15. Những năm tập sự (1888-1892)
Theo chân Don Bosco
Don Bosco tiếp tục sống ở Turin, trong lòng trí, vì thế những lời của Hồng y Gaetano Alimonda dường như đúng từng chữ khi ngài đọc bài điếu văn cho Don Bosco ở Thánh đường Mẹ Phù Hộ ngày 1 tháng Ba 1888, 30 ngày sau khi ngài chết. Đức Hồng y dõng dạc: "Thiên Chúa không ban cho chúng ta một tâm hồn chỉ để khóc. Ngài ban cho chúng ta một tấm lòng, một tâm trí, một trí tưởng mà nhờ đó làm chúng ta vơi đi u sầu với dầu xoa dịu. Ngài ban cho chúng ta một sức mạnh kỳ diệu, sức mạnh để một lần nữa giữ chặt trong tư tưởng, trí tưởng và tâm tình chúng ta hình ảnh của những người mà không còn ở với chúng ta nữa: sức mạnh để làm cho những người đó lại sống động và như thể đang ở trước mắt chúng ta. Và như thế tôi muốn thấy người bạn, vị ân nhân và người Cha tôi biết; tôi muốn nhìn thấy và nói chuyện với Don Bosco.[...] Tôi không biết tại sao nhưng khi giật lấy ngài xa khỏi chúng ta, khi giấu ngài khỏi mắt chúng ta, cái chết đã tắm ngài trong ánh sáng huy hoàng. Nay tôi sẽ nhìn lên ngài với một sự kính trọng lớn lao hơn bao giờ hết, nhưng luôn với cùng một tình yêu chân thành."[245] Nếu có người cảm thấy Don Bosco gần gũi hiện diện chói ngời, hơn tất cả những người khác, thì đó là chính cha Rua, vốn luôn cầu xin ngài đừng bao giờ bỏ rơi mình.
Cha Rua tìm cách để là một Don Bosco khác. Suốt vài tháng ngài thường chủ tọa các cuộc họp của Tu Nghị Bề trên trong chính phòng mà Don Bosco đã chết. Tinh thần hướng dẫn của ngài luôn ở giữa họ, vì đấng kế vị của ngài muốn thế. Uy quyền của Don Bosco hiện diện vô hình phải hướng dẫn những chọn lựa họ thực hiện tại đó. Chắc chắn có khác biệt rõ nét về tính khí nơi vị lãnh đạo mới. Dân chúng đến gần cha Rua khắc khổ, gầy gò một cách ít thoải mái hơn họ đã làm với Don Bosco luôn niềm nở. Dù sao, lời khuyên của vị thày, lập lại trên giường hấp hối, "Hãy làm cho mình được yêu mến" luôn ở trong tâm trí ngài, và tạo nên những hiệu quả tốt. Dân chúng không thất vọng vì ngài: cha Rua không bao giờ là một người mất tự chủ vì sự nóng giận chính đáng hay lên giọng trong những bộc phát không đúng lúc. Ngài có thể ổn định những khác biệt - và có nhiều - với sự bình thản đến nỗi chưa hề xúc phạm những người bất đồng với ngài.
Mỗi năm những ngày 23 và 24 tháng Sáu, lễ Thánh Gioan Tẩy Giả, thường gợi nhắc cách riêng cho các cựu học sinh những lễ truyền thống tôn vinh người cha và thày của họ. Người ta quyết định tiếp tục truyền thống này như một cử hành chung cùng chúc mừng cha Micae Rua. Một cách dễ hiểu điều này không hề nghi vấn trong năm 1888, năm than khóc; nhưng 1889 là một câu chuyện khác. Ngày 22 tháng Sáu, trong khi vui tươi chuẩn bị ngày lễ, nhà nguyện tại Valsalice có chứa quan tài của Don Bosco với một sự quy tụ được ước định gồm 2000 người. Đây là một nhà nguyện có ý nghĩa rất nhiều với cha Rua: ngài cử hành thánh lễ đầu tiên ở đó vào lúc 5 giờ sáng hôm sau. Các cựu học sinh của "Nguyện xá Salêdiêng" có một cuốn sách nhỏ hấp dẫn được in "để kỷ niệm cha Gioan Bosco đáng kính và cha Micae Rua mến yêu của chúng ta, ngày 24 tháng Sáu 1889."[246] Một cử hành lộng lẫy xảy ra tại Nguyện xá Valdocco suốt hai ngày: những bài nói chuyện được ngỏ vào ngày 23 và một văn nghệ gồm những trước tác văn chương và âm nhạc vào ngày 24. Những nhắc nhớ ý nghĩa của những ngày lễ này được tìm thấy trong những nhắc nhớ sau: một sưu tập ảnh được các cựu học sinh in ấn;[247] Một bó hoa thiêng gồm "hiệp lễ và viếng Thánh Thể từ các học sinh tại La Spezia dành cho cha Rua mến yêu của họ, 1888-89;[248] một sưu tập ảnh 16 trang dành cho "cha Micae Rua, từ những con cái của ngài tại Alassio", với những chữ ký của thày cô, học sinh và các Con Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu;[249] cuối cùng, và cần quan tâm đặc biệt, một tờ in khổ lớn tựa đề "niềm kính mến và tri ân con thảo dành cho cha Micae Rua ngày 23 tháng Sáu 1889, ngày lễ hội hằng năm tôn kính cha Gioan Bosco, với bài hát 12 câu được soạn thảo cho dịp này và được J.B.L..., nghĩa là Gioan Tẩy Giả Lemoyne, ký; ngài quen sáng tác một bài thơ vào những dịp đặc biệt. Cha Rua khắc khổ, vốn luôn còn được đặt trung thành với gương sáng của Don Bosco, rất cảm động bởi một vài câu.[250]
Hãy lau khô giọt lệ,
Đừng than khóc nữa.
Với đàn hạc hãy cho mọi người nghe
những điệu hát năm xưa.
Lại tấu vang lên
Những nốt nhạc vui say tình mến.
Don Bosco vẫn sống,
Ngài không chết nữa.
Bạn trẻ ơi, vui lên nào.
Những cánh cửa chốn xa vời vợi
Nay rộng mở.
Trong ngôi nhà này
Ngài tiếp tục sống trong vị lãnh đạo chúng ta
Thiên Chúa duy nhất đã ban cho bạn,
Đã sớt chia với bạn
Điều tốt nhất của chính ngài.
Và rồi hãy dâng lên ngài vị lãnh đạo chúng ta
Nay là cha chúng ta,
Tâm hồn chúng ta rạo rực hát lên :
Vì quanh đây chúng ta vẫn có
Tinh thần và cõi lòng
Don Bosco yêu dấu.
Nụ cười ngài
Thắp sáng khuôn mặt bạn
Những lời ngài dịu dàng
Thoát khỏi môi miệng bạn
Chạm sâu tới tâm hồn.
Cùng khóe nhìn của ngài,
Thắp sáng ngọn lửa hăng nồng
Trong chốn sâu thẳm tâm thần tôi...
Truyền thống đó tiếp tục: ngày 23 và 24 tháng Sáu vẫn còn là một ngày lễ chung tôn dương Don Bosco và cha Rua. Dẫu không hề bị mất kiểm soát bởi những lời tán dương, cha Rua có đủ lý do để tin rằng mình theo đúng đường, đường của cha và vị thày của mình.
Gánh nặng nợ nần
Sau khi Don Bosco chết, tiền bạc biếu tặng xuống dốc trầm trọng. Nhân dịp tĩnh tâm mùa hè 1888, cha Rua cắt nghĩa cho các giám đốc rằng những tặng phẩm như thế rớt xuống khoảng 50 phần trăm. Don Bosco có bí quyết để mở hầu bao; đấng kế vị ngài phải làm mọi nỗ lực để thực hiện như ngài đã làm trong lãnh vực này cũng như trong tất cả những lãnh vực khác. Cha Ceria nêu rõ khoảng 600.000 lire về những khoản nợ ở trung tâm Salêdiêng tại Turin - một số tiền khổng lồ đối với một Tu hội. Kinh tế phải là việc thiết yếu quan trọng. Như chúng ta biết, trong lá thư luân lưu đầu tiên sau ngày Don Bosco chết, cha Rua đã chỉ thị các giám đốc phải ngưng lại tất cả việc xây cất, không mở một nhà mới nào, không mắc vào một món nợ mới nào, phải quan tâm "bù đắp tất cả những thuế bất động sản, để chấm dứt bất kỳ thái độ tự do kinh doanh nào, và bố trí những yêu cầu cá nhân trong những nhà hiện có."[251] Ngày 10 tháng Ba 1888, một lá thư luân lưu từ cha Rua được in và gởi tới các Cộng Tác viên và ân nhân, xin giúp đỡ để đáp ứng nhu cầu của hàng triệu người kém may mắn khắp thế giới.[252]
Tại trung tâm Tu hội phải trả những món nợ chất chồng vì việc xây dựng Thánh đường Thánh Tâm ở Rôma. Người trong tình trạng khó khăn, cha Dalmazzo, đã bị buộc phải ngưng toàn công việc nhà lưu xá mà Don Bosco rất mong muốn vì thiếu nguồn tài chánh. Hơn nữa có những cuộc xuất phát truyền giáo ngày 11 tháng Ba, rồi 30 tháng Mười, và những việc chuẩn bị đang tiến hành cho cuộc xuất phát lớn lao ngày 7 tháng Giêng 1889, vốn sẽ huy động 30 Salêdiêng và 20 Con Đức Mẹ Phù Hộ. Những cuộc mạo hiểm này đòi hỏi tốn kém khổng lồ.
Để tài trợ cho lưu xá ở Rôma, "Công cuộc đạo đức của Thánh Tâm" (Pia Opera del Sacro Cuore) được thành lập. Hơn nữa, cha Rua học nghệ thuật đi xin. Chúng ta thấy điều này trong tháng Giêng 1889, ở cuối lá thư đầu tiên, ngài gởi đi một 'hoa thiêng'. Như Don Bosco đã tường trình về những trách nhiệm mới đây và những dự phóng tương lai, và sau một đoạn dài về "bác ái" như "một phương thế hữu hiệu để nâng đỡ chúng", ngài cống hiến cho các Cộng Tác viên ba đề nghị cụ thể: "1. Mỗi ngày, mỗi tuần hay mỗi tháng, để ra một cái gì nâng đỡ công cuộc chúng ta... 2. Thỉnh thoảng, làm một hy sinh hay tiết kiệm nào đó cho mục đích này: chẳng hạn, anh chị em có thể không du lịch, bớt giải trí, không mua áo quần mới nào đó, hay ăn tối đơn giản hơn, v.v. 3. Đối với bất kỳ ai muốn từ bỏ một số tài sản nào đó của mình cho một công cuộc bác ái, cha cho lời khuyên này: hãy làm điều đó khi anh chị em vẫn còn sống; nó có nghĩa rằng anh chị em sẽ cho ít hơn, nhưng anh chị em sẽ chắc chắn nhìn thấy rằng những ước muốn của mình đã được thực hiện..."[253]
Tới cuối năm 1891, cha Rua bị sốc, khi hoàn toàn bất ngờ, văn phòng tài chính của Turin cho ngài biết rằng với danh nghĩa chủ nhân của những nhà ở Ý thuộc về Tu hội Salêdiêng và Con Đức Mẹ Phù Hộ cá nhân ngài nhận được một yêu cầu đóng thuế là 322.500 lire. Đây chỉ là khởi đầu của một cuộc tranh luận liên lỷ. Với sự trợ giúp của luật sư Charles Bianchetti, ngài khiếu nại lên chính quyền thành phố đó. Một loạt những phán quyết theo sau, trước tiên từ tòa án Turin, rồi tòa phúc thẩm, và cuối cùng tòa phúc thẩm tối cao, tất tất từ trong Turin. Nhưng như Don Bosco trong loại việc này, ngài không bị đánh bại và nại tới tòa án tối cao ở Rôma. Đồng thời, không xao nhãng làm mọi sự có thể được theo kiểu con người, ngài phó thác toàn vụ việc cho các hội viên cầu nguyện. Thư ký riêng của ngài, Angelo Lago, liên hệ với người đứng đầu chính phủ, Gioan Gioliti (1842-1928). Vì thế cha Rua cho ngài một bản tường trình đầy đủ, cập nhật về vấn đề đó cho vị thứ trưởng. Giolitti quy chiếu nó tới tòa án tối cao để họ cho ý kiến. Họ cho phép vị đại diện của họ, vốn ra lệnh cho văn phòng tài chánh ngừng tấn công cha Rua. Ít lâu sau, vị chủ tịch ở Turin cố mời cha Rua đến thăm ông và chính ông thông tin cho ngài về kết quả chung cục của cuộc tranh luận. Bề Trên Cả, không bao giờ có tiền dự phòng, được an ủi rất nhiều ở chuyện này.[254]
Vấn đề các môn học của Giáo hội
Các môn triết học và thần học của Giáo hội chắc chắn không là ưu tiên cao đối với Don Bosco, người đã có những kỷ niệm không hay về những gì ngài đã phải chịu tại chủng viện ở Chieri. Khi quy chiếu tới Rosmini, những lý luận suy lý thường khiến ngài ngủ, ngài nói cho ta như vậy. Thực sự, ngài chỉ quan tâm đến thực hành mục vụ bí tích sám hối, học Kinh thánh và lịch sử Giáo hội; những đề tài ấy lại bị xao nhãng trong các chủng viện thời đó. Như vậy, trình độ kiến thức triết học và thần học giữa những người Salêdiêng bị bỏ ngỏ cho phê bình. Don Bosco phải cầu nguyện nhiều trước khi thêm một chương về học tập vào Hiến Luật của mình. Với luật trừ là cha Piscetta, vốn chuyên về thần học luân lý, những học giả quanh cha Rua - Francesia, Celestine Durando, Gioan Cagliero, Lemoyne và, dĩ nhiên, Barberis - sành sõi trong nghệ thuật và văn chương, nhưng chắc chắn không phải là triết gia hay thần học gia. Người uy tín nhất trong những môn học này dường như là Phanxicô Cerruti, mà sau này được chỉ định làm cố vấn lo về học vụ.
Đức Giáo hoàng Lêô XIII biết đến tình trạng không thích đáng này. Ngay sau khi Don Bosco chết, ngài nói cho Đức ông Manacorda rằng ngài ước muốn thấy sự hồi sinh tri thức trong Tu hội Salêdiêng qua việc huấn luyện những người trong các khoa học suy lý. Biên bản của Tu Nghị Bề trên ngày 21 tháng Tám 1888 cho thấy rằng một vài hội viên được đề xuất đi học tại đại học Gregorian ở Rôma. Cha Rua không chút trì hoãn ghi danh cho hai phó tế, Giacôbê Giuganino và Angelo Festa, cho niên khóa sắp tới. Mỗi người được dành một phòng ở lưu xá tại Sacro Cuore. Ngày 29 tháng Giêng, cha Rua gởi cho các giám đốc một thư luân lưu ngắn song gãy gọn bàn riêng đến học thần học trong những nhà tương ứng của họ.[255]
Vấn đề học tập những môn của Giáo hội sẽ thống trị Tổng Tu Nghị tại Valsalice vào tháng Chín 1889. Để hiểu bối cảnh những thảo luận đó, biết về tình trạng lúc đó, vốn sẽ được sửa chữa đúng lúc, quả là quan trọng. Lúc đó trong Tu hội Salêdiêng có những học viện triết học. Nơi đây, các tư giáo tham dự các khóa học do những thày giáo có bằng cấp đảm nhận. Tuy nhiên, khi xong những khóa học như thế, các tư giáo tiếp tục học thần học ngay; vì thiếu vắng những học viện cho môn học này, việc đào luyện của họ lệ thuộc vào sự sẵn có may rủi của những nguồn thích đáng trong các nhà họ được gởi tới. Một ít người ưu tiên được gởi tới đại học Gregorian; số khác tham dự những khóa học ở một chủng viện địa phận. Bất cứ ở đâu có thể quy tụ lại một số hội viên nào đó từ những nhà chung quanh, chẳng hạn như Nguyện xá Turin, Valsalice, Marseilles hay Buenos Aires, các lớp học được tổ chức cho họ với những giáo sư đến từ trong Tu hội hay từ bên ngoài. Trong trường hợp những nhà bị cô lập, vốn ngày càng trở nên nhiều hơn, việc dạy học được khoán cho những linh mục có sẵn đấy tại địa phương. Quy luật buộc rằng, dù bất kỳ tình trạng nào, các tư giáo phải có hai hoặc ba kỳ thi một năm (lần thứ ba trong biến cố của những khóa học được thực hiện trong những ngày nghỉ); những người khảo thí được Tổng Cố vấn học vụ hay Giám tỉnh liên hệ chỉ định. Như một ghi chú cuối cùng, chúng ta phải nhận xét rằng những môn thần học, được đặt nền, không phải trên quá nhiều các bài giảng giải (lectures) nhận được, cho bằng trên một thủ bản thần học, những nội dung của nó phải được ghi nhớ (thuộc lòng).
Khóa thứ nhất của Tổng Tu Nghị được triệu tập ngày 3 tháng Chín 1889 nghiên cứu vấn đề sau: "Việc học thần học và triết học. Có phải là lúc thay đổi sách giáo khoa không? Cái gì sẽ thay thế chúng? Ta có thể đưa vào những cải thiện nào cho việc học thần học, triết học và chú giải Kinh Thánh?" Mục tiêu từ ban đầu là thiết lập những kinh viện thần học chân chính, trong khi đó phải cải thiện hiện trạng. Nó lệ thuộc rất nhiều vào việc chọn các thủ bản. Ủy ban được thiết lập dưới sự chủ tọa của Phanxicô Cerruti thảo luận cuốn Compendium theologiae của Gioan Perrone mà họ xét là hoàn toàn khó khăn, rồi thủ bản thần học luân lý do Del Vecchio mà họ nhanh chóng ổn định. Đối với sách của Perrone, họ thấy không thể đạt được một thỏa thuận về cuốn sách thay thế mà họ đều thấy là cần. Vấn đề được chuyển tới Tu Nghị Bề trên, nhưng không đạt được giải pháp nào mãi tới 24 tháng Mười sau đó khi người ta đề nghị thử nghiệm ba tác giả trong suốt năm học: Sala tại Nguyện xá, Hurter tại Valsalica và Schoupe tại Marseilles. Cuối cùng cuốn Medulla Theologiae Dogmaticae (yếu tính của thần học tín lý) của Hugo Hurter (1832-1914) đã thắng. Cuốn Medulla là một phiên bản giản lược cuốn Theologiae dogmaticae compendium (3 vol., Innsbruck, 176-1878), nghĩa là một tập san thần học tín lý được mau chóng thừa nhận trong các chủng viện bởi vì tài liệu tham khảo rộng khắp, sự rõ ràng và sự nối kết nhạy bén của nó với tác vụ mục vụ.
Các sinh viên Salêdiêng có khả năng trung bình, vốn thường phải tự mình đương đầu với những đề tài ít hấp dẫn đối với họ, có thể dễ sử dụng cuốn Medulla, bộ sách một tập. Một dấu về mối quan tâm được cảm nhận trong lãnh vực này là một thư luân lưu gởi cho các Giám tỉnh từ vị Phó Tổng bề trên là cha Belmonte, đề ngày 28 tháng Giêng 1891; lá thư chứa đựng lời yêu cầu từ cha Rua về danh sách xác đáng gồm những nhà mà không có khóa học thần học nào.[256] Vào cuối năm 1891, trong một loạt "những chuẩn mực cho Giám tỉnh", chúng ta lại thấy cha Rua tuyên bố rằng "trong một vài trường, các khóa học thần học và phụng vụ" bị "xao nhãng nghiêm trọng". Ngài bảo họ: "Hãy bảo đảm phải luôn cung cấp những khóa học như thế, và phải dành cho chúng tầm quan trọng đáng được."[257] Thực thế, trong phần đa các trường hợp, các tư giáo Salêdiêng trẻ đang nốc những bài học qua công việc khó nhọc, với ít lợi ích cho chính mình, và với những hệ quả tồi tệ. Điều này nổ ra trong một thư luân lưu từ cha Rua gởi các Giám đốc về việc học thần học. Ngài nói, tại các kỳ khảo thí, các sinh viên cho thấy "một sự hiểu biết không thích đáng" về những đề tài được nghiên cứu, và như vậy không thể trả lời "rõ ràng và gọn ghẽ."[258] Việc huấn luyện các sinh viên thần học sẽ là một quan tâm thường xuyên đối với cha Rua; ngài mong đợi vị cố vấn về học vụ, cha Phanxicô Cerruti, trợ giúp hữu hiệu, như chúng ta xem thấy từ bộ sưu tập những lá thư luân lưu của ngài và những chương trình dạy học, trải ra từ năm 1885 đến 1917, được Jose Manuel Prellezo xuất bản. (Rome, LAS, 2006).
Học chữ (học văn chương)
Thế giới Salêdiêng, nam hãy nữ, chính yếu gồm có các giáo viên đứng lớp. Trong một thư luân lưu gởi các Salêdiêng về việc học chữ đề ngày 27 tháng Mười Hai 1889, cha Rua nhất quán dùng Don Bosco là điểm quy chiếu của mình. Những khác biệt khá nghiêm trọng đã nảy sinh giữa nhân viên Salêdiêng dạy học ở Ý về hệ thống giáo dục và những cổ điển Latinh. Cha Rua gợi nhớ Don Bosco khôn ngoan can dự vào cuộc tranh luận nổ ra 40 năm trước giữa viện phụ Gaume và Hồng y Dupanloup. Đó là cuộc tranh cãi được khuấy lên do Lu-y Veillot sau khi phát hành cuốn sách Le Ver rongeur ou le paganisme dans l’éducation (1852) (The Canker or paganism in education) của viện phụ mà ngài nói là đang đầu độc tâm trí giới trẻ qua tiếng Latinh và các bản văn Hy lạp cổ điển. Ngay cả Đức Giáo hoàng Piô IX đã cảm thấy buộc phải xen vào. Don Bosco khuyến khích các Salêdiêng ca ngợi những phẩm chất không thể chối bỏ được của họ hơn là xem thường các tác giả Latinh Kitô hữu như thánh Giêrôm; vì các tác phẩm cổ điển phải được học hỏi, ngài đã thiết lập việc biên soạn một tuyển tập những tác giả đời, được sàng lọc đúng mức tất cả những gì có thể xúc phạm. Cha Rua chỉ dạy, nếu chúng ta trung thành với Don Bosco, chúng ta hãy hiệp nhất áp dụng những nguyên tắc của ngài. Những tác giả cổ điển ngoại giáo thì cần thiết để dạy chúng ta sự bóng bảy của tiếng Latinh, nhưng các tác giả Kitô hữu Latinh cũng cần thiết bởi vì họ là những phương thế chuyển giao chân lý. Thày giáo phải học để rất kính trọng giữ gìn những bút tích của các Giáo phụ.
Cũng có lý luận về tiếng Ý: một số người muốn bám chặt vào văn phong cổ điển, đang khi những người khác muốn trở nên quen thuộc và diễn đạt chính mình bằng ngôn ngữ của những tác giả tân thời. Ở đây cha Rua lại quy chiếu đến Don Bosco, người đã học những tác phẩm cổ điển tiếng Ý với sự sâu xa nào đó, và thậm chí trong tuổi già, ngài vẫn có thể đọc những đoạn dài từ Dante. Nhưng không phải mọi sự trong văn chương cổ điển đều thích hợp với người trẻ. Vì thế, ngài đưa ra một Biblioteca dei classici italiani, được tuyển lựa thích đáng và như vậy được sàng lọc. Bất kỳ ai đặt toàn vẹn những tác phẩm này vào tay giới trẻ chắc chắn đi ngược lại những ước muốn của Don Bosco.
Ngài thật buồn khi thấy rằng một số nhà đã giới thiệu những tác giả tân thời, nổi tiếng vì họ thù hằn tôn giáo cũng như khinh thị những quy luật đạo đức thông thường nhất. Hội nghị Bề trên 21 tháng Chín 1888 xem việc đưa những tác phẩm của Carducci và Leopardi vào tập viện là tệ hại.[259] Cha Rua thốt lên: "Don Bosco hẳn sẽ buồn biết mấy khi nghe biết những chuyện như thế!" Để giới hạn tất cả văn chương không đáng ao ước, vào đầu niên học, ngài đòi hỏi mỗi thiếu niên phải liệt kê những sách em mang theo với mình. Tư tưởng chung cục của Bề Trên Cả là lưu ý chống lại việc bắt bẻ công cộng. Không thầy giáo nào được phép công khai chỉ trích một đồng nghiệp vì phương pháp dạy học hay đề tài bàn thảo. Họ phải nói với người đó diện đối diện hay xin một người bạn tốt nói cho người đó một lời. Sau cùng, cha Rua nói: "Hãy để đức ái và ân sủng của Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta ngự trị trong tâm hồn chúng ta mọi lúc."[260]
Mười năm sau, ngày 6 tháng Giêng 1890, ngài gởi một thư luân lưu tương tự, được in ấn, lần này cho con Đức Mẹ Phù Hộ, "những người con dấu yêu trong Đức Giêsu Kitô". Ngài muốn bảo vệ họ khỏi những nguy hiểm nghiêm trọng mà, theo ngài, đe dọa các Nữ tu và các học sinh của họ, cả nội trú lẫn học sinh ban ngày. Ngài thâm tín rằng cơn bão lụt của những tờ báo chẳng ra gì và thậm chí tệ hơn nữa các tiểu thuyết đã tạo nên những bệnh dịch tệ hại nhất của xã hội tân tiến. Những ấn phẩm nguy hại này đã lan truyền xa rộng, trong thành phố lẫn làng mạc và thậm chí chính giữa những vùng quê, các hiệu sách, quầy bán và trạm xe lửa. Ngài lại quy chiếu đến Don Bosco khi ngài đã đề xướng cách thức xử lý tai họa loại này. Như người ta đã quen với văn chương nước Ý, ngài hoàn toàn biết về cạm bẫy của nó; vì lẽ đó ngài đã sàng lọc những biên soạn được xuất bản trong "thư viện của những sách văn chương cổ điển Ý cho người trẻ sử dụng". Ngài thực tiễn khuyên bảo là trong lớp học, thày giáo đừng bao giờ trích dẫn từ một cuốn sách đáng chê trách, hay thậm chí tệ hơn nữa, khen ngợi cuốn sách đó; ở đâu cần thiết, tốt hơn nên nêu bật giáo thuyết lành mạnh cũng như chặn trước bất kỳ nguy hại nào. Nói chung, người ta nên cung cấp thuốc giải cho những ấn phẩm mang tính xúc phạm bằng cách khuyên nhủ đọc sách tốt, chẳng hạn như Catholic Readings. Lá thư dài của ngài tiếp tục khuyên bảo thày cô và giáo lý viên tương tự với điều ngài dành cho các Salêdiêng, đặc biệt bàn đến điều sau đây: Anh chị em đừng bao giờ đối xử thô bạo với trẻ em, đừng bao giờ hạ nhục chúng, hãy quan tâm cách riêng tới những em nghèo nhất, và cuối cùng, bất kỳ cái gì xảy ra, tránh phán đoán lẫn nhau vội vàng. Lá thư của ngài đầy bốn trang được trình bày tốt đẹp.[261] Ngay từ đầu, Cha Rua đang nhập thể một loại huấn quyền mang tính tri thức vào trách vụ của ngài như Bề Trên Cả của hai Tu hội.
Hướng tới một sự lãnh đạo khôn ngoan
Các Giám tỉnh và giám đốc tạo nên một liên hệ bất khả thế giữa Bề Trên Cả và hội viên. Từ thời Tổng Tu Nghị đầu tiên năm 1889, cha Rua cống hiến cho họ nhiều lời khuyên, được thư ký ghi lại đầy đủ bao có thể. Trong sự đơn giản rõ ràng chúng minh họa chính tư tưởng của ngài về sự điều hành Tu hội tốt đẹp.
Ngài nói cho họ: "Các giám đốc là một thứ đèn báo hiệu cho cộng thể mình: constitui te in lumen gentium [Ta đã đặt ngươi làm ánh sáng cho muôn dân]. Các hội viên tuân giữ mọi sự từ Giám đốc của mình, cho tới tận chi tiết nhỏ nhất - cách thức ngài nói với họ, ngài đối xử với họ hay giải trí với họ thế nào... tôi biết từ kinh nghiệm của mình. Ngài phải nhớ đến họ và bảo đảm rằng họ cũng chấp nhận cần phải làm chứng tốt đẹp cho người khác trong mọi việc họ làm. Họ phải cử hành Thánh Lễ và cầu nguyện kinh nhật tụng cách pie, attente ac devote; nói tóm, họ hãy nên gương mẫu đối với việc đạo đức. Tôi nhắc nhớ anh em lời khuyên thứ nhất trong những lời khuyên tín cẩn Don Bosco đã để lại cho các giám đốc: Niente ti turbi [Đừng để điều gì làm con xao xuyến]. Đó là một nguyên lý của Thánh nữ Têrêsa và Thánh Phanxicô Salê. Bằng cách đó chúng ta có thể có một tâm trí thanh thản khi phán đoán và quyết định liên quan đến cộng thể và bất kỳ cái gì khác nằm trong trách nhiệm của chúng ta. Anh em hãy luôn điềm đạm: nó thật cần thiết và rất nhiều điều tốt đến từ đó. Nó khởi hứng sự tín nhiệm, và chiếm được lòng các hội viên. Giám đốc phải dẫn đường nhờ tinh thần làm việc của họ. Tôi biết họ đã làm nhiều điều tốt, và tôi chỉ có thể cám ơn Chúa về điều đó. Deo Gratias. Đồng thời họ phải cẩn trọng đừng muốn làm mọi sự. Phải hơn, họ phải chia sẻ công việc với những người khác. Đó là bí quyết của thành công. Trong một xưởng thợ, nếu vị trưởng xưởng tự mình làm, họ sẽ làm việc với hai bàn tay của mình thôi; nếu họ chia sẻ công việc, họ sẽ làm việc với bàn tay của tất cả mọi người. Nếu giám đốc đảm trách một công việc bên ngoài nhà vốn ngăn cản ngài chu toàn bổn phận ngài có trong nhà, ngài phải bỏ ngay. Ngài sẽ liệu sao các sách vở của vị Phó Bề trên phải ngăn nắp, lưu ý về cách thức Giám linh thực hiện công việc, và kiểm soát các xưởng thợ vận hành. Khi không bị công việc không thúc ép ngài, ngài có thể hướng dẫn những người khác tốt đẹp hơn. Don Bosco luôn muốn như thế đó, nhất là ở nơi có những tư giáo trẻ đến từ việc học triết của họ; đoạn ngài có thể đáp ứng tốt đẹp những nhu cầu của cộng thể mình.[262]
Trong hình ảnh Giám đốc này, ai lại không thể thấy hình ảnh của Bề Trên Cả. Cha Rua muốn ở giữa Tu Nghị Bề trên của mình? Ngài nổi bật bằng gương sáng làm việc và tinh thần cầu nguyện, việc đó không ai có thể chối cãi được. Cha Rua là một đèn hiệu thiêng liêng cho những người giúp đỡ thân cận của ngài, và ngài cho thấy sự phân định khi phân nhiệm cho những người khác.
Sau khi cha Bonetti qua đời năm 1891 và cha Phaolô Albera được chỉ định năm 1892, Tu Nghị Bề trên mặc lấy một dạng bền vững hơn. Năm 1893, các thành viên của nó gồm: Đaminh Belmonte, Phó Bề trên (Prefect); Phaolô Albera, Giám linh, Antôn Sala, Quản trị viên (Quản lý); Phanxicô Cerruti, cố vấn học vụ; Giuse Lazzaro, cố vấn lo các trường kỹ thuật; Celestine Durando, Cố vấn (thực sự cố vấn này không có hồ sơ (portfolio) là Giám tỉnh của một Tỉnh dòng độc đáo [sui generis] được biết đến như [Tỉnh dòng] "các Thánh Nam Nữ" bao gồm các nhà rải rắc khắp Thụy sĩ, Tây Ban Nha, Anh, Ba lan, và cuối cùng Châu phi và Á châu); cuối cùng, Gioan Tẩy giả Lemoyne, thư ký. Được thu nhận vào hội nghị riêng là Giulio Barberis, Giám tập, Caesar Cagliero, Tổng Đại diện ở Rôma, và Gioan Marenco, Tổng đại diện cho Con Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu.
Bề Trên Cả xin mỗi thành viên hội đồng thông tri cho mình công việc của họ, nhưng ngài cẩn trọng không xâm phạm vào lãnh vực trách nhiệm của họ, như ta có thể nhìn thấy trong những liên hệ của ngài với cha Cerruti, cha Durando và cha Barberis. Nơi đây ngài cho thấy mình là một môn đệ trung thành của Don Bosco; Don Bosco muốn có ở đầu Tu hội của mình không phải là một vị đại diện được vây quanh bởi một "hội đồng" (council) bộ trưởng, nhưng là một "Tu Nghị Bề trên", nghĩa là, một cơ quan tập thể mà vị đại diện chỉ là một primus inter pares, mặc dù quan điểm này của cha Rua hiếm được nói đến.
Về điều này một thí dụ xảy ra từ 25 tháng Năm 1888, khi Tu Nghị Bề trên bàn thảo đề nghị của cha Alberione là chuyển giao nhà máy in cho các Salêdiêng vốn đã can dự vào việc in Osservatore Cattolico. Cha Rua có khuynh hướng chấp nhận; Cagliero chống lại điều ấy: ngài nhắc nhớ họ rằng Don Bosco không có liên quan đến việc in một tờ báo. Hội đồng thuận theo khóe nhìn của Cagliero. Nếu Tu hội bành trướng và vững vàng dưới thời cha Rua, như Bề Trên Cả, thì nó mắc nợ không nhỏ đối với khuynh hướng cá nhân và sự khôn ngoan trong hình thức lãnh đạo tập thể của ngài.
Ngài nắm quyền với bàn tay chắc chắn. Chúng ta thấy điều này trong những tháng đầu tiên trong chức vụ ấy khi ngài đưa ra "những nguyên tắc" cho Giám tỉnh và Giám đốc về 'việc dùng sổ sách những đặc ân' (8 tháng Sáu 1888),[263] và về 'sổ sách quản trị' (29 tháng Mười Một 1888);[264] Cũng vậy khi ngài đòi các Giám tỉnh, được phát hành qua vị Phó Tổng Bề trên Belmonte, phải hàng năm thăm viếng mỗi nhà vào khoảng tháng Mười Hai/Giêng, để minh định rõ điều gì từng hội viên sở hữu, và xin mỗi Salêdiêng đến tuổi thành niên phải soạn thảo một chúc thư và di chúc, và phải gởi một bản về Turin.[265] Những quy luật này, hẳn được sưu tập với sự trợ giúp của Tu Nghị Bề trên của ngài, được Bề Trên Cả ký nhận và cho phép thích đáng.
Chú thích
[245] G. Alimonda, Jean Bosco et son siècle, được dịch từ tiếng Ý, Nice, Imprimerie salésienne du Patronage St Pierre, 1888, p. 5-6.
[246] Turin, Tipografia Salesiana, 1889, 24 p., FdR 2766 A7-B6.
[247] FdR 2766 D9-10.
[248] FdR 2758 B8-C4.
[249] FdR 2758 C5-D8.
[250] FdR 2758 B6-7.
[251] Thư luân lưu ngày 8 tháng 2, 1888, L.C., p. 3-5.
[252] FdR 3993 B5-6.
[253] «Lettre de l'abbé Michel Rua aux coopérateurs salésiens», Bulletin salésien, tháng Giêng, 1889, p.7-9.
[254] Chứng từ của Melchior Marocco, Positio super virtutibus, 1947, p. 513-514; được lấy từng lời từ E. Ceria, Vita, p. 211.
[255] L.C., p. 30-31.
[256] FdR 4064 B10-C1.
[257] See L.C., p. 70.
[258] Thư luân lưu ngày 29 tháng Giêng, 1889, L. C., p. 30.
[259] Verbali del Capitolo Superiore, FdR 4240 E7.
[260] «Studi letterarii», 27 tháng 12, 1889, L. C. p. 35-44.
[261] Turin, Tipografia salesiana, FdR 3987 D3-5.
[262] FdR 3973 B10-11.
[263] Sự can thiệp được sao chép lại trong Annali II, p. 40-41.
[264] L. C.,. p. 25-29.
[265] Thư luân lưu Belmonte cho các Giám tỉnh ngày 23 tháng Mười Một, 1889. FdR 4064 B2.