Salêdiêng. Như chúng ta sẽ thấy, chúng sẽ lại nổi lên tại Đại hội Cộng Tác viên tại Boulogne.

Vào thời đó, Cộng Tác viên lên tới hàng ngàn ở Ý và Pháp. Nhiều tư giáo cũng gia nhập, cùng với những giáo dân từ khắp mọi tầng lớp xã hội: quý phái, trung lưu, lao động, buôn bán, dân quê. Hiệp hội mở cho cả nam lẫn nữ. Cha Ceria miêu tả Cộng Tác viên như longa manus của Tu hội giữa xã hội. Cha Rua thường xin các Cộng Tác viên giúp đỡ khi cố gắng tổ chức họ cách tốt đẹp; nhưng trong tầm nhìn của ngài, họ không cấu thành gì khác hơn một đạo quân những ân nhân sốt sắng, và phải hai thế hệ khác mới lấy lại khái niệm nguyên thủy của Don Bosco về hội dòng ba Salêdiêng.

Đối với việc quy tụ đông đảo dân chúng như thế, nhưng phần lớn đối với các Salêdiêng và Con Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu, cha Rua đúng là một người cha chân chính, yêu thương theo cách mà Don Bosco đã tỏ bày. Cuối cùng, liệu Don Bosco đã không thì thầm vào tai ngài trên giường chết: "Con hãy làm cho mình được yêu mến" sao? Ngài đã khôn ngoan dõi bước chân của vị thày thiêng liêng, mà hình ảnh của ngài luôn che bóng ngài suốt những năm tháng trong chức vụ - chỉ là một thách đố giữa nhiều thách đố khác. Ngài cấm người ta chạm đến bất kỳ cái gì trong căn phòng mà Don Bosco qua đời: đồ đạc phải ở yên đấy như trước vậy. Ngài sắp đặt văn phòng của mình trong một căn phòng nhỏ gần bên Don Bosco tiếp đón các quan khách suốt phần sau của đời ngài. Ngài chỉ cho phép một thay đổi ở đó mà thôi: một chiếc giường [tấm ván] được mang vào mà một sư huynh đã làm thành một cái giường khiêm tốn để cho ngài nghỉ qua đêm.[244]

Chú thích

[230] Ở đây tôi thích ứng những trang mà Don Ceria dành cho vấn đề này trong năm 1949 trong Vita del Servo di Dio, p. 136-139, khởi từ những ghi chú thu thập về thư luân lưu được Hồng y Cagliero và Tu Nghị Bề trên ký ngày 7 tháng Ba, 1888. Những điều này được tìm thấy trong Lettere circolari di Fr Rua, p. 6-16.

[231]Thư của cha Rua trong FdR 3912 B1-4.

[232]L.C., p. 11-13.

[233] Tài liệu được Hồng y M. Parocchi ký nhận, trong L.C., p. 14-15.

[234] Thư Rua-Bonetti, 20 tháng Hai năm 1888, FdR 3859 E5-7.

[235] FdR 4240 D8.

[236] L. C., p. 20-24.

[237] L.C., p. 5.

[238] Tài liệu trong MB XIX, p. 398.

[239] L.C., p. 18-19.

[240] Memorie from 1841...,. F. Motto biên soạn, 1985, p. 30-32.

[241] FdR 3993 B7-C4.

[242] Sau khi sao chép lại nó mà không bình luận năm 1937 trong Memorie biografiche XVIII, p. 621-623, như đã được tìm thấy giữa những giấy tờ của Don Bosco sau khi ngài chết, Don Ceria sẽ thừa nhận 20 năm sau trong một ghi chú trong Epistolario IV, p. 393, rằng tin giả mạo này là công trình của Gioan Bonetti, chủ biên Bollettino.

[243] Cooperatori salesiani..., Albenga, 1876, § III.

[244] E. Ceria, Vita, p. 148.


FMA Logo

Địa chỉ: 57 Đường số 4, Khu phố 56, P. Tam Bình, TP. Hồ Chí Minh

Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về email: libraryfmavtn@gmail.com

Liên Kết

Truyền Thông FMA

Copyright Dòng Con Đức Mẹ Phù Hộ © 2026