3. Học triết học
Micae và triết học
Tháng Bẩy 1853, Micae được nhận vào học triết lý tại chủng viện ở Turin. Nói cho đúng đó là một chủng viện nghèo, nạn nhân của những phong trào cách mạng năm 1848. Bất chấp những lệnh của Tổng Giám mục Fransoni được lập đi lập lại, các chủng sinh vào cuối năm 1847 và đầu năm 1848 tiếp tục nhiệt tình ủng hộ những cuộc biểu tình ái quốc. Tổng Giám mục, vốn có bản tính bảo thủ, nhìn thấy nơi những khuynh hướng tự do này một cuộc tấn công về quyền bính, quyền bính của Nhà Nước và Giáo hội. Tổng Giám mục đó đe không chấp nhận phong chức [linh mục] cho những ai vi phạm.
Các chủng sinh đơn giản chỉ làm chai đá lập trường của họ. Trong nhà thờ chính tòa vào lễ Giáng sinh, một vài chủng sinh làm thánh lễ đại triều của Tổng Giám mục thành buồn nôn bằng những chiếc nơ hoa hồng nặc mùi ái quốc được gắn trên ngực của họ. Không thể chịu được tinh thần phản loạn này, Giám đốc Đại chủng viện xin từ chức; nhưng Tổng Giám mục Fransoni nhanh chóng từ chối. Sự công khai ủng hộ không xẹp dần. Ngày 9 tháng Hai 1848, khi Hiến pháp Statuto được công bố ở Turin, các giáo sĩ lại túa ra trong thành phố với ngực hay mũ lưỡi trai gắn đầy hoa hồng ba mầu. Vài ngày sau đó họ làm y hệt như thế, vỗ tay cuộc diễu hành của những nhóm thế tục. Và thế là, tất cả các tư giáo đã tham gia vào những cuộc biểu tình này bị từ khước cho chịu chức; Đức Tổng Giám mục quyết định mạnh mẽ là đóng cửa chủng viện Turin. Các chủng sinh về nhà. Một số tìm đến những địa phận gần bên. Và rồi khi chiến tranh bùng nổ, quản trị dân sự biến chủng viện thành nhà thương quân đội. Vị Tổng Giám mục, vốn đã bị cầm tù một thời gian ở Fenestrelle, rốt cục bị buộc đi đày ở Lyon. Vì thế, khi Micae vào chủng viện như một sinh viên ngoại trú, chủng viện phần lớn vẫn bị chiếm đóng. Ngài đi tìm các giáo sư của mình trên các gác xép; họ sinh sống ở đó.
Suốt niên khóa 1853-1854 các giáo sư của ngài là cha Cypriano Mottura và Giuse Farina, được một người kèm, kinh sĩ Berta, trợ giúp. Rua để lại cho chúng ta hai sách bài tập từ thời đó, tựa đề: Quesiti di Logica 1853-1854.[45] Đó là một 'cua' học được đọc cho viết; nó được viết cẩn thận, về tiến trình hiểu biết và minh chứng những kết quả của nó. Người chủng sinh chúng ta học để yêu thích những câu cú rõ ràng, những bài tường trình có câu cú hẳn hoi, phân loại sáng suốt và nhất quán hoàn chỉnh. Trong tương lai, các hội viên của ngài sẽ lưu ý đến điều này. Trong năm triết học thứ nhất, ngài cũng học vật lý, những ghi chú về điều ấy hiện vẫn còn.
Tuy nhiên học hành chỉ chiếm một phần nhỏ thời gian của Micae thôi. Hằng ngày chỉ có hai giờ lớp tại chủng viện. Rua phải chăm lo hộ trực tổng quát tại nhà Nguyện xá Thánh Phanxicô Salê. Ngài giám thị trong phòng học, nhà nguyện, sân chơi và nhà cơm. Thêm vào điều đó vào phút cuối là lớp giáo lý hằng tuần và việc chăm lo thư viện được ráp vào với nhau. Năm 1854 khi Don Bosco tạo nên một hội nghị nho nhỏ Thánh Vinh Sơn Phaolô, một điều đã khởi động ở Turin chỉ mới bốn năm trước, thì ngài đảm trách vai trò thư ký và tổ chức công cuộc giúp đỡ người nghèo trong khu vực đó.[46]
Một biến cố quan trọng ghi dấu những tháng ngày đó đối với ngài. Ngày 26 tháng Giêng 1854, khi gần đến lễ Thánh Phanxicô Salê, Don Bosco, vốn khăng quyết với ý tưởng thành lập một hội để phục vụ công cuộc của mình, gom bốn em trong những thiếu niên xuất chúng hơn lại trong phòng mình: các tư giáo Micae Rua và Giuse Rocchietti, cộng thêm Giacôbê Artiglia và Gioan Cagliero là những thiếu niên vào thời đó, và đề nghị, như ta đọc thấy trong một ghi chú do Rua, “với sự trợ giúp của Thiên Chúa và Thánh Phanxicô Salê, dấn thân trải nghiệm việc thực thi bác ái cụ thể đối với cận nhân, để cuối cùng làm một lời hứa, và sau đó, nếu có thể và thích hợp, khấn với Chúa.”[47] Như vậy Tu hội Salêdiêng tương lai đã bắt đầu hình thành.
Ba ngày sau, vào chiều tối ngày lễ Thánh Phanxicô Salê, cả bốn thiếu niên xuất hiện tại một nghi thức trao giải thưởng thuộc loại đặc biệt. Suốt tuần, học sinh được mời gọi viết xuống trên một mảnh giấy bốn hay năm tên bạn học của mình mà chúng cảm thấy nổi bật về cách cư xử gương mẫu trong tôn giáo và luân lý. Những tờ giấy được ký tên. Một danh sách được Don Bosco ký nhận cho chúng ta biết rằng “năm đó Micae Rua và Giuse Rocchietti được chọn do biệt lệ cho giải thưởng long trọng kính Thánh Phanxicô Salê. Giữa những học sinh, các giải thưởng đến cho: Bellisio, Artiglia, Cagliero. Những người kiểm phiếu: người anh lớn giữa các anh em Turchi, Angelo Savio, Pepe L., Comollo.”[48]
Loại đầu phiếu rất dân chủ này là một trong nhiều cách thức Don Bosco cố ý khích lệ các thiếu niên trở nên những Kitô hữu tốt. Để hoàn thành mục tiêu, ngài nghĩ không gì xứng đáng hơn một gương sáng sống động, nhưng cũng là một gương sáng được nói đến hay viết xuống. Chính vì thế trong Catholic Readings, cùng tháng Giêng 1854, trong một ấn bản khác được thích ứng cho phù hợp, ngài xuất bản một câu chuyện về một người trẻ được ca ngợi và yêu mến, một người ngài đã biết tại chủng viện ở Chieri. Đời sống của Lu-y Comollo “chết tại chủng viện Chieri, và được mọi người ca ngợi bởi vì những nhân đức của cậu” là một cái gì mà ngài thường đề xướng để xây dựng các người trẻ của ngài. Chúng ta có thể bảo đảm rằng tư giáo Rua suy nghĩ nhiều về điều này, vì chúng ta tìm được một ghi chú dài về “những gương sáng” từ Lu-y Comollo được kẹp vào một trong những vở ghi chú triết học của ngài.
Chăm sóc những bệnh nhân nhiễm dịch tả
Những ngày hè là một cái gì sống động cho một ai bất ngờ phải bắt đầu chăm sóc những bệnh nhân nhiễm dịch tả. Chúng ta hãy nhìn vào bối cảnh đó một chút.[49]
Ngày 21 tháng Bẩy 1854, một áp phích từ Thị Trưởng dán lên những góc phố của Turin công bố những quy luật vệ sinh phải tuân giữ ở nhà, tại xưởng thợ, những quán trọ căn cứ vào bệnh dịch tả sắp đến trong thành phố. Luật pháp nói: dành cho “những ai đã nhiễm bệnh”. Phải thiết lập những nhà thương đặc biệt gọi là lazaretti (thời gian cách ly hay đơn vị cách ly, quarantine or isolation units) để cách ly người bệnh. Dân cư Valdocco học biết rằng chính quyền thành phố đó đã đặt một ngôi nhà lớn ở Borgo Dora để sử dụng cho việc này. Nhà thương này chứa được 150 giường và được cung cấp với một khu vực gắn liền vào dùng làm như một nhà thuốc, nhà bếp, khu vệ sinh, một chỗ để tẩy uế và những phòng cho nhân viên phục vụ. Báo chí thông tin liên tục về tình trạng lây lan. Vị Tổng Đại diện của địa phận, Đức ông Ravina, truyền những chỉ thị của Chính quyền bằng luân thư cho các cha xứ, yêu cầu họ cộng tác. Đồng thời các linh mục ở Turin có thể đọc một tác phẩm nhỏ chứa đựng những chỉ thị từ Tổng Giám mục miền Genoa cho các hàng giáo sĩ của mình: những phương cách ngừa bệnh và vệ sinh, những cách giúp đỡ với sự thực thi tác vụ, và cấm họ chạy khỏi thành phố. Thực vậy cám dỗ đào thoát thật mạnh mẽ. Ngày 3 tháng Tám, theo thống kê của công ty Railway, một phần tư dân cư của Turin đã rời bỏ thành phố.
Tại Nguyện xá Thánh Phanxicô Salê, tư giáo Rua cảm thấy hoàn toàn được can dự. Ngay từ giây phút báo động đầu tiên, Don Bosco đã tổ chức nhà đó để xử lý sự lây lan. Những khu vực ở đó khoảng một trăm thiếu niên sống được thích nghi và sạch sẽ. Ngài tăng gấp đôi khăn trải giường để dễ dàng thay đổi và giặt giũ. Vào cuối tháng Bẩy bệnh dịch bắt đầu tàn phá thành phố và chạm đến khu vực gần Nguyện xá, Borgo Dora; tai họa này đúng là tàn sát dân cư tại đó. Hàng giáo sĩ chính quy và địa phận quảng đại hiến thân phục vụ những bệnh nhân dịch tả. Cha xứ của Borgo Dora đặc biệt nổi bật. Giáo dân bỏ mặc người bệnh: theo một nhân chứng, có tới tám trăm người, mà năm trăm người đã chết giữa đường qua tháng Mười. Không bằng lòng với việc ban các bí tích cho bệnh nhân, các linh mục giúp đỡ phục vụ như những y tá liều mất mạng sống mình. Linh mục xứ, cha Augustinô Gattino, trả giá cho sự tận hiến của mình với nhiều đau đớn.
Don Bosco thâm tín rằng chỉ giới hạn vào việc bảo vệ công cuộc của mình khỏi tai họa nguy hiểm như thế thì không đủ. Chính quyền thành phố đang tìm kiếm những y tá thiện nguyện. Ngày kia, ngài hỏi các thiếu niên của mình: “Ai muốn đi giúp những người bị bệnh dịch tả tại lazzaretto và ở nhà riêng?” Như vậy ngài có thể đưa 14 tên cho chính quyền. Chúng ta không có danh sách đầy đủ nhưng biết rằng giữa họ chắc chắn có Rua 17 tuổi đầu, Cagliero 16 tuổi và Anfossi 14 tuổi. Don Bosco cho những y tá trẻ này những chỉ thị thực hành. Trong tất cả sự cái nhiên, ngài giải thích rằng bệnh này có hai giai đoạn. Lúc đầu có một cuộc tấn công đột ngột mà thường minh chứng là chí tử nếu không có được những trợ giúp ngay tức khắc; rồi có một thời kỳ phản tác dụng mà trong thời kỳ đó cố gắng tái lập sự tuần hoàn máu huyết. Người chăm sóc nạn nhân bệnh dịch phải chiến đấu cuộc tấn công bằng cách cố gắng đưa ra một phản tác dụng nhanh bao có thể, rồi giữ phản tác dụng đó tiếp tục một cách thích hợp. Vào lúc đó, những phản tác dụng này được sản sinh do việc áp dụng đun sôi thuốc đắp và bằng xoa bóp mạnh, cuốn tay chân người bệnh bằng len ấm vì họ thường chịu những chứng vọp bẻ và mất nhiệt.
Ngài sắp đặt một thời khóa biểu và các thiếu niên rải rắc, một số đến lazzaretto tại Borgo San Donato, số khác đến các nhà trong khu vực đó. Có những cuộc đi đi về về ngày và đêm tại Nguyện xá. Những người trẻ của Don Bosco can đảm thực thi trách vụ mới của mình, chắc chắn rằng chúng sẽ không nhiễm bệnh, tuân thủ cẩn thận những lời khuyên của giám đốc của mình: chú ý đến sự sạch sẽ, nhưng nhất là xa lánh tội lỗi và phó mình cho Đức Maria.
Do vậy một kinh nghiệm hoàn toàn mới cho tư giáo Rua bắt đầu. Nhưng trước hết ngài phải vượt thắng sự ghê tởm của mình trước cảnh những người đau bệnh dịch. Ngài viết cho Don Bosco vào cuối năm đó, miêu tả điều mình đã thấy và nghe: “Ồ, một con đường đáng sợ biết bao đi tới sự chết dành cho những kẻ chịu khổ vì bệnh dịch tả. Nôn mửa, kiết lỵ, vọp bẻ cánh tay và đầu gối, nhức đầu, khó thở, ngạt hơi... mắt đỏ ngầu, mặt thâm tím, rên rỉ và co giật; nói tóm, nơi những người không may này con thấy tất cả nỗi đau mà một người có thể chịu mà không chết.” Tờ báo Armonia ngày 16 tháng Chín dành một đoạn cho những người trẻ từ Nguyện xá trong bài tường thuật về đức ái của hàng giáo sĩ vào một thời bệnh dịch:
"Được sinh động bởi tinh thần của Don Bosco là người cha, hơn là vị bề trên của mình, chúng tiếp cận những người đau bệnh dịch tả, đầy can đảm, khởi hứng sự tin tưởng và can đảm nơi chính những người chịu bệnh, không chỉ bằng lời mà cả bằng việc làm của chúng, phục hồi họ trong cánh tay mình, xoa bóp họ, mà không tỏ ra chút sợ hãi hay kinh tởm trước cảnh tượng đó. Trái lại, một khi họ vào nhà của một ai đang bệnh, họ đi thẳng tới những người mất tinh thần vì kinh hãi đó, đề nghị họ rời khỏi nhà nếu họ khiếp hãi, đang khi họ mặc lấy mọi sự cần thiết, trừ phi họ xử lý với một ai thuộc phái yếu hơn, mà trong trường hợp đó họ xin một ai từ căn nhà đó để ở với họ, nếu không phải bên cạnh giường, ít nhất là tại một điểm tiện lợi nào đó. Nếu người đó chết và không phải là một phụ nữ, họ hoàn tất mọi thứ tẩn liệm thân xác.”[50]
Không một y tá thiện nguyện nào từ Nguyện xá bị nhiễm bệnh dịch tả. Sự tận hiến của họ tạo ấn tượng lớn trên thành phố.
Năm thứ hai triết học
Đang khi ngài, một chủng sinh duy nhất của khóa đó, chuẩn bị cho năm triết thứ hai, vị tư giáo của chúng ta dường như thoạt đầu không mấy chú ý đến một học sinh mới ở Valdocco, Đaminh Savio. Nhưng chẳng bao lâu ngài đổi tâm trí. Thầy giáo của ngài, cha Cugliero, giới thiệu cậu đến với Don Bosco. Cậu là một thiếu niên nổi bật vì thông minh và đạo đức. “Có nhiều thiếu niên ngang bằng với cậu trong nhà, nhưng không ai tốt hơn cậu trong tài năng hay nhân đức. Hãy thử đi và bạn sẽ thấy một thánh Lu-y khác.”[51] Đaminh muốn theo cùng một khóa học mà Micae đã theo bốn năm trước. Một ngày kia ngài sẽ làm chứng rằng “từ những tuần đầu cậu ở tại Nguyện xá,” ngài đã khám phá rằng “mình ngày một kính trọng Đaminh hơn”. Một “tình huynh đệ” buộc họ lại với nhau.[52] Giữa năm 1854 và 1857, Đaminh là một học sinh của giáo sư Bonzanino, rồi cha Picco, với một năm xen giữa ở đó cậu đi học tại chính Nguyện xá.
Từ mùa xuân 1854, Rua can dự vào mọi Chúa Nhật tại Nguyện xá Thánh Lu-y gần ga Porta Nuova. Điều này có nghĩa rằng hai lần trong ngày ngài cuốc bộ khá xa. Đang khi đó vai trò của ngài tại Nguyện xá Thánh Phanxicô Salê mặc lấy tầm quan trọng lớn lao hơn. Một học sinh thời đó làm chứng: “Điều làm tôi kinh ngạc rất nhiều khi tôi vào Nguyện xá năm 1854 với Đaminh Saviô, là thấy rằng Don Bosco tự ý cho Rua cả đống việc, đang khi có những người khác, chẳng hạn tư giáo Rocchietti, lớn tuổi hơn ngài và được thích ứng hơn để đảm nhận. Tôi thật sự hoàn toàn kinh ngạc khi thấy sự ưu ái này đối với tư giáo Rua, nhưng rồi tôi trở nên biế rõ ra sao ngài lại là người được thật sự yêu mến giữa tất cả thiếu niên và chúng kính trọng ngài như một bề trên và đại diện của Don Bosco vốn hiển nhiên dành một sự kính trọng và yêu thương đặc biệt đối với ngài.”[53]
Những lời khấn riêng tư của Micae Rua
Dần dần, Don Bosco huấn luyện cậu trẻ Rua, cùng với những người khác. Nghiễm nhiên, Rua chuẩn bị mình đi vào Tu hội mà Don Bosco đang hoạch định. Vào mùa xuân, được vị linh hướng và giải tội cho phép, ngài bắt đầu hiệp lễ hằng ngày.[54] Những tháng này là một thời gian thực tập thiêng liêng, nhà tập của ngài, nếu bạn muốn, một điều đã có nghĩa là những huấn đức về những đề tài giáo lý biệt loại và những thực thi thích hợp. “Những huấn đức” Don Bosco nói trong phòng ngài vào chiều tối Chúa Nhật, thường là sau kinh tối. Tương lai toàn bộ của công cuộc ngài được trói buộc với nhóm môn đệ nhỏ bé đó mà ngài muốn chậm chậm đào luyện, theo lý tưởng giáo dục của mình. Việc thực thi mà ngài xin chúng làm là những gì chính ngài đã làm: những ngày miệt mài làm việc giữa thanh thiếu niên của Nguyện xá, cầu nguyện chung, cử hành phụng vụ, huấn giáo, những lớp tối, hộ trực, những trò chơi đầy khí lực. .. Ngài không yêu cầu gì ngoài sự tận hiến hoàn toàn phục vụ các thiếu niên bị bỏ rơi, năng đến với các bí tích và một chương trình nghiêm chỉnh gồm những việc đạo đức, như viếng Thánh Thể. Đấy là những thực hành giống như được đề nghị cho các thiếu niên tại Nguyện xá. Giáo lý của ngài giới hạn vào điều này. Ngài không ngụy tạo hơn. Phần còn lại ngài trao vào tay Chúa. Và ân sủng làm việc trong chúng qua gương sáng của ngài. Don Bosco tới lui, cầu nguyện, pha trò, làm việc dưới chính con mắt của chúng. Chúng chỉ phải lựa ra giáo lý hiện lên từ cuộc đời ngài. Rua nuôi dưỡng cõi lòng và nhãn quan, đang khi suy nghĩ thật lung tất cả những bài học nhân đức câm lặng này. Ngài thường thán phục Don Bosco tại bàn quì hay tại Thánh Lễ, rất sốt sắng, chìm ngập trong cầu nguyện khiêm cung và tin tưởng. Ngài thấy Don Bosco luôn đầy sự khôi hài trong sân chơi và nhà cơm, chỉ quan tâm đến việc giữ một tinh thần vui tươi giữa thanh thiếu niên. Nếu thấy Don Bosco trên đường phố, ngài khám phá ra một người không bao giờ bỏ lỡ một dịp để tiếp xúc với giới trẻ. Ngài bị đánh động vì Don Bosco thật tự nhiên và tốt bụng trong đời sống thường nhật, vì sự khôi hài kiên định, cũng như vì sự lịch thiệp luôn niềm nở của ngài. Nếu nói chuyện với Don Bosco trong sự thân mật của căn phòng, thày Rua ra đi trong hạnh phúc vì cuộc gặp gỡ phụ tử và tình bạn chân chính. Nó là lối sống tốt đẹp trong bóng của Don Bosco.
Lợi nhuận thiêng liêng thật mau chóng và nghiêm chỉnh, đến nỗi vị thầy chẳng bao lâu phán đoán người môn đệ đã sẵn sàng cho một quyết định lớn lao. Vào chiều tối lễ Truyền Tin 25 tháng Ba, 1855, trong căn phòng khiêm tốn của Don Bosco, Micae Rua, một chủng sinh năm triết học thứ hai, đã khấn riêng ba nhân đức nghèo khó, thanh khiết và vâng phục trong tay của đấng là người cha của mình trong đức tin. Không chút phô trương và nghi thức long trọng. Một linh mục đứng một bên và ở một bên, một tư giáo quì trước thập giá thì thầm một công thức mà văn phong của nó ta không biết. Không có các chứng nhân. Cha Auffray cẩn trọng viết: “ngay cả giữa bốn bức tường này, một điều lớn lao vừa xảy ra... Những cội rễ tăm tối đó của những công cuộc mà ở đó Thiên Chúa cho thấy rằng Ngài thật sự hài lòng, luôn luôn như thế."[55]
Chú thích
[45] Cf. Những tập ghi chú này trong FdR 2720B5-2721C5.
[46] Bá tước Carlo Cays, chủ tịch của Hội nghị độc nhất ở Turin sẽ nhìn nhận Nguyện xá Thánh Phanxicô Salê, Conference ngày 11 tháng Năm, 1856 như Amadei đã ghi chú. I, 73.
[47] Ghi chú được Rua ký nhận trong FdB 1989C10.
[48] Như Lemoyne viết trong MB V, 12. Về thông tin này, giả sử rằng nó thật sự từ Don Bosco, chúng tôi ghi nhận rằng hơn là một dấu hiệu phi lý trong việc đăng ký, dấu hiệu của nó về sự tuyển chọn "luật trừ" hai tư giáo chỉ có thể đến từ Lemoyne.
[49] Đối với đoạn về dịch tả ở Turin năm 1854, tôi rút các ghi chú từ cuốn sách Don Bosco en son temps của tôi, 399-408.c
[50] "Tường trình về đức ái của các hàng giáo sĩ và thời gian dịch tả", L'Armonia, anno VII, n. 112, 16 tháng Chin, 1854, 521. Bài viết này được thuật lại phần nào trong MB V, 114-116.
[51] G. Bosco, Vita del giovanetto Savio Domenico, allievo dell'Oratorio di San Francesco di Sales, Turin, Tip. G. B. Paravia and Co., 1859, 34.
[52] Lời Don Rua cung khai tại tiến trình thâu thập thông tin cho việc phong thánh Đaminh Savio, Summarium, 152.
[53] John Battista Piano, được Amadei trích dẫn, I, 57.
[54] Đoạn này về sự chuẩn bị thiêng liêng của thanh niên Rua để tuyên khấn lần 1, theo chặt chẽ bản văn của Auffray mặc dù đúng thật, nó có chút ít tưởng tượng và 'nặng', nhưng những hình ảnh thì đẹp. Auffray, 41-43.
[55] Auffray, 43.