16. Đời sống thường nhật của Bề Trên Cả tại Valdocco
Cha Rua, vị Giải tội[266]
Như một quy luật cha Rua khởi sự một ngày với nguyện ngắm cộng thể, lúc 5g30 vào mùa đông và 5 giờ vào mùa hè; sau đó ngài thường ngồi giải tội trong phòng thánh trước kia. Có những vị giải tội khác trong nhà thờ, nhưng theo cha Ceria, hầu hết các hội viên, và đa số những trẻ học nghề và học sinh, vốn tham dự một trong hai Thánh Lễ tiếp sau, đều đến với ngài. Giải tội tiếp tục mãi đến 8 giờ khi chính ngài cử hành Thánh Lễ.
Trong tiến trình phong thánh một số hối nhân trước kia của ngài nói về kinh nghiệm của họ. Ngài thật tế nhị khi tra hỏi; ngài khuyên nhủ ngắn gọn. Ngài thường quy chiếu đến vị thánh của ngày đó hay cử hành phụng vụ. Ngài thường gợi nhắc lời khuyên đã nói lần trước; bằng cách này, tạo nên sự liên tục. Người ta đưa ra hai chứng từ về sự linh hướng của ngài tại tiến trình địa phận. Một trong những chứng từ này đến từ cha Rigoli, cha xứ Somma Lombardo: "Tôi thường xưng tội với ngài. Tôi tín nhiệm ngài hoàn toàn, như nhiều người bạn của tôi đã làm. Khi nghĩ về sự linh hướng ngài ban, qua chính kinh nghiệm của tôi bây giờ, tôi có thể nói rằng nó thật sự được soi sáng và đến từ một linh mục hoàn toàn hiến mình cho Thiên Chúa."[267] Chứng từ khác do giáo sư Phêrô Gribaudi mang lại: "Ngài khởi hứng sự tín nhiệm lớn lao; quá mạnh mẽ đến nỗi, mặc dù vẻ nghiêm nhặt, bạn có thể xưng tội với ngài với một lòng trí thanh thản. Một lần kia, khi tôi cảm thấy cần phải xưng tội chung, tôi đến với ngài và được an ủi rất sâu xa khi ra về."[268] Tại tiến trình Tông Tòa, hội viên Salêdiêng Melchior Marocco cung khai như sau: "Ngài là vị linh hướng của tôi suốt 10 năm, và tôi luôn thấy ngài nhân hậu đáng khen, biết phân định, khôn ngoan và thánh thiện." Đối với cha Rua, tác vụ giải tội có tầm quan trọng cao nhất; khi dấn mình vào đó, ngài không cho phép xảy ra bất kỳ sự gián đoạn nào. Một ngày kia, khi ngài đang giải tội, một ai đó đến bảo ngài rằng một người thanh lịch muốn thăm ngài, ngài trả lời thẳng rằng bất chấp ai muốn thăm ngài, ngài không bao giờ được gọi xa khỏi tòa giải tội.
Còn đối với chính mình, vào một ngày trong tuần, sau khi nghe cha Gioan Tẩy giả Francesia xưng tội, ngài thường thay đổi chỗ, quỳ xuống và xưng tội ngay tại chỗ, mọi người đang đợi đến phiên mình đều có thể nhìn thấy. Trong những cuộc du hành, khi ngày xưng tội đến, ngài thường xin một Salêdiêng ban ơn xá giải. Người này kẻ nọ thường thường khá nhút nhát và cố gắng né tránh, nhưng cha Rua, rất nghiêm trang và kiên quyết, thường bảo người đó là không cần phải khách sáo.
Tiếp khách
Một khi giải tội xong và đã cử hành Thánh Lễ, ngài thường rút về học hành và sẵn sàng tiếp đón quan khách mãi cho đến trưa, niềm nở với bất kỳ ai muốn nói chuyện với ngài. Có thể là một người lỗi lạc nào đó, đôi khi là một Salêdiêng hay một nữ tu, một cặp đã kết hôn, thông thường là một ân nhân, nhưng cũng thường xuyên là một người bình dân, nghèo hèn. Có người tìm lời khuyên, kẻ khác cần an ủi, người khác nữa cần trợ giúp. Sự thông cảm của ngài với những đau khổ của người khác được phản ánh trên khuôn mặt của ngài. Ngài có thể kiên nhẫn lắng nghe những câu chuyện không dứt của họ, khi biết rằng ngài đang cho phép những người đau buồn tìm thấy sự thoải mái nào đó khi họ chia sẻ những âu lo. Ngài có thể rõ ràng cảm động vì sự bất hạnh của những người khác. Các thư ký của ngài đã thấy nhiều người đến với vẻ trầm ngâm, lo âu và buồn bã, song lại đi ra với niềm vui đọng trong ánh mắt của họ. Những cuộc ra vào này tiếp diễn không ngừng mãi cho tới ba giờ. Đức tin sống động và lòng mến hăng nồng của cha Rua ban cho những lời ngài nói sức mạnh làm thay đổi tâm hồn. Cha Ceria đọc một chứng từ của một Salêdiêng linh mục vốn bối rối và thường cần một lời nâng đỡ; ngài viết: "ngòi bút của tôi không thể diễn tả đúng, như tôi từng mong muốn, sự chú ý tế nhị tôi nhận được từ vị đầy tớ Chúa thánh thiện và trung thành, để thốt lên tình yêu tinh tế và bén nhạy nào đã tràn đầy trái tim của ngài khi ngài vươn tới những người bé nhỏ nhất trong con cái mình." Ta nghe thấy một linh hồn tốt lành, và chân thật nào đó đã thốt lên: "Nếu nói chuyện với các thánh mà tốt lành như thế, thì đối diện với Thiên Chúa sẽ ngọt ngào biết bao."
Những lá thư của ngài
Cha Rua viết rộng khắp. Những tập tài liệu trong công hàm Salêdiêng ở Rôma, vốn chỉ chứa đựng một phần nhỏ những thư từ giao thiệp của ngài, chẳng hạn liệt kê, từ tháng Giêng đến tháng Mười Hai 1889, tổng cộng là 42 lá thư được ngài ký gởi cho Caesar Cagliero, vị Tổng Đại diện của ngài ở Rôma. Thư tín của ngài, mà cho đến nay vẫn không được đối chiếu và học hỏi thích đáng, bộc lộ một khía cạnh đặc trưng về hệ thống cai quản của ngài. Như Bề Trên Cả, ngài giữ thói quen của mình là gìn giữ những liên hệ cá nhân với các hội viên của mình không phân biệt. Bao lâu Tu hội chỉ mới có khoảng vài chục hội viên, thì còn dễ giữ những liên hệ như thế. Tuy nhiên, khi bắt đầu có tới cả ngàn người, thì tiếp xúc cá nhân quả nan giải hơn nhiều. Khi Don Bosco chết, mới có hơn kém chín trăm người (900). Dù sao, như Bề Trên Cả, cha Rua cố gắng giữ giao tiếp cá nhân khi con số lên tới 1000, và thậm chí tới 2000 nữa. Không bằng lòng ở việc giao tiếp với Tu hội qua các thư luân lưu, dù với một mối quan tâm hiền phụ đến tất cả mọi người, ngài yêu thích vun trồng cùng một sự mật thiết với từng người, ngay cả những người mà ngài không thực sự biết, qua những thông tin cá nhân trực tiếp hay gián tiếp. Tất cả đều nghiệm rằng họ thoải mái viết cho ngài, và chắc chắn rằng ngài không quên trả lời. Họ thường viết cho ngài về những nhu cầu của mình, thật sự hay tưởng tượng; họ thường trút những âu lo của mình; kẻ khác lại có một yêu cầu. Nếu có một ai dường như muốn bị bỏ quên, cha Rua phá tan băng giá bằng cách mời họ cho ngài biết họ có những tin tức nào.
Một sự giao tiếp cá nhân phong phú như thế, thêm vào những vấn đề nhiệm vụ, muốn nói rằng mọi ngày rất rất nhiều thư từ đến trên bàn của ngài. Mặc dù mắt kém, ngài đọc chúng cẩn thận và hoặc được trả lời cách cá nhân hoặc có một câu trả lời được gởi đi theo từng trường hợp đòi hỏi. Tất cả điều này đòi thời gian và sự sẵn sàng. Để đáp ứng điều này, giữa ba giờ và năm giờ rưỡi ban chiều, ngài thường đi tới nhà một ân nhân. Nơi đây, ngài sẽ không bị quấy rầy, và có thể giải quyết những công việc khẩn cấp nhất. Những người cho ngài chỗ ở cũng rất hạnh phúc khi dành cho ngài một phòng tùy ý sử dụng; tại đây ngài có thể yên tĩnh viết lách. Hai tiếng đồng hồ này thường không đủ; ngài phải tiếp tục trao đổi thư tín vào ban đêm.
Bạn không phải đọc nhiều lá thư ngài viết mới nhận biết văn phong không tô bóng của ngài. Thực thế, số phần trăm đáng kể của chúng là công việc của các thư ký; không chút nào hơn ngài, họ không có ý làm cho chúng thành những kiệt tác văn chương. Nghiên cứu nghiêm chỉnh về các lá thư ấy phải nhớ điều này. Đang khi trong những lá thư của ngài, bạn không thấy bất kỳ điều gì hơn là một văn phong gọn ghẽ từ những năm của ngài như một Phó Tổng Bề trên và đàng khác, bạn cũng không kỳ vọng bất kỳ công trình nghệ thuật về thư tín. Cha Ceria đúng khi nói rằng bạn sẽ vô vọng tìm kiếm những kiểu dát ngọc của trí tưởng hay những ý tưởng hay trình bày độc đáo. Những lá thư cá nhân được viết nhanh gọn, và vì tiết kiệm, thường được viết trên những mảnh giấy nhỏ. Tuy nhiên, người ta thiên về việc xác nhận ý kiến của nhà viết tiểu sử ngài; vị này ca ngợi sự bình thản và tử tế, sự đơn giản và không phô trương rộng mở tâm hồn, sự nồng ấm và thẳng thắn tuôn vào các lá thư. Chúng gợi lên suy tư và lay động những người nhận thư. Cha Ceria đúng khi nói rằng đây là "ngôn ngữ của trái tim."
Tôi tự do lồng vào đây một bản dịch của hai lá thư được ký nhận mà tôi thấy thật ý nghĩa; một lá thư viết vào những năm đầu tiên của ngài như là Bề Trên Cả, lá thư khác viết vào những thời gian cuối. Lá thư đầu đề ngày 5 tháng Sáu 1892, trả lời cho cha Lu-y Cartier (1860-1945), Giám đốc cộng thể ở Nice. Một chút khôi hài đây đó - có lẽ không cố ý - về việc "làm phép" những ảnh đeo do Don Bosco, bốn năm sau khi ngài chết, trao ban cho nó một chút nhấp nháy.
Cha Cartier rất thân mến,
Cha xin trả lời lá thư con viết ngày 24 tháng Năm. 1. Cha gởi cho con 12 ảnh đeo được Cha Thánh làm phép như con yêu cầu. Đây là những ảnh duy nhất cha còn lại. Con hãy gởi chúng cho người phụ nữ đã xin những ảnh được Don Bosco làm phép, và nói cho bà ấy rằng chúng đã được đặt trên giường của ngài. 2. Cha không có thể đọc bài viết về Nguyện xá thánh Giuse, nhưng cha hy vọng mọi sự tiến hành tốt đẹp. 3. Còn đối với việc [làm tuyên úy] cho dòng Thăm Viếng, con có thể thử nghiệm cha Canepa [Giám linh tại Patronage St. Pierre]. Ai mà biết một việc thuyên chuyển có thể tốt cho ngài hay không? 4. Cha hy vọng rằng ngày lễ Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu của con tiến triển tốt đẹp. Cha chúc con mọi phúc lành, đang khi cha vẫn là người cha thân ái của con trong Đức Giêsu và Mẹ Maria, Linh mục Micae Rua.[269]
Thí dụ thứ hai là lá thư đề ngày 7 tháng Ba 1907, trả lời lại một lá thư từ Antôn Aime (1861-1921), Giám tỉnh của Bogota ở Colombia, và là một nhà truyền giáo can đảm như bạn có thể tìm thấy.
Cha Aime rất thân mến,
Những tin vui con gởi cho cha về hội viên thân yêu của chúng ta được chữa lành thật an ủi. Ước gì Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu hoàn tất việc tốt lành đó bằng cách cho ngài khỏe mạnh lại hoàn toàn, nếu điều đó tốt đẹp cho phần linh hồn của ngài và thiện ích của tha nhân - trong lá thư của con đề ngày 27 tháng Giêng con ghi nhận một vài bài viết được xuất bản trong Bollettino tháng Mười Một và Mười Hai là không thích đáng. Ta cảm nhận rằng điều này là đúng, căn cứ vào nội dung của những bài viết này đến hầu như riêng biệt từ thông tin được phát hành trong nước của con, và có lẽ theo lệnh hay với sự đồng ý của chính quyền. Thấy rằng con nay đã viết cho cha về nó, chúng ta không cần nói hơn nữa làm chi - con xin cha 3 linh mục. Nhưng ở đâu chúng ta có thể tìm ra họ? Từ những chỗ khác nhau còn xin nhiều người hơn nữa. Nhưng cho mọi người, chúng ta phải có cùng câu trả lời: chúng ta không thể sai cử họ; chúng ta không có họ - Hãy can đảm và cố gắng nhóm lên ngọn lửa bằng chính củi của con. Đồng thời, cắt bớt sự can dự của con cho hợp với những nguồn lực của con. Trong lúc này cha không quên giữ con trong kinh nguyện của cha. Thân yêu của con trong Đức Giêsu và Mẹ Maria, Micae Rua, linh mục.[270]
Trong mọi trường hợp, cha Rua cho thấy ngài quan tâm đến sự hưng thịnh thiêng liêng của người nhận thư ngài viết. Nếu một ngày lễ đạo nào tới gần, ngài không quên nhắc nhớ đến. Ngài tỏ ra nhạy cảm đặc biệt đối với những người trao đổi thư từ về những ngày lễ quan thày hay sinh nhật của họ. Một tư giáo ở Ecuador xin 12 cuốn cẩm nang để dạy hát; cha Rua liền gởi ngay. Cha Trione, viết từ trường cao đẳng tại Randazzo, ở Sicily, có một yêu cầu cho ngày lễ sắp tới của Giám đốc Phêrô Guidazio (1841-1902): bản văn của bài thánh thi đi kèm với nhạc đã được viết! Cha Rua lập tức xin một ai đó viết những câu và gởi đến đúng lúc cho ngày lễ đó.[271] Ở đó có một số phẩm chất đặc biệt của sự chăm sóc hiền phụ. Micae Borghino (1855-1929), một giám đốc trẻ ở Uruguay, giảng cho hội viên mình về cách thức dịu dàng và tử tế của Thánh Phanxicô Salê và Thánh Gioan Bosco, nhưng một cách có cơ sở, chính ngài lại mang tiếng về việc đối xử rất khác biệt. Một ngày kia, ngài nhận được một gói nhỏ từ Turin: địa chỉ hiển nhiên là chữ viết tay của cha Rua. Ngài mở ra và tìm thấy một lọ mật ong nhỏ với một ghi chú ngắn gọn như sau: "Gởi cha Borghino; con hãy dùng một thìa mật ong mỗi sáng. Cha Rua". Cha Borghino đã trở thành một bề trên mạnh dạn, và xét chung, một Salêdiêng tốt lành.
Những trả lời của cha Rua cho các hội viên tỏ lộ một bình diện hiểu biết sâu xa đối với từng người. Một người có tính tình nóng nảy quá trớn một cách dịu dàng được một người cha xót thương giúp nhìn ra cách sống sai lầm của mình. Như cha Ceria chỉ ra, ngài đôi khi phải giao tiếp với những người kỳ quái thường viết những trang vô nghĩa, thâm tín rằng họ đang giải thích những chân lý Tin Mừng. Nhiều kẻ đã nhìn rồi ném chúng vào sọt rác. Cha Rua không như thế. Đối với ngài, đây là một trường hợp bệnh tật cần được điều trị đúng thực. Một người ốm có thể bị coi là một khó chịu, nhưng người bác sĩ lại chú ý tới người đó suốt. Cha Ceria nói, sau cái chết của cha Rua, ta tìm thấy 115 lá thư từ một linh mục Salêdiêng bị bệnh tâm thần vốn viết những nhận xét vô tận, tầm thường, như thể chúng thuộc về những vấn đề quan trọng vô biên. Cha Rua gởi một câu trả lời rất cẩn thận cho từng vấn đề một. 56 câu trả lời vẫn còn giữ; 59 câu trả lời khác được cho đi như tặng phẩm dành cho những người muốn có một cái gì đó được viết bằng tay của con người thánh thiện ấy. Chúng có thể kết thúc trong tay của bất kỳ ai; nhưng, như nhà viết tiểu sử ngài ghi lại, sự thật thà, hiền dịu, và ly thoát trong những nội dung của chúng chặn trước bất kỳ nghi ngờ nào của tình trạng tâm trí người nhận thư gởi đến.
Có sự chính xác trong các câu ngài trả lời. Ngài ghi ngày giờ chính xác vào thư trả lời, rồi đi xuống từng chi tiết, cho thấy rằng ngài hoàn toàn hiểu nội dung. Nói tắt, các lá thư của ngài, dù đơn giản và không màu mè, là một chứng từ về sự tốt lành hiền phụ và linh đạo chân chính của ngài, được hàm ẩn hơn là minh nhiên. Cha Ceria kết luận: "đối với bất kỳ ai biết ngài, chúng bộc lộ những phẩm tính và nhân đức vốn là của ngài."
Những cử hành hàng năm
Tại chính nhà ngài ở Turin, cha Rua có vị trí cao cả trong tất cả những cử hành khác nhau suốt năm. Từ 1868 trở đi, như vị Phó Bề trên của Nguyện xá, rồi Phó Bề Trên Cả, mỗi ngày 24 tháng Năm bên cạnh Don Bosco, ngài tham gia vào những buổi cử hành tôn vinh Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu. Nay như Bề Trên Cả, ngài phải chủ sự. Như ta biết, từ 1889 trở đi, vào ngày 23 và 24 tháng Sáu, Valdocco tôn vinh cả Don Bosco lẫn cha Rua. Bao lâu còn có thể, ngài chủ sự việc phát thưởng Nguyện xá vào lễ Mẹ Lên Trời. Ngài không bỏ mất việc ngỏ lời cho các học sinh trong nhà thờ trước khi chúng bắt đầu những ngày lễ. Ngài nỗ lực hết sức giao tiếp với người trẻ trong nhà đó, và khi không có trách nhiệm trực tiếp đối với chúng, ngài dùng tối đa mọi dịp để người ta thấy ngài với chúng cả trong nhà thờ lẫn bên ngoài. Chúng đều biết rằng chúng có thể đến gần ngài thường xuyên như chúng muốn. Ngài hạnh phúc để ở quanh chúng suốt giờ giải trí sau cơn tối, và như một quy luật, sẽ nói cho cho các học sinh thuộc những lớp lớn hơn mỗi tuần một lần.
Ngài có những áp lực ngoại lệ phải đối diện từ giữa tháng Tám đến đầu tháng Mười: đây là thời gian dành cho những cuộc tĩnh tâm cho Salêdiêng và Con Đức Mẹ Phù Hộ. Đối với các nữ tu, xuất hiện ngắn ngủi và tối đa, chủ sự ở buổi kết thúc tuần phòng là đủ rồi. Đối với Salêdiêng đó là một vấn đề khác: tại mỗi buổi Tĩnh tâm, ngài phải ở đó suốt. Ngài phải hoàn toàn sẵn sàng cho những người tĩnh tâm, luôn luôn có một con số khá lớn đến Valsalice và Borgo San Martino. Một khi ngài đã cử hành Thánh Lễ - luôn luôn dành cho ngài trong những ngày đó - ngài quen giải tội suốt vài giờ, trước và sau cơm tối. Điều này đè nặng trên ngài; đôi khi ngài xỉu đang khi giải tội, nhưng ngay khi tỉnh lại ngài đi thẳng đến tòa giải tội. Suốt cả ngày, ngài quen tiếp nhận bất kỳ ai muốn nói chuyện với ngài. Phần đa các hội viên không muốn kết thúc tuần phòng mà không gặp ngài cách cá nhân; vì thế, bất kỳ lúc nào thường luôn có một vài người đợi bên ngoài phòng của ngài. Ngài thường tham gia những cuộc giải trí gọi là "điều độ" sau cơm trưa, trò chuyện với những kẻ chung quanh ngài, và mọi tối, sau kinh tối, ngài luôn cho huấn từ tối, một cuộc nói chuyện ngắn song thú vị. Cuối cùng, khi kết thúc tuần phòng, ngài luôn giảng, đưa ra một vài lời khuyên. Thời kỳ hai tháng này vắt kiệt năng lực thể lý của ngài; nhưng khi một ai đó nhận xét về điều này, ngài trả lời: "Đây là mùa gặt của cha". Như cha Ceria thường nói, những mùa gặt tiếp diễn suốt cả mùa.
Nhà viết tiểu sử ngài kết thúc chương của mình bằng vài nhận xét tổng quát về vấn đề tế nhị là sự chỉ định các Giám tỉnh và các giám đốc. Khi cha Rua phải chỉ định một giám đốc hay Giám tỉnh, hay một thành viên mới của Thượng Hội đồng, ngài không chọn người ngài thích, nhưng chọn một hội viên tuân giữ và trung thành với Hiến luật và những truyền thống Salêdiêng. Rồi ngài cầu nguyện và tham khảo cá nhân với từng thành viên của hội đồng ngài. Chung chung, kết quả minh chứng là thích đáng. Có phải chúng ta hoàn toàn chứng thực cái nhìn của Giulio Barberis, được cống hiến tại tiến trình phong thánh, khi ngài tuyên bố: "Tôi không gợi nhớ bất kỳ lời phàn nàn nghiêm trọng nào trong lãnh vực này; trái lại, chúng ta phải ca ngợi sự kiện mọi người sẵn lòng chấp nhận những quyết định của ngài"[272]? Không chút nào. Tôi nói điều này từ chính hiểu biết của tôi về những hệ quả gây buồn phiền trong việc chỉ định ở Pháp của cha Phêrô Perrot và cha Giuse Bologna, từ năm 1904; chúng ta sẽ bàn đến điều đó sau. Dù sao đi nữa, khi xem xét cẩn thận, chúng ta thấy rằng trong mọi trường hợp khó khăn, Bề Trên Cả làm hết sức để giảm nhẹ những vấn đề nảy sinh từ những quyết định được thực hiện khi tham khảo với Tu Nghị Bề trên của mình.
Tóm lại, tại nhà Valdocco, với những người chung quanh, với nhiều người lạ đến thăm ngài, và với người trẻ trong trường, cha Rua nghiêm khắc và thánh thiện luôn là người cha tử tế nhất, hoàn toàn quên mình, là mọi sự cho mọi người, như vị thày Don Bosco, nếu còn sống, đã từng muốn thấy ngài như thế.
Chú thích
[266] Để miêu tả đời sống thường nhật của Bề Trên Cả ở Valdocco, tôi theo rất sát chương của cha Ceria về “daily and periodic occupations” (Vita del Servo di Dio, p. 198-206). Nhà sử học đáng tin này nói như một nhân chứng được thông tin rõ ràng, và tôi tin là đáng tin khi ông làm những nhận xét. Không may, bản văn của ngài và vì vậy cũng của chúng ta, nói chung lại thiếu những quy chiếu chính xác mà trong một vài trường hợp thì rất đáng tiếc.
[267] Positio 1935, Summarium super dubio, p. 134.
[268] Positio 1935, Summarium super dubio, p. 257.
[269] FdR 3879 C11.
[270] FdR 3836 B4-5.
[271] Suốt thời gian cha Rua như Bề Trên Cả, cha Phêrô Guidazio (1841-1902) làm giám đốc tại Randazzo từ 1889 cho đến khi chết năm 1902.
[272] Positio 1935; Summarium super dubio, p. 377.