FMA Logo

4. Khai sinh Tu hội Salêdiêng



Học thần học

Đầu niên khóa 1855-1856, tư giáo Rua bắt đầu học thần học bằng cách dự lớp tại chủng viện. Các thầy giáo của ngài là cha Francesco Marengo, tác giả De institutionibus theologicis (Thần học căn bản) và cha Giuse Molinari, tác giả De sacramentis in genere (thần học bí tích). Có hai giờ lớp ban sáng và một tiếng rưỡi ban chiều. Thêm vào đó là một bài học riêng tiếng Hy lạp hay Do thái hai hay ba lần một tuần với Giáo sư về Đông Phương học tại đại học, cha Amedeo Peyron. Thực sự ngài rất thích đọc và hiểu Kinh Thánh. Cùng lúc đó ngài chuẩn bị thi phương pháp dạy học, như chúng ta có thể thấy từ sự hiện diện trong những sách bài tập bằng tiếng Pháp, toán học và khoa học tự nhiên trong thời kỳ đó.[56] Micae thật sự can dự nhiều vào công việc trí óc.

Ngài đặc biệt chú tâm đến thần học. Ta lưu giữ được bốn cuốn trong những sách bài tập của ngài, với tựa đề De Religione. Chúng bắt đầu bằng cách phân biệt tôn giáo như được thực hành (thờ phượng), rồi cho thấy cần phải có Mạc khải, tính toàn vẹn và chân lý của Cựu cũng như Tân ước vốn chuyển giao mạc khải này. Khi phán đoán từ chữ viết tay cẩn thận, khóa học dường như đã được đọc cho viết. Nó cố gắng minh chứng rằng chỉ có một tôn giáo mạc khải chân chính là Kitô giáo của Giáo hội Công giáo. Cuối cùng, chủng sinh của chúng ta tóm tắt khảo luận với 31 trang về những mục tóm lược vốn bộc lộ một người rất ưa chuộng sự rõ ràng và nhất quán.

Khảo luận De Deo uno et trino, vốn theo sau khảo luận về thần học căn bản De Religione, chắc chắn được để lại tới những năm sau này. Dường như cha Giuse Molinari đảm trách các khóa học theo một chu kỳ, và đã lập tức bắt đầu truyền đạt những bài học về bí tích cho sinh viên của mình, khởi sự với khảo luận De gratia. Thực vậy, chúng ta tìm thấy trong Công Hàm Salêdiêng một nghiên cứu, được Rua viết, dầy 206 trang về ân sủng, một vấn đề cốt yếu trong Giáo hội vào thời đó. Điều này được theo bằng một loạt ghi chú dài, khá gọn gàng về Thánh Thể (96 trang). Các bí tích được bàn đến cách tổng hợp hơn trong những bản viết tay này: chúng ta tìm thấy một sơ đồ nhất lãm dài hai trang về Phép Rửa Tội, 34 trang ghi chú về Xưng tội và 17 trang về Xức Dầu. Tất cả được viết bằng Latinh kinh viện, như thói quen của thời đó; phân tích những bản văn này cho phép hiểu biết hơn về tư duy của Don Rua suốt đời linh mục của ngài.

Sự khai sinh của một tu hội trong một bối cảnh xáo động

Đang khi đó Don Bosco tư lự. Công cuộc của ngài được kiện cường với việc cha Vittorio Alasonatti đến Valdocco vào tháng Mười 1854. Alasonatti là một linh mục thuộc luống tuổi trưởng thành. Don Bosco đặt ngài làm người trợ giúp mình và cho ngài tước vị Phó Bề trên. Trong khi đó ngài bắt đầu đưa vào một cơ cấu rõ ràng hơn cho những nhịp điệu và hoạt động của nhà và toàn cơ sở. Nhưng ngài sẽ thành công để kiến tạo một Tu hội mà dường như cốt yếu để hướng dẫn công cuộc của các Nguyện xá hay không?

Từ quan điểm chính trị, thời buổi đó dường như trái ngược với một sáng kiến như thế.[57] Giữa tháng Mười 1854 và tháng Năm 1855, Chính quyền Piedmont được Bộ Trưởng Tư pháp và Nội vụ, Urban Rattazzi, dẫn dắt đặc biệt, đã cải thiện một luật về những tu viện và đã thảo luận nó trong Quốc hội. Nó nhằm bài trừ các dòng tu nam nữ trong lãnh thổ đó, cách riêng “những dòng khất sĩ” mà, theo các nhà tự do, có hại cho nền đạo đức trong quốc gia và “trái với luân lý lao động tân tiến”. Luật mới tước lột các thầy tu mọi tài sản. Phe hữu giáo sĩ phản ứng bằng cách cáo giác sự vi hiến và những giao ước với Tòa Thánh, và trình bày luật đó như một cuộc tấn công có chủ tâm đến quyền thiết lập các hiệp hội và sở hữu tài sản, một tiền thân cho chủ nghĩa xã hội và cộng sản đang xâm nhập vào quốc gia. Cùng lúc, cánh tả cực đoan kết án chủ nghĩa ngu dân giáo sĩ, và gợi nhớ cái kết tận của Giordano Bruno, triết gia thế kỷ 17 bị tố cáo là lạc giáo và bị thiêu sống; họ gây lên tranh cãi chống lại trát đòi Galilêô, một tâm trí tân tiến nữa, và chống danh sách các sách bị cấm đọc. Rồi lợi dụng cuộc tranh cãi đã bùng lên quanh luật được đề nghị, họ tố cáo các Giáo hoàng, giữa đó là Đức Piô IX, dưới sự bảo hộ của Pháp, đã luôn đóng vai người xa lạ trước sự bất lợi của Ý. Nhằm khơi rộng luật mà họ coi là quá yếu, họ yêu cầu đàn áp những tu hội hiện có: cùng với những tu sĩ chiêm niệm và khất thực, cũng cần phải loại đi những nhóm dành để rao giảng và dạy học. Họ nhấn mạnh rằng tất cả những của cải của Giáo hội phải được làm thành tài sản của chính quyền đô thị hay tỉnh... Nói tắt, bầu khí thật sôi động.

Ở cuối một loạt những biến cố, luật Rattazzi được hai Viện phê chuẩn và được Vua ký ngày 29 tháng Năm 1855. Những công cuộc ở trong Vương quốc Sardinia và lệ thuộc vào các tu sĩ không dành để giảng dạy, giáo dục hay giúp đỡ người nghèo thì không còn được công nhận như những thực thể luân lý nữa; thực sự chúng không còn hiện hữu. Người ta cần lướt qua danh sách được đính kèm với sắc lệnh áp dụng của luật đó để hiểu sự mất phương hướng về tâm lý do điều này mà ra tại Piedmont: hai mươi mốt tu hội nam và mười bốn tu hội nữ bị luật đó ảnh hưởng. Don Bosco thốt lên trong một lá thư gởi cho một người bạn: “Hoang mang biết bao! Buồn bã kinh khủng! Thực sự, biết bao kẻ bất hạnh bị chặt phăng!”[58]

Luật này đã là một điểm quy chiếu liên lỷ đối với Don Bosco. Ngài đã sợ gán cho các cộng sự viên của mình một tính ngữ các thầy dòng; nó đã khiến ngài tránh một sự tương đồng của thực thể luân lý cho tu hội của mình; người ta đề xuất cho ngài bằng mọi giá ngài phải giữ những quyền lợi dân sự cho những phần tử của mình. Những quyền lợi này đã phân biệt hội của ngài khỏi bất kỳ nhóm tu sĩ khác.

Magarita Bosco và Đaminh Savio qua đời

Chủng sinh Rua, trong năm thần học thứ nhất bị tác động do cái chết của ba người rất thân thiết của ngài.

Ngày 5 tháng Mười Một 1856, mới 28 tuổi đời, cha Phaolô Rossi, Giám đốc của Nguyện xá Thánh Lu-y tại Porta Nuova nơi đó Micae đến mỗi sáng Chúa Nhật, qua đời vì nhiễm trùng phổi. Gánh nặng đè trên ngài và ngài thực thi nó tốt nhất bao có thể.[59]

Cha Alasonatti đã đến nhà Nguyện xá Thánh Phanxicô Salê, việc ấy cuối cùng đã chuyển Mẹ Magarita của Don Bosco đến phòng làm việc riêng của bà. Bà đã từng là người quản trị nhà một thời gian lâu. Các thiếu niên và khách khứa không hề quên bà, nhưng bà đã về hưu. Vào tháng Mười Một 1856 bà bị đánh gục vì viêm phổi trầm trọng. Từ lúc đó, Joan Maria Rua liên lỷ ở bên giường bệnh của bà, cùng với chị của Magarita, Marianne Occhiena. Cả nhà cầu nguyện xin cho bà bình phục. Mọi người sống giữa sợ hãi và hy vọng một vài ngày. Các trẻ lần lượt đến phòng bà hầu như bất kỳ giờ nào, nghe ngóng tin tức. Mỗi tối cộng thể đợi tin từ Don Bosco và cha Alasonatti. Con bà là Giuse đến từ Castelnuovo. Âu lo gia tăng khi bà được ban bí tích xức dầu bệnh nhân. Cuối cùng, mẹ Magarita qua đời ngày 25 tháng Mười Một. Ma chay giản dị nhưng cảm động. Thánh lễ trọng thể được cử hành tại nhà thờ Nguyện xá. Các em buồn khóc đi sau quan tài tới giáo xứ; những câu của bài Miserere được thay đổi với chút âm nhạc từ ban kèn của Nguyện xá. Đám tang chầm chậm tiến bước, tạo nên một ấn tượng lớn trên người qua lại. Bà Gastaldi nói bà chưa bao giờ dự một đám tang cảm động đến thế.[60] Có một hệ quả quan trọng đối với gia đình Rua: vào cuối thập niên 50, Joan Maria đã trở thành “mẹ Magarita” thứ hai đối với các trẻ của Don Bosco.

Cái chết thứ ba ảnh hưởng Nguyện xá là cái chết của Đaminh Saviô. Vào ngày 8 tháng Sáu trước, cùng với những tư giáo Micae Rua và Giuse Bongiovanni, Đaminh đã thành lập Hội Mẹ Vô Nhiễm. Một ít quy luật đã được soạn ra, pha trộn với những quyết định thực tiễn, để cải thiện bầu khí thiêng liêng của toàn công cuộc. Don Rua đã nói tại tiến trình phong thánh cho thiếu niên đó: “Niềm kính trọng lớn lao” mà Micae dành cho Đaminh đã gia tăng “khi Hội này đã được thiết lập.”[61] Đaminh đã luôn có một sức khỏe đáng ngờ. Ngày 1 tháng Ba 1857 bị nhiễm trùng phổi cậu buộc phải rời cộng thể và trở về gia đình. Sáng đó cậu đã tham dự việc Dọn Mình Chết Lành và bình thản tạm biệt Don Bosco và các bạn. Cậu chết 8 ngày sau. Cậu là một vị thánh, các bạn lập tức nói như thế; họ bắt đầu cầu nguyện với cậu. Loại cầu nguyện này minh chứng có hiệu lực. Cha Rua nói lên cho tiến trình phong thánh.[62] Về phần mình, Don Bosco, cùng nhìn như thế, bắt đầu thu thập, với sự giúp đỡ đặc biệt của Micae, các chứng từ về những nhân đức nổi bật của cậu để viết cuốn Vita del giovanetto Savio Domenico (Cuộc đời thánh Đaminh Savio) được xuất bản năm 1859.[63]

Kế hoạch đầu tiên của Don Bosco về Hiến luật

Chúng ta hãy trở lại năm 1857. Mối tương quan tốt đẹp ngài có được với Bộ trưởng Rattazzi đoan chắc một lần nữa cho Don Bosco, vốn lắng lo để xúc tiến với kế hoạch của mình là thiết lập một tu hội. Nhân vật chống giáo sĩ này rất trân trọng “đức ái nhân đạo” của ngài, gửi gắm một vài thiếu niên nghèo túng; khi Don Bosco yêu cầu, ông hỗ trợ tài chánh nào đó cho ngài. Chúng ta phải trở lại có lẽ tháng Năm 1857. Don Bosco đã có một cuộc nói chuyện quyết định với ông tại Bộ, trong một cuộc thăm hỏi tỏ lòng biết ơn. Rattazzi hỏi xem ngài đã có nghĩ về tương lai của công cuộc mình hay không: Tại sao ngài lại không thiết lập một hội gồm những người giáo dân và giáo sĩ? Don Bosco nhận xét, nhưng liệu Chính quyền Piedmont không thù hằn với loại hiệp hội đó sao? Rattazzi trả lời rằng ngài không được thành lập một hội tu sĩ truyền thống, nghĩa là một hội có manomorta hay những quyền đặc ưu, không trả thuế, nhưng một hội ở đó mỗi thành viên giữ những quyền công dân của mình, lệ thuộc những luật lệ Nhà Nước, trả thuế, v.v., nghĩa là một hội gồm những công dân tự do.

Điều này thật khai sáng đối với Don Bosco. Mặc dù là một Tu hội dưới mắt Giáo hội, nó sẽ mang lấy hình thức của một hội bác ái vốn đáp ứng những tiêu chuẩn này. Vào cuối năm 1857 hay chậm nhất là vào đầu năm 1858, ngài đọc cho Rua viết, với tựa đề “Tu hội Thánh Phanxicô Salê,” một cuốn vở bài tập gồm 15 trang giải thích nguồn gốc, mục đích, hình thức, lời khấn, cai quản, và cách thức người ta có thể được chấp nhận trong hội này.[64] Rua viết, chép lại từ Don Bosco: “Mục đích của Tu hội này là quy tụ những phần tử Giáo hội lại với nhau, giáo sĩ và giáo dân, để tìm kiếm sự hoàn thiện bằng cách bắt chước nhiều bao có thể đời sống của Đấng Cứu Độ Thần Linh.”[65] Không có gì phức tạp, và nhất là không có những lời khấn trọng vốn trói buộc từ quan điểm pháp lý. “Tất cả phần tử sẽ sống đời sống chung chỉ ràng buộc do bác ái huynh đệ và những lời khấn đơn vốn khuyến khích họ sống một lòng một trí phụng sự Thiên Chúa.” Don Bosco đã lưu ý đến lời khuyên của Rattazzi: “Khi vào Tu hội mỗi người sẽ không mất những quyền công dân của mình sau khi tuyên khấn, và vì vậy sẽ giữ quyền sở hữu điều gì là của họ, và khả năng thừa kế và tiếp nhận những của thừa kế, di sản và biếu tặng.”[66] Nó sẽ là một hội của những công dân tự do.

Don Bosco quyết định trình bày dự phóng này lên Đức Giáo Hoàng. Ngài được biết đến ở Vatican từ năm 1849, khi các thanh thiếu niên của ngài đã tham gia một cuộc lạc quyên vì Đức Piô IX, người đã cám ơn chúng. Ngài đã đến Rôma với Micae mà sẽ đóng vai trò thư ký của ngài.

Ở Rôma với Don Bosco năm 1858

Chuyến đi từ Turin đến Rôma, bằng xe lửa, rồi bằng thuyền, và cuối cùng bằng xe thư, kéo dài bốn ngày, từ rạng sáng ngày 18 tháng Hai 1858 đến tối khuya ngày 21 tháng Hai. Ở Rôma Don Bosco là khách của Gia đình Maistre, Via del Quyrinale số 49. Lúc đầu Rua cũng ở tại đó, nhưng chẳng bao lâu ngài rời đi tìm được môt chỗ với những tu sĩ Rosmini, vì cần phải dậy rất sớm ban sáng để gặp Don Bosco.[67] Hai người lữ khách này, vốn tiên liệu rằng họ sẽ ở trong thành phố ấy một hay hai tháng, đã tổ chức giờ giấc của mình. Don Bosco muốn cải thiện những điều lệ của Hội đang trong tiến trình thành lập. Rua đã gởi các thư, viết các bản văn khác nhau bằng chữ viết tay đẹp của ngài, nhất là cuốn sách của Don Bosco, Il mese di maggio, và tháp tùng Don Bosco khi họ vào thành phố.

Khi những tuần lễ đã qua, cả hai thăm viếng Rôma đúng như những khách hành hương thật sự đam mê về kiến trúc và lịch sử, và như các tông đồ vốn tò mò về những kinh nghiệm mục vụ trong thành phố của các giáo hoàng. Họ đi rảo bộ khắp chốn, đôi khi bằng xe lửa và che mưa nắng dưới một cây dù, trừ phi một người quí phái nào đó đưa họ đi bằng xe ngựa. Họ thu thập nhiều tin tức hằng ngày, sinh động và xây dựng, đọc hay chỉ nghe ngóng ngẫu nhiên, để viết chúng lại trong nhật ký, vốn đầy đủ các chi tiết. Họ thăm viếng Thánh đường Gesù, điện Pantheon, Thánh đường thánh Phêrô bị xiềng xích, thánh Lu-y của người Pháp, Đức Bà Cả, thánh Gioan Lateran, và hiển nhiên thánh Phêrô tại Vatican, Lâu đài Sant’Angelo và những khu vực xung quanh. Đối với Don Bosco vốn đã xuất bản sách cuộc đời thánh Phêrô, thì cuộc thăm viếng cảm động nhất chắc chắn là nhà tù Mamertino vào ngày 2 tháng Ba, với Micae và Gia đình Maistre. Don Bosco viết cho cha Alasonatti: “chỉ nhìn đã khiếp rồi.”[68] Trước sự hiện diện của Gia đình Maistre, Don Bosco cử hành thánh lễ tại một bàn thờ nhỏ gần “cột của thánh Phêrô.”

Don Bosco và Rua làm cho khớp với những thực hành sùng mộ của những nơi họ đến. Ngày 23 tháng Hai, tại Thánh đường thánh Phêrô bị xiềng xích, những xiềng xích của vị tông đồ được tôn kính đặc biệt. Nhật ký của cuộc hành trình này viết: “Chúng tôi đã được an ủi là tận tay chạm vào những xiềng xích này, hôn kính chúng, đặt chúng quanh cổ và trán mình.” Ngày 25 họ quì gối bước lên 28 bậc của Scala Santa; vào ngày 13 tháng Ba, họ dừng tại Thánh đường Đức Maria của các thiên thần, ở đó họ muốn lãnh ơn toàn xá. Tại bàn thờ cao, họ tôn kính cả dãy thánh tích. Nhật ký viết: “sau khi lòng sùng mộ đã được thỏa, chúng tôi về nhà vào khoảng 6 giờ, rất mệt và được ăn ngon.” Hai người Turin đó rất quan tâm đến những hội Bác Ái của Rôma để so sánh chúng với của chính mình. Họ cũng thăm viếng Nhà Tata John, ở đó phong thái sống dường như rất tương đồng với phong thái sống tại Valdocco; họ thấy một trường bác ái được điều hành do Hội Thánh Vinh Sơn Phaolô tại Santa Maria dei Monti; họ ở tại San Michele, một cơ sở đồ sộ tiếp nhận “hơn 800 người trong đó có tới 300 người trẻ;” họ cũng tiếp xúc một số Nguyện xá gắn liền với truyền thống của Thánh Philip Neri.

Đối với cả hai thời khắc quan trọng nhất hiển nhiên là cuộc triều yết Đức Giáo hoàng, mà Don Bosco đã xin ngay khi đến Rôma. Mồng 8 tháng Ba, trở về từ một ngày mệt nhọc, Don Bosco mở một lá thư đã làm ngài khích động. “Cha mở nó, đọc nó và đây là lý do chính của nó: phải thông tin điều này cho cha Bosco rằng Đức Thánh Cha đã xem việc ban cho ngài một buổi triều yết ngày mai, mồng 9 tháng Ba vào lúc 11:45 là xứng đáng.” Ngày hôm sau, được tư giáo Rua tháp tùng, ngài trình diện tại Vatican, đầy xúc động, và với chiếc áo choàng theo lễ nghi trên vai. Nhật ký ghi: “chất đầy cả ngàn tư tưởng,” họ bắt đầu bước lên bậc thang “một cách máy móc hơn là thâm trầm.” Những người canh gác quí phái “ăn mặc trông giống như những hoàng tử thật sự” đã làm họ ấn tượng. Khi họ tới nền của đại sảnh giáo triều, các người canh gác và người tiếp viên “ăn mặc sang trọng” cúi mình chào đón họ khi lấy lá thư cho buổi triều yết mà Don Bosco cầm ở tay mình. Cảnh tượng của những kẻ tới lui không ngừng trong phòng chờ giữ họ bận rộn suốt một tiếng rưỡi chờ đợi.

Bản miêu tả nói, khi một giáo sĩ ra dấu đi vào Don Bosco phải “cố gắng hết sức không mất quân bình vì nó.” Rua đi theo với những bản của tờ Catholic Readings, món quà họ dâng lên Đức Thánh Cha. Họ bái gối ba lần theo nghi thức: một ở lối vào đại sảnh, lần thứ hai ở giữa và rồi lần thứ ba ở chân Đức Giáo Hoàng. Mọi sự e sợ của họ biến mất khi họ khám phá “một con người đáng kính, rất mực hiền từ, đẹp đẽ mà một họa sĩ có thể vẽ.” Vì Đức Giáo Hoàng ngồi tại bàn nên hai người khách không thể hôn chân ngài như họ đã nghĩ: họ chỉ hôn tay ngài. Nhưng Rua, gợi lại lời hứa làm với những tư giáo tại Valdocco, hôn tay ngài hai lần, một cho chính mình và một cho các bạn hữu. Họ vẫn quì, và rất kính trọng, Don Bosco đã tiếp tục nói theo cách đó. Đức Piô IX nói với ngài: “Không, con hãy đứng lên!” Khi Đức Giáo Hoàng hiểu rằng ngài đang giao tiếp với vị tông đồ giới trẻ từ Turin, ngài tăng thêm các câu hỏi về Nguyện xá, về thanh thiếu niên, về các tư giáo, và gợi nhắc quà biếu ngài nhận được tại Gaeta. Don Bosco dâng ngài những bộ sách của tờ Catholic Readings. Ngài giải thích: "Có 15 em đóng sách ở chỗ chúng con.” Đức Giáo Hoàng vắng mặt một chút rồi trở lại với 15 mẫu ảnh Mẹ Vô Nhiễm cho các em đóng sách, một mẫu lớn hơn cho Rua và một hộp chứa đựng một mẫu ảnh đẹp cho Don Bosco. Ngài sắp nói tạm biệt với cả hai khi Don Bosco xin ngài xem có thể nói chuyện riêng với ngài không. Rua bái gối đi lùi xuống giữa phòng rồi rút lui. Một mình với Đức Giáo Hoàng, Don Bosco nói về những kế hoạch của ngài cho một Tu hội; Đức Giáo hoàng khuyến khích ngài phải xin các cộng sự viên của ngài tuyên khấn. Rua được gọi vào lại và cuộc triều yết kết thúc bằng một phép lành long trọng trên Don Bosco, người bạn của ngài và những người chia sẻ sứ mệnh đó, những cộng sự viên và ân nhân, và cuối cùng trên những thanh thiếu niên và tất cả những công việc của ngài. Don Bosco và Rua trở lại Quattro Fontane, đầy kính mến và tri ân đối với Đức Giáo chủ đã đối xử với mình một cách hiền phụ như thế.

Buổi triều yết giáo triều tiếp sau vào ngày 6 tháng Tư, cha Leonard Murialdo, một vị tông đồ thánh thiện khác của giới trẻ Piedmont, và vào lúc đó là Giám đốc của Nguyện xá thánh Lu-y, cũng được can dự vào cùng với Don Bosco và Micae Rua; thực sự ngày đó là một lời tạm biệt. Don Bosco trao cho Đức Giáo Hoàng một lá thư từ Gustavo di Cavour, đề xướng một sự hòa giải liên quan đến số mệnh của Tổng Giám mục Fransoni, bị lưu đầy ở Lyon, và liên quan đến tương lai của địa phận Turin, nay đã không có chủ chăn suốt 9 năm. Tại liệu đó được trao cho Hồng y Antonelli. Đức Giáo Hoàng tỏ lộ “sự hiền dịu kinh ngạc” với Don Bosco. Suốt cuộc trò chuyện dài 3 khắc đồng hồ, Đức Piô IX cho ngài tất cả những ân huệ và phúc lành thiêng liêng mà ngài xin. Ngài cho thêm 40 đồng vàng để mua bữa điểm tâm cho thanh thiếu niên tại Nguyện xá. Leonard Murialdo và Micae Rua “vui mừng khôn xiết”, ngài viết cho cha Alasonatti hôm sau.[69] Ngày 14 tháng Tư hai lữ khách đó, được đầy những thông tin và tình cảm về Rôma và lịch sử, các thánh đường, những công cuộc bác ái, và nhất là vị Giáo Chủ đáng kính của nó, khởi hành về lại Turin; họ đã đến đó bằng xe lửa từ Genoa vào ngày 16 tháng Tư.

Những phiêu lưu của cuộc hành trình kiện cường hơn nữa những mối dây giữa thầy và môn đệ. Vào tháng Bẩy, Don Bosco có dịp trả lời một lá thư bằng Latinh cho Rua khi đã xin ngài một lời khuyên nào đó. Lá thư bộc lộ không chỉ loại lối thiêng hoạt động được Don Bosco dạy dỗ, nhưng còn cả phong thái về mối liên hệ của họ, mà nay là một mối liên hệ hoàn toàn thân hữu. Đây là bản dịch đầy đủ của lá thư đó:

Con yêu mến,

Ước chi niềm vui và ân sủng của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, luôn ở trong tâm hồn chúng ta. Con đã xin cha một lời khuyên bổ ích mà cha vui vẻ thực hiện với chỉ một ít lời vắn gọn.

Con hãy biết và ghi nhớ rằng đau khổ hiện tại không thể sánh với tương lai vinh quang được tỏ cho chúng ta. Vì thế, chúng ta hãy liên lỷ và can đảm tìm kiếm vinh quang này.

Đời sống con người trên trần giống như sương khói bay đi, như một chút nhẹ bồng tiêu tan, một bóng sổ xuất hiện, một gợn sóng lên xuống. Như vậy chúng ta hãy coi thường những của cải đời này và nhiệt nồng tìm kiếm những của cải trên trời.

Con hãy luôn vui trong Chúa; dù ăn dù uống dù làm bất cứ điều gì, con hãy làm để Chúa được vinh quang hơn.

Mừng con yêu dấu. Hãy cầu nguyện cùng Chúa chúng ta cho cha.

Hội viên của con,

Cha Bosco

Thánh Ignatio gần Lanzo, ngày 26 tháng Bẩy, 1858.[70]

Đối với Don Bosco tư giáo Rua nay là một consocius, một hội viên.

Khảo luận “De Deo uno et trino”[Một Chúa Ba Ngôi]

Hành trình Rôma xảy ra giữa một loạt những khảo luận thần học mà tư giáo Rua tiếp tục theo tại chủng viện Turin. Tháng Bẩy 1859, vào cuối những bài thi trong năm, ngài được chấm điểm nhất giữa bẩy ứng sinh với lời phê “tuyệt vời”, ‘plusquam optime’.

Công Hàm Salêdiêng giữ được năm trong những vở bài làm của ngài với những ghi chú từ cuối thập niên 50, mang tựa đề De Deo uno et trino (Một Chúa Ba Ngôi); cuốn thứ hai của nó được đề năm 1859. Cả thảy có 132 trang. Nội dung của chúng thật thú vị. Theo trật tự này, chúng bàn đến Thiên Chúa hiện hữu, yếu tính của ngài, những thuộc tính cả “phủ định” nghĩa là tính vĩnh cửu, vô biên, bất biến, tự do và duy nhất lẫn “tích cực” nghĩa là sự thánh thiện, chân lý, tri thức, thiện hảo, công chính và quan phòng. Cuốn vở thứ ba một cách biệt loại bàn đến Ba ngôi và bắt đầu với định nghĩa về sự “xuất phát” và “tương quan”, cho thấy rằng trong Thiên Chúa có ba ngôi vị thật sự khác biệt và tìm cách xác định cội nguồn cho chỗ đứng của Ngôi Hai và Ngôi Ba, nhấn mạnh đến Ba Ngôi đồng bản thể và cuối cùng tìm cách giải quyết những vấn nạn chống lại định tín Ba Ngôi. Như thế, chúng ta đang bàn đến một nghiên cứu hoàn toàn cổ điển, như ta có thể kỳ vọng từ những thần học gia Kinh viện của thế kỷ 19. Nó nói cho lý trí nhưng lại nói ít hơn cho tâm hồn.

Có những vở bài tập khác của Rua từ cùng một thời kỳ tựa đề De iustitia et iure 1859-60 (Công bằng và quyền lợi).

Thần học tín lý và luân lý dường như đã không làm Rua hăng hái như một chủng sinh. Ngài tận tình theo những khóa học và làm bài thi cách sáng chói. Tháng Hai 1860 những người khảo thí chúc mừng ngài, cho ngài điểm là người nổi bật. Nhưng Rua chuộng Kinh Thánh, đúng hơn Sách Thánh, và bắt đầu gom lại với nhau một loạt các vở bài tập (ta lưu giữ được cả thảy 18 cuốn), với ý định xuất bản một công trình (mà thực tế ngài không bao giờ làm), bắt đầu với sáu ngày tạo dựng, thuật lại một cách chi tiết và súc tích trong 80 trang. Chúng ta có thể theo nó mặc dù chúng ta không hoàn toàn đồng ý với nó. Khoa chú giải Kinh Thánh trong thời của tư giáo trẻ Rua vẫn ở trong giai đoạn sơ sài mà thôi.

Micae cật lực làm việc. Chúng ta có thể tưởng tượng điều này chỉ bằng cách nhìn vào thời khóa biểu của ngài. Suốt ngày những trách vụ của ngài tại Nguyện xá Thánh Phanxicô Salê hay Lu-y đã choán hết thời giờ chính. Ngài phải bắt kịp vào ban chiều, chứ không được vào ban đêm vì Don Bosco không cho phép, hoặc rất sớm ban sáng. Suốt mùa đông lạnh lẽo, thông thường ở Turin, ngài dậy lúc 2 giờ hay 2 giờ rưỡi, như Giáo sư Alexander Fabre, người đến Nguyện xá vào tháng Mười, 1858, sau này đã làm chứng. Ngài cầu nguyện một mình, quì trên nền nhà, gần bên một chiếc bàn trong phòng học. Khi đồng hồ điểm ba giờ, ngài đi tới các phòng ở đó có sáu, bẩy, mười hay thậm chí 15 cộng sự viên đang ngủ, để đánh thức họ. Mùa hè chuyện đó còn dễ chịu, nhưng khá là khó trong mùa đông. Một trong những thiếu niên đó sau này viết: “Thông thường biết bao xảy ra là bạn thấy nước trong chậu ở chân giường đã đóng băng!” Rồi chúng tôi mở toang cửa sổ gác xép, hướng mặt ra mái hiên và với tay trong tuyết, rửa mặt.” Có chút ít ánh sáng để làm việc trong phòng học: đèn dầu leo lét, gọi là cappuccino bởi vì cái chụp nến giống như một cái nắp đậy.14 Vào 5 giờ rưỡi những thiếu niên can đảm này đã ở với những học sinh khác. Như vậy mỗi sáng Rua có thể được 3 tiếng học thần học trước Thánh lễ.

Tổ chức Tu Hội Thánh Phanxicô Salê

Năm 1859 nổi bật dưới diện chính trị với sự thống nhất nước Ý dưới sự dẫn dắt của Piedmont, và ở Valdocco, bằng việc thành lập Hội mà Don Bosco đã mơ đến.

Cuộc chiến thắng chống lại Áo ở Lombardy, kết thúc ngày 11 tháng Bẩy với cuộc đình chiến tại Villafranca; một vài cuộc nổi dậy nổi tiếng trong những lãnh địa giáo hoàng miền Rômagna, được những nhân viên Piedmont khuấy lên; chúng được những đại biểu của họ ở Turin phê duyệt vào tháng Tám-Chín; điều đó muốn nói rằng chẳng mấy chốc toàn miền Bắc của Bán Đảo ấy ở dưới sự kiểm soát của Vương quốc Sardinia. Đối với Đức Piô IX đây là một cuộc tấn công nghiêm trọng vào thẩm quyền giáo hoàng của ngài. Valdocco đứng về phía ngài, không chút do dự. Don Bosco, tác giả của Storia d’Italia được coi là ủng hộ nước Áo và ít nhiệt tâm đối với sự thống nhất nước Ý; ngài được báo Gazzetta del popolo coi là nguy hiểm và phản động, trực tiếp tấn công điều ấy ngày 18 tháng Mười. Ngày 9 tháng Mười Một Don Bosco gởi cho Đức Giáo chủ một lá thư dài diễn tả hàng giáo sĩ và tất cả những người công giáo tốt lành phản đối toàn diện thái độ của Chính quyền Piedmont. Đức Giáo hoàng đã trả lời bằng một chiếu thư mà Don Bosco xuất bản trong tờ báo bảo thủ L’Armonia, khiến các đối thủ ngài giận dữ.

Trong bầu khí căng thẳng như thế, Rua nhanh chóng sắp xếp cho xong những giai đoạn còn lại vốn tách ngài khỏi đời linh mục. Ngày 11 tháng Mười Một Giám mục Gioan Antôn Balma ban cho ngài "nghi thức" cắt tóc và bốn chức nhỏ; rồi ngày 17 tháng Mười Hai ngài lãnh nhận phụ phó tế và tuyên bố sống độc thân. Vài ngày sau, chính như một phụ phó tế, ngài tham dự cuộc họp thành lập Tu hội Salêdiêng.

Vào tháng Mười Hai Don Bosco cho Tu hội của ngài một cơ cấu đơn giản nhưng thích hợp. Chiều thứ sáu ngày 9, khi nói chuyện với các cộng sự viên của mình ngài tuyên bố rằng vào ngày 18 có một cuộc họp dành cho những ai muốn cam kết ở với ngài. Bất kỳ ai không chấp nhận điều này được yêu cầu là không có mặt.

Bản quy luật được Rua sao chép có một chương gọi là “Cai quản Tu hội.” Khoản đầu tiên biệt loại hóa: “Tu hội sẽ được cai quản bằng một nhóm người gồm một Giám đốc (Rector), Phó Giám đốc (Prefect) (ghi chú người dịch: sau này một số chỗ khác dùng từ ngữ: Phó Bề trên), Quản lý [economo], Linh hướng hay Giám linh và hai Cố vấn (mà tức khắc đi tới ba vì từ bản văn gốc).” Để xác định nhóm cai quản này, Don Bosco cố ý chọn hạn từ “nhóm” (chapter), nghĩa là, “tập thể” (college) hơn là “hội đồng” (council), được dùng trong những khuôn mẫu Hiến luật mà ngài đã được khởi hứng. Những quyết định phải được lấy do sự đồng thuận. Thẩm quyền của Giám đốc không tuyệt đối, việc cai quản sẽ mang tính tập đoàn (collegial).

Những khoản sau đó giải thích những cách thức để chọn Giám đốc và những trách vụ Phó Giám đốc và Linh hướng. Đây là ba khoản luật liên quan đến Linh hướng có tầm quan trọng lớn lao. Chúng ta đọc thấy:

Khoản 2 - Vị Linh hướng sẽ đặc biệt chăm sóc tập sinh; ngài sẽ quan tâm rất nhiều để xin họ học tập và thực thi tinh thần bác ái và nhiệt thành vốn phải sinh động người muốn tận hiến đời mình cho sự thiện hảo của giới trẻ bị bỏ rơi.

Khoản 3 - Vị Linh hướng cũng có bổn phận đặc biệt chú tâm đến lối hành sử của Giám đốc với bổn phận nghiêm nhặt là khuyên ngài nếu ngài xao nhãng bất kỳ điều gì trong việc tuân giữ những quy luật của Tu hội.

Khoản 4 - Vị Linh hướng cũng có trách vụ đặc biệt là để mắt đến thái độ luân lý của tất cả mọi phần tử được quy tụ lại.”

Phiên họp ngày 18 lo liệu sao để chọn ra nhóm này. Chiều tối đó, vào lúc 9 giờ tối, 18 người tụ tập trong phòng nhỏ của Don Bosco. Hai linh mục: Don Bosco và cha Alasonatti, phó tế Angelo Savio, Phụ phó tế Rua, 13 tư giáo và cuối cùng một giáo dân trẻ. Hội Nghị được ghi vào biên bản do vị thư ký của mình, Alasonatti. Theo tài liệu này, đơn giản bằng sự hiện diện tại đó, những người hiện diện xác định ý hướng của họ là “cổ xúy và gìn giữ tinh thần đức ái chân thật cần thiết cho công cuộc của các Nguyện xá dành cho giới trẻ bị bỏ rơi và gặp nguy hiểm; trong những thời đại tai họa đó, chúng bị dẫn dụ bằng ngàn cách làm phương hại đến xã hội và dẫn tới sự vô đạo và vô thần.” họ chung lòng nhất trí “dựng lên một Tu hội nơi đó họ nhằm giúp nhau thánh hóa chính mình vì vinh quang Thiên Chúa và cứu rỗi các linh hồn, nhất là những người cần được dạy dỗ và giáo dục hơn cả.”

Sau đó họ tiến hành việc tuyển chọn những thành viên quản trị của Tu hội mới ấy. Họ vắn gọn cầu xin Thánh Thần và xin Don Bosco, “người khơi mào và cổ xúy” Hội chấp nhận vai trò Giám đốc. Có lẽ giả định ngài sợ bản tính hay thay đổi của những thiếu niên của mình sẽ không luôn luôn tử tế với cha Alasonatti khắc khổ, nên Don Bosco đồng ý, với điều kiện là chính ngài có thể chọn vị Phó Giám đốc của Nhóm; xác đáng, người đó chính là Alasonatti, Phó Giám đốc của Nguyện xá. Hội nghị chỉ có thể phê chuẩn. Rồi, chắc chắn với sáng kiến của Don Bosco, nhóm quyết định rằng đối với những vai trò khác, nghĩa là vị linh hướng, quản trị và ba cố vấn, việc tuyển chọn sẽ là bầu phiếu kín. Vì vậy, theo biên bản, chính buổi tối đó hội nghị “nhất trí” đầu phiếu cho Phụ phó tế Rua đảm nhận vai trò “linh hướng” của Hội mới. Ở bên cạnh Don Bosco, ngài sẽ là người canh giữ linh hồn; được mọi người tin tưởng, ngài sẽ quan tâm đến đào luyện những người gia nhập mới và bảo đảm rằng họ có được tinh thần tu sĩ và Kitô hữu chân chính. Don Bosco biết mình có thể tin tưởng người thanh niên này, dù vẫn chưa qua tuổi 22. Angelo Savio được chọn là người quản trị; Gioan Cagliero, Gioan Bonetti và Charles Ghivarello được chỉ định là các cố vấn.[71] Cơ cấu đã đầy đủ.

Chú thích

[56] Tất cả các bài tập tại trường của M. Rua (thường được đề ngày) có thể tìm thấy trong FdR 2665B9-2750B9. Chúng tôi sẽ không cung cấp những quy chiếu chính xác ở đây.

[57] Về Rattazzi và luật đàn áp, tôi quy chiếu tới những ghi chú trong sách Don Bosco en son temps, 420-430.

[58] Lá thư của G. Bosco gởi cho D. Rademacher, Turin, 7 tháng Sáu năm 1855, Epistolario I, 257.

[59] Ngày 26 tháng Bảy năm 1857, cha Leonardo Murialdo sẽ đảm trách hướng dẫn Nguyện xá Thánh Lu-y, như chúng ta học biết từ một lá thư của M. Rua gởi cho Don Bosco đề ngày 27 tháng Bảy năm 1857 (được Amadei trích dẫn, 90-91).

[60] Ghi chú này về cái chết của Mẹ Magarita được rút từ tường trình của Gioan Bonetti, Storia dell'Oratorio, xuất bản hầu như một tiểu thuyết nhiều tập, trong Bollettino Salesiano, bắt đầu từ tháng Năm, 1883.

[61] Positio super Introductione Causae (Rômae, 1913), Summarium, 152.

[62] Summarium, 153.

[63] Xem hai bản văn bởi M. Rua, Memorie riguardo al giovane Savio Domenico, được tường trình trong Summarium, 222-227.

[64] Vở bài làm này được tìm thấy FdB 1893E5-1894A10.

[65] G. Bosco, Costituzioni della Società di S. Francesco di Sales [1858]-1875. Những bản văn phê bình F. Motto biên soạn, Rome, LAS, 1982, 72.

[66] G. Bosco, Costituzioni..., 82.

[67] Chúng tôi đã thông tin chi tiết về chuyến đi đó từ một vở bài làm viết tay gồm 75 trang Viaggio a Rôma, 1858, in FdB 1352E3-1354A5; nó được Rua viết, nhưng được coi là nhật ký của Don Bosco

[68] Lá thư của G. Bosco gởi V. Alasonatti, Rome, 7 tháng Ba, 1858, trong Epistolario I, 340.

[69] Thư của G. Bosco gởi cho V. Alasonatti, Rome, 7 tháng Tư, 1858, trong Epistolario I, 346.

[70] Epistolario I, 355.

[71] Alessandro Fabre, "Per la memoria di D. Rua", Pinerolo 18 tháng Sáu năm 1910, trong FdR 2839B2-8 (bản văn được Amadei đảm trách I, 124).


FMA Logo

Địa chỉ: 57 Đường số 4, Khu phố 56, P. Tam Bình, TP. Hồ Chí Minh

Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về email: libraryfmavtn@gmail.com

Liên Kết

Truyền Thông FMA

Copyright Dòng Con Đức Mẹ Phù Hộ © 2026