30. Sự mở rộng của người Salêdiêng vào cuối thế kỷ đó
Ở Tunisia
Cha Rua không hài lòng với việc mở rộng sự hiện diện của người Salêdiêng ở lục địa châu Mỹ mà thôi; ngài còn dám mở các công cuộc mới ở châu Phi, và thậm chí ở châu Á.
Những người Salêdiêng đã đến Algeria năm 1891. Vào thời điểm đó Đức Hồng y Lavigerie đã than vãn rằng cha Rua thích Oran hơn Carthage dù Don Bosco đã hứa với ngài ở Paris vào năm 1883. Năm 1894, người kế nhiệm của ngài Clément Combes (Lavigerie mất vào năm 1892) không gặp vấn đề gì trong việc có được sự hiện diện của người Salêdiêng ở La Marsa (1895) gần Tunis và sau đó tại chính Tunis (1896).
Các cuộc đàm phán được dàn xếp rất nhanh chóng. Ngày 11 tháng Tám năm 1894, Tu Nghị Bề trên đã chấp nhận đề nghị của Đức Tổng Giám mục mới.[584] Một thỏa thuận được soạn thảo ngày 7 tháng Mười Hai sau đó giữa Đức Giám mục Carthage và cha Rua, trong đó điều khoản đầu tiên trình bày rằng ‘Đức Tổng Giám mục Carthage giao phó cho những người Salêdiêng của Don Bosco chỉ đạo viện mồ côi nông nghiệp hiện đang tọa lạc tại La Marsa, Tunisia’.[585] Tu hội Perret, được đặt theo tên Đấng Sáng lập Perret từ Lyons, là một ngôi nhà hẹp chỉ có thể chứa khoảng mười trẻ mồ côi nhưng nó có một khu đất rộng. Đức Tổng Giám mục yêu cầu một linh mục và hai cộng tác viên, các giáo sĩ hoặc giáo dân, mà ngài hứa trả lương từ các quỹ giáo phận. Ngài cũng sẽ đóng góp hàng năm bốn trăm franc cho mỗi trẻ mồ côi ‘được giáo phận gửi tới’ (khoản 3). Ngày 31 tháng 12, giám đốc được bổ nhiệm Antôn Josephidis (1861-1919), cùng với thầy Serafino Proverbio, dong buồm từ Sicily tiến đến Tunis và La Marsa. Giám đốc là một người dám nghĩ dám làm. Ngài nhanh chóng chào đón thêm khoảng hai mươi người trẻ và xin được phép của Tu Nghị Bề trên để dựng thêm nhiều tòa nhà rộng rãi hơn. Không lâu sau đó Đức ông Combes đồng ý với đề xuất của cha Rua là mở một trường trung học cơ sở ở La Marsa. Thế là một công cuộc ra đời mà sẽ nuôi dưỡng một số ơn gọi Salêdiêng tốt lành, nổi bật trong số đó là Lu-y Mathias, Đức Tổng Giám mục tương lai của Madras (1887-1965).
Sau một thỏa thuận khác giữa Đức Tổng Giám mục và cha Rua (ngày 4 tháng Ba năm 1896), những người Salêdiêng định cư tại chính Tunis nơi họ được giao phó nhà nguyện Thánh Lucia, bệ phóng cho giáo xứ Mân Côi với các Nguyện xá nở rộ.[586] Thay vào đó, các Nữ tu Salêdiêng tiếp quản việc hướng dẫn một công cuộc dành cho các thanh thiếu nữ ở La Manouba không xa La Marsa.
Trong một chuyến hành trình thành công ở Tunisia từ 23 đến 30 tháng Ba năm 1900, cha Rua có thể hài lòng về kết quả của những cơ sở mới mở này.[587]
Hiệp hội Quốc Gia Ý ở Alexandria
Nếu chúng ta đi từ Tunisia đến Ai Cập, chúng ta đối mặt với một thể chế có mặt trên khắp vùng Cận Đông trong đó cha Rua đặt nhiều tin tưởng với nguy cơ Ý hóa cách công khai công cuộc Salêdiêng trong khu vực. Thư ký của Hiệp hội quốc gia cho việc Trợ giúp các nhà Truyền giáo Công giáo Ý - đó là danh hiệu chính thức của nó - là một nhà Ai Cập học có tên Ernest Schiaparelli. Hiệp hội Quốc gia, được những người được Công giáo thẳng thắn tạo ra, hưởng sự ưu ái của chính phủ Ý và đã được công nhận là một cơ quan phi lợi nhuận theo sắc lệnh Hoàng gia ngày 12 tháng Mười Một năm 1891. Sự công nhận này cho nó tự do hành động trong lĩnh vực chính trị.
Ít nhất kể từ năm 1887 đã có cuộc nói chuyện gửi người Salêdiêng đến Ai Cập. Một lá thư của Đức Hồng y Gioan Simeoni, Bộ trưởng Propaganda Fide ngày 26 tháng Hai năm 1887, xác nhận điều này.[588] Ở Alexandria có một cộng đồng đông đảo người Ý và người Malta. Việc thanh niên bị hư hỏng sớm gây phiền muộn cho những ai biết về nó một cách nhạy cảm hơn, trên hết là những người Phanxicô, những người hy vọng thành lập một trường nghề Salêdiêng để huấn luyện giới trẻ về nhân bản và Kitô giáo. Ernest Schiaparelli nằm trong nhóm này. Năm 1890, ông viết cho cha Durando: ‘Ở Alexandria hiện có hàng trăm thiếu niên bị bỏ rơi thuộc mọi quốc tịch và tôn giáo, đặc biệt là người Ý và người Malta. Học một nghề và nhận được một nền giáo dục sẽ có nghĩa là cứu rỗi các em cả trong thế giới này và thế giới tiếp theo.’[589] Ông bảo đảm những người Salêdiêng sẽ được Hiệp hội Quốc gia hỗ trợ.
Vào năm 1895, khi cha Antôn Belloni đi qua Ý, cha Rua yêu cầu ngài tìm một miếng đất phù hợp ở Alexandria cho trường nghề Salêdiêng như được đề xuất. Cha Belloni chọn một miếng đất có tiềm năng xây dựng ở quận Bab-Sidra. Vấn đề trở nên phức tạp do người Pháp từ trường De La Salle cạnh tranh. Tuy nhiên, người Salêdiêng được Đức Tổng Đức Giám mục Guido Corbelli, Sứ thần Tòa Thánh ở Ai Cập và Ả Rập, và qua ngài, chính Tòa Thánh, hỗ trợ. Cuối cùng một thỏa thuận đã được ký kết tại Turin xứng đáng để được tường thuật đầy đủ, vì với việc Ý hóa các công cuộc Salêdiêng - có một lý do có tính sách lược, bởi vì làm như vậy sẽ tránh cho họ không phải phụ thuộc chút nào vào người Pháp - trong một số khía cạnh quyết định tương lai của họ trong toàn bộ vùng Cận Đông. Tài liệu có tựa đề Thoả thuận giữa Bề trên Tổng quyền của Tu hội Salêdiêng và Hiệp hội quốc gia Trợ giúp các nhà Truyền giáo Công giáo Ý, thiết định rằng:
Hôm nay, ngày 1 tháng Ba năm 1897, giữa cha Micae Rua, Bề trên Tổng quyền của Tu hội Salêdiêng và Giáo sư Ernest Schiaparelli, Tổng Thư ký và đại diện của Hiệp hội Quốc gia trợ giúp các nhà Truyền giáo Công giáo Ý ký tên dưới đây, đồng ý những điểm sau:
Hiệp hội Quốc gia đảm trách trả tiền thuê đất tại cơ sở của Viện kỹ thuật về nghệ thuật và hàng thủ công và tất cả các chi phí phát sinh trong việc thành lập và bảo trì Viện nêu trên. Về phần mình, Bề trên của Hội Dòng Salêdiêng bảo đảm cung cấp nhân sự phù hợp cho Viện mà Hiệp hội Quốc gia dự định thành lập tại Alexandria ở Ai Cập.
1) Trong Viện nêu trên, việc học tiếng Ý sẽ là bắt buộc đối với tất cả học sinh.
2) Các thiếu niên thuộc mọi quốc tịch và tôn giáo sẽ được tiếp nhận là học sinh ngoại trú.
3) Những ngày kỷ niệm sau đây sẽ được tưởng nhớ: ngày sinh nhật của Vua và Hoàng hậu nước Ý và Ngày Hiến pháp (Quốc khánh).
Trong mọi thứ khác, Viện sẽ hoàn toàn tự trị.
Thỏa thuận này có giá trị trong một năm, bắt đầu từ ngày hôm nay và có thể được gia hạn không giới hạn hàng năm, trừ khi bị một trong hai bên hủy bỏ, không ít hơn ba tháng trước ngày hết hạn hàng năm của nó.
Xác nhận những điều nêu trên:
Đại diện Hiệp hội Bề trên Tu Hội Salêdiêng
E. Schiaparelli.[590] Cha Micae Rua
Vào năm 1943 cha Ceria sẽ bình luận về những lợi thế (ít nhất là tạm thời) của giải pháp này vốn đặt Tu hội Salêdiêng dưới sự kiểm soát của Hiệp hội Quốc gia Ý. ‘Trong các Tu hội do Hiệp hội quản lý, các tu sĩ được phân công tác về đây không ra mắt như những nhà truyền giáo nhưng chỉ là giáo viên, và Hiệp hội đại diện cho các trường giao dịch với các nhà chức trách giáo hội, chính quyền địa phương và các quan chức lãnh sự Ý. Do đó, các tu sĩ tự trị về vấn đề với tất cả các cơ quan lãnh sự, nhiệm vụ duy nhất của họ là công dân tốt để tỏ lòng tôn trọng Lãnh sự quán Ý’.[591]
Tuy nhiên, nhà sử học đã không dự đoán được rằng thời khắc mà người Salêdiêng sẽ không còn là người Ý nữa, đã rất gần, cũng như không dự đoán rằng, trên hết thảy toàn bộ khu vực sẽ đòi quyền tự trị về chính trị và văn hóa của mình.
Constantinople và Smyrna
Vài năm sau, cha Rua đi đến một thỏa thuận với Hiệp hội Quốc gia để tạo ra hai cơ sở cùng một lúc ở Thổ Nhĩ Kỳ, một tại Constantinople và một tại Smyrna. Hợp đồng cho Constantinople được cha Rua và Giáo sư Schiaparelli cùng ký ngày 20 tháng Bảy năm 1903. Cha Rua cam kết mở một trường tiểu học cho các thiếu niên ở Constantinople vào tháng Chín năm đó. Một khu vực cho việc đào tạo nghề sẽ được thêm vào năm sau và dần dần các lớp khác nữa khi nhu cầu phát sinh. Trước ngày 15 tháng Chín, Hiệp hội sẽ trả 7000 lire Ý để đền bù cho các chi phí ban đầu, cung cấp tài liệu học tập và bảo đảm hỗ trợ vật chất và tinh thần.[592]
Ngày 26 tháng Sáu năm ngoái, qua Schiaparelli, Hiệp hội Quốc gia đã cung cấp cho cha Rua hai trường học dành cho các thiếu niên cho tháng Mười năm sau. Trường đã được chính phủ Ý mở tại Smyrna năm 1878 nhưng đang tiêu tan ‘vì giáo dục Kitô hữu không được nuôi dưỡng ở đó’. Hiệp hội sẽ chịu trách nhiệm trên các trường này với các điều khoản tương tự như những cơ sở được nhận làm trường học ở Ai Cập và Tripoli.[593] Cha Rua và Hội đồng của ngài vội vã đưa cho Schiaparelli một câu trả lời tích cực, đến nỗi biên bản cuộc họp của Tu Nghị Bề trên ngày 21 tháng Tám năm 1903 ghi nhận: ‘Người Salêdiêng sẽ lên đường vào tháng Chín và sẽ tiếp quản các trường học tại Smyrna'’.[594]
Mọi thứ đã không diễn ra quá thuận lợi ở Thổ Nhĩ Kỳ. Ngày 21 tháng Tám năm 1905, Tu Nghị Bề trên để ý đến một khiếu nại mà Lãnh sự Ý đã gửi đến Schiaparelli. Ông tuyên bố không hài lòng với công cuộc của người Salêdiêng tại Smyrna; họ mong đợi nhiều hơn. Vì trường lớp bắt đầu lại vào ngày 5 tháng Chín, một bức điện được gửi đến Alexandria nói cha Cardano đến Smyrna trong hai hoặc ba tuần để bắt đầu các lớp học và xưởng. Hội đồng hứng khởi xem xét giám đốc nào nên được phụ trách công việc.[595]
Hiệp hội Quốc gia cũng đang vất vả để tôn trọng nghĩa vụ tài chính của mình đối với các trường Smyrna, như tài liệu của những năm tiếp theo chứng nhận, đặc biệt là Bản ghi nhớ liên quan đến nhà ở Smyrna, ngày 17 tháng Hai năm 1906 ký dưới đây. Giọng điệu của nó có vẻ âu lo; các khoản nợ của công trình lên tới 35-40.000 lire Ý; kết quả là, đóng cửa khóa học nghề, ít nhất là tạm thời, là cần thiết vì nó tốn kém nhất, giả sử như Hiệp hội sẽ tiếp tục chi ngân phiếu sáu ngàn franc hàng năm mà hầu như không đủ (có lẽ thậm chí không đủ) để hỗ trợ Trường Phổ cập Punta. Biện pháp này không được mang vẻ bất công; theo Memorandum (Biên bản ghi nhớ) thì không phải, bởi vì, ngay từ đầu, Hiệp hội Quốc gia không tôn trọng thỏa thuận vì nó bỏ mặc điều khoản về tài liệu học tập và xiết chặt các chi phí về nước, hơi đốt và dầu sưởi ấm.[596]
Hiệp hội Quốc gia và những công cuộc Salêdiêng ở Palestine
Trong khi đó, Giáo sư Schiaparelli và Bề Trên Cả đang hướng chú ý đến các công cuộc Salêdiêng ở Palestine, những công cuộc duy nhất ở Cận Đông chưa dính líu tới Hiệp hội Quốc gia. Những hoàn cảnh chính trị vào đầu thế kỷ tạo thuận lợi để thay đổi hệ thống bảo hộ. Không hối hận, chính phủ chống Giáo hội của Pháp đang từ bỏ quyền bảo hộ cũ của mình đối với người Công giáo và những sứ vụ Công giáo của khu vực. Tình thế như vậy đủ để chuyển những nhà tại Bêlem, Beitgemal, Cremisan và Nadaret cho chế độ bảo hộ Ý để thảo một hợp đồng nối chúng với những người thụ hưởng của Hiệp hội Quốc gia Trợ giúp các nhà Truyền giáo Công giáo Ý. Vấn đề được xem xét tại Constantinople và tại Rôma.[597] Ý sẽ đạt được một thỏa thuận với Pháp thông qua các đại sự bảo trợ tương ứng của họ. Vì cần được Tòa Thánh đồng ý cũng như Nước Ý không có bất kỳ đại diện ngoại giao nào ở đó, Hiệp hội đã phụ trách các thủ tục. Do đó ngày 9 tháng Chín năm 1904, cha Rua cùng với Schiaparelli ký một thỏa thuận đáng được trích dẫn vì hậu quả tương lai của nó đối với người Salêdiêng Ả Rập tại Palestine.
Lời nói đầu: 1) Như các tài liệu được đăng ký với Lãnh sự quán Hoàng gia Ý ở Giêrusalem cho thấy, bất động sản của Bêlem, Cremisan, Beigemal và Nadaret và tất cả nằm trong đó, trước đây là tài sản của Kinh sĩ Belloni quá cố vốn được nhiều người thương tiếc, một thần dân Ý, ngoại trừ các quyền của Bộ Truyền bá Đức tin, đã trở thành bất động sản của nhiều cá nhân khác nhau, tất cả đều là thần dân Ý. 2) Do những trường hợp này, bản thân bất động sản và các cơ sở tọa lạc ở đó, về mặt chính trị phải rớt vào sự bảo hộ tự nhiên và trực tiếp của Lãnh sự Hoàng gia Ý; giữa cha Micae Rua, Bề trên của người Salêdiêng, đại diện cho chính cộng đoàn, và Giáo sư Ernest Schiaparelli, thư ký của Hiệp hội Quốc gia trợ giúp các nhà Truyền giáo Công giáo Ý, cũng đại diện cho cơ quan này, thỏa thuận sau đây đã được soạn thảo:
Khoản 1. Cha Micae Rua đặt tất cả các Tu hội Salêdiêng ở Palestine dưới sự bảo hộ độc quyền của các Lãnh sự Hoàng gia Ý.
Khoản 2. Cha Rua đảm nhận: a) thêm một khóa học nghề cho cơ sở tại Bêlem; b) chấp nhận bắt buộc việc dạy tiếng Ý, cùng với ngôn ngữ địa phương, sẽ là ngôn ngữ chính thức của các Viện và sẽ được các em học sinh làm theo trong đàm thoại và bởi các giáo viên trong tất cả các lớp học của họ; c) treo cờ quốc gia trong tất cả các cơ sở được nói tới trong một nơi chốn trung tâm và danh dự vào tất cả các ngày lễ chung và vào những ngày sinh nhật của Hoàng gia, Vua và Hoàng hậu Ý.
Khoản 3. Các giám đốc của các cơ sở nói trên có quyền tự trị hoàn toàn trong các chính sách tôn giáo, đạo đức, giáo dục, kỷ luật và giáo khoa. Tuy nhiên họ sẽ xét thấy bản thân rất được vinh dự khi các Đại biểu của Hiệp hội đến thăm để biết chắc kết quả giảng dạy tốt đẹp và các chuyến thăm và can thiệp của Lãnh sự Hoàng gia, đặc biệt là vào những dịp long trọng.
Khoản 4. Về phần mình, bằng cách khuyến khích, Hiệp hội cam kết a) cung cấp cho các cơ sở nói trên một khoản tiền hàng năm là 12.000 lire Ý, trả góp mỗi ba tháng là 3.000 lire; b) cung cấp các tài liệu học tập của Ý hoàn toàn cần thiết cho chính các tổ chức.
Khoản 5. Thỏa thuận hiện tại sẽ có hiệu lực từ ngày 15 tháng Chín năm 1904 và sẽ được gia hạn hàng năm trong thời gian không xác định trừ khi bị một trong các bên rút lại, ba tháng trước ngày hết hạn thông thường.
Thỏa thuận hiện tại đã được soạn thảo ngày 9 tháng Chín năm 1904 thành hai bản chính, được cả hai bên ký.
Cha Micae Rua, Bề Trên Cả Tu hội Thánh Phanxicô Salê
Ernesto Schiaparelli, Tổng thư ký Hiệp hội Quốc gia.[598]
Ta có thể dự đoán nhiều kháng cự trong môi trường dân tộc đa dạng của Palestine, đặc biệt với các điểm đề cập đến quyền sở hữu của Ý đối với các nhà Salêdiêng ở Palestine và việc bắt buộc sử dụng tiếng Ý trong đàm thoại và giảng dạy. Nhưng Turin từ chối lắng nghe. Trong thời gian này, năm 1904 khi có thông báo về sự thay đổi trong chế độ bảo hộ, cha Carlo Gatti từ chức.[599] Ngài không đánh giá cao sự thay đổi của chế độ Bảo hộ và có quan hệ tốt với lãnh sự quán Pháp. Đối với giám đốc tại Nadaret, Athanase Prun (1861-1917), một người Pháp với thái độ nhất định, ngài từ chối bất kỳ sự phụ thuộc nào vào Ý và cố gắng nhập lại sự bảo hộ của Pháp, khiến Schiaparelli cắt một phần tư trợ cấp hàng năm cho các nhà Palestine.[600] Vài năm sau, dưới thời cha Albera cai quản, căng thẳng gia tăng liền sau phong trào Ả Rập. Các đệ tử Ả Rập của cha Belloni phải nhắc các Bề trên rằng họ không phải là người Ý và sẽ từ chối dạy giáo lý cho các em đồng bào của họ bằng một ngôn ngữ mà họ hầu như không hiểu. Sự việc lên đến cực điểm trong 1917-1918, trong nhiệm kỳ của Cha Giám tỉnh Lu-y Sutera (1869-1948), người không thích họ. Trong khi cuộc chiến tranh diễn ra giữa Thổ Nhĩ Kỳ và Ý, họ đã giành được quyền kiểm soát ở Bêlem. Do đó những người Salêdiêng Ý ở Beitgemal và Bêlem phải chịu nhiều đau khổ và trong một số trường hợp thậm chí còn bị các hội viên của mình tố cáo. Cuộc nổi loạn của người Ả rập sẽ bị dẹp tan khốc liệt vào cuối cuộc chiến năm 1919 bởi Bề trên kinh lý, cha Phêrô Ricaldone và sẽ dẫn đến một số linh mục Salêdiêng người Ả rập xin nhập tịch vào tòa Thượng phụ Latinh.
Một cách vô thức, cha Rua đang giúp cho vụ việc về ý thức Ý, được trù định sau này sẽ do Mussolini tự hào phát triển trong thời kỳ giữa hai cuộc chiến tranh. Và những người Salêdiêng tự làm hại mình với thỏa thuận năm 1904 với Hiệp hội Quốc gia Ý sẽ thất bại trong việc hội nhập văn hóa vốn được hy vọng nhiều ở vùng Cận Đông.[601]
Những người Salêdiêng ở Trung Hoa
Trong những năm đầu của thế kỷ hai mươi, Cha Rua cũng cử người Salêdiêng đến vùng Viễn Đông, đến vùng đất Macao của Bồ Đào Nha ở Trung Hoa, và đến Mylapore, gần Madras (Chennai), Ấn Độ.
Có một niềm tin rộng rãi trong các nhóm người Salêdiêng vào thập niên 1890 rằng vào tháng Mười năm 1886, khi nói về các sứ vụ ở Trung Hoa với cha Arthur Conelli (1864-1924), Don Bosco đã dự tính phái cha đến đấy một ngày nào đó.[602] Vị linh mục này đã nói về việc này với một người bạn Dòng Tên trong Civiltà Cattolica, cha Phanxicô Xaviê Rondina, người đề nghị cha chuẩn bị lòng trí cho những người Salêdiêng đến bằng cách gửi một số tài liệu về Don Bosco và công cuộc của ngài tới Macao và Hồng Kông. Sau đó báo chí địa phương đã xuất bản một số bài báo.[603] Cha Rua khuyến khích cha Conelli làm như vậy.[604] Vì vậy, ngài gửi cho cha Rondina tiểu sử của Don Bosco được Charles d’Espiney và Albert du Boys viết, một ấn phẩm của Đức Giám mục Spinola và một số thư luân lưu của cha Rua.
Việc vun trồng đâm rễ. Chín năm sau, Sứ Thần Tòa Thánh tại Lisbon, Andrea Ajuti, Đức Tổng Giám mục trên danh nghĩa của Damietta, gửi cho cha Rua yêu cầu sau đây từ Đức Giám mục Macao, Đức Giám mục José Manuel de Carvalho, ngày 2 tháng Tư năm 1899: ‘Tôi cần một trại trẻ mồ côi nam nơi đó họ dạy nghề, hầu tại đó bằng cách này những thiếu niên tội nghiệp có thể được thu hút và được giáo dục, có thể được ơn trở lại quay về Đạo Thánh chúng ta. Theo quan điểm này, tôi nghĩ đến Tu hội của Don Bosco. Do đó, tôi tìm kiếm sự giúp đỡ và bảo vệ của Đức Cha trong nhiệm vụ này, xin Đức Cha ân huệ đặc biệt để nhận được từ Bề trên Tổng quyền của Tu hội ấy hai hoặc ba anh em để khởi sự, bởi vì phương tiện của chúng tôi bị giới hạn. Và khi Đức Cha cho phép tôi làm như vậy, tôi sẽ liên lạc với cha ấy để chúng tôi có thể đạt được thỏa thuận về các điều kiện mà họ có thể đặt ra để đến đây’.[605]
Không thể dự liệu một công cuộc Salêdiêng giảm xuống chỉ còn hai hay ba sư huynh. Hiến Luật không cho phép như vậy, như Cha Rua nhận xét; ít nhất một linh mục sẽ phải có mặt. Mặc dù vậy, ngài đồng ý với nguyên tắc đó. Ngày 20 tháng Sáu năm 1899, Sứ thần trả lời rằng Đức Giám mục de Carvalho, có lẽ đang quá cảnh tại Lisbon, đồng ý thêm vào ít nhất một linh mục và một số chủng sinh[606] với các sư huynh cho trại trẻ mồ côi. Cho tới giờ dường như cha Conelli được đề cử dẫn đầu đoàn thám hiểm Trung Hoa. Cha Rua gửi cho ngài một sứ điệp ngày 4 tháng 12: ‘Nếu cha nghĩ phù hợp, giữa sự nghiêm túc và vui vẻ, hãy để Đức Hồng y Vanutelli biết việc bổ nhiệm của Don Bosco dành cho cha cho nhà Salêdiêng đầu tiên ở Trung Hoa và các cuộc đàm phán hiện tại cho Macao’.[607] Nhưng Đức Giám mục de Carvalho qua đời (1904).
Người kế nhiệm ngài, Đức Giám mục João Paulino Azevedo vốn đã ngưỡng mộ các xưởng của người Salêdiêng ở Lisbon, được thông báo về các bước được Đức Giám mục de Carvalho thực hiện. Từ Macao ngày 17 tháng Tư năm 1904, ngài viết thư cho Cha Rua bằng tiếng Bồ Đào Nha: ‘Tôi hoàn toàn chấp nhận kế hoạch đã được Bề trên Tổng quyền và người tiền nhiệm của tôi đồng thuận. Tôi cảm ơn ngài vì đã đề cập đến nhân chuyến viếng thăm Lisbon gần đây của ngài.'
Công cuộc sẽ gồm những trẻ mồ côi Trung Hoa được trù định học một nghề. Sẽ có một lưu xá sát nhập với nó cho các con cái của người châu Âu hoặc người Bồ Đào Nha ở Macau vốn thường quan tâm nhiều hơn đến kinh doanh và thương mại. Họ sẽ nhận được nền giáo dục và hướng dẫn trong lưu xá và sau đó sẽ được một hộ trực đi kèm, đến Chủng viện học và các khóa học nghề ... Để lưu xá và xưởng khởi sự hoạt động dưới sự chỉ đạo của người Salêdiêng, tôi nghĩ chúng ta cần ít nhất một Giám đốc, ba hộ trực và ba thầy dạy nghề thủ công: nghề may, đóng giày, in ấn. Tôi nghĩ không thể thiếu nhóm nhân sự này ...’. Đức Giám mục cũng bày tỏ mong muốn rằng một trong những hộ trực sẽ có thể dạy nhạc và chỉ huy một ban kèn đồng.[608]
Cha Rua chuẩn bị mọi thứ nhưng chờ một văn bản chính thức trước khi cho phép những người truyền giáo của ngài đi Trung Hoa. Cuối cùng, ngày 29 tháng Mười Hai năm 1905 tại Macao, Đức Giám mục de Azevedo đã soạn thảo một bản dự thảo gồm mười hai điểm, có hiệu lực trong bảy năm. Cha Rua sẽ gửi tối thiểu một giám đốc, một hộ trực và bốn anh em để hướng dẫn và quản trị một trại trẻ mồ côi (khoản 1). Việc giảng dạy sẽ diễn ra cả trong các trường học và trong các xưởng (khoản 3). Giám đốc được cha Rua chọn sẽ có toàn quyền tự do trong việc thi hành kỷ luật nội bộ của Tu hội (khoản 4). Đức Giám mục sẽ chịu trách nhiệm các chi phí (khoản 6). Ngài sẽ nhận vé miễn phí để đi lại từ chính phủ (khoản 9).[609] Đoàn thám hiểm giờ đây được tổ chức và sẽ được cha Conelli dẫn dắt, người đã chờ đợi khoảnh khắc này trong hai mươi năm. Thật không may, ngài ngã bệnh vào đầu tháng giêng và buộc phải ở lại Ý. Vì vậy, ngày 17 tháng Giêng năm 1906, những người truyền giáo được chọn đi Macao dong buồm từ Genoa dưới sự lãnh đạo của Cha Lu-y Versiglia (1873-1930).
Khi đến, nhiệm vụ đầu tiên của cha Versiglia, như vị đại diện của cha Rua, là hoàn thành thỏa thuận. Ngài chấp thuận mười hai điều khoản và ký cùng với Đức Giám mục vào ngày 20 tháng Hai năm 1906.[610]
Thật không may, cha Versiglia sẽ sớm bị buộc phải từ bỏ một số hy vọng của mình có lẽ vì tình hình chính trị trở nên tệ hại nhanh chóng ở Bồ Đào Nha, trong đó Macao là thuộc địa. Thật vậy, lấy lý do là làm dịu lại tình trạng bất ổn gây ra bởi đảng Cộng hòa dưới chế độ tai tiếng của vua Carlos I (1889-1908), giữa năm 1906 và 1908 đất nước phải chịu chế độ độc tài của João Chaanco II. Ngày 1 tháng Hai năm 1908, Carlos I và người thừa kế ngai vàng đã bị ám sát; người thừa kế thứ hai, Manuel II, lên ngôi ở tuổi mười sáu. Căng thẳng chính trị và dân tộc nổi lên bởi những sự kiện này trong thuộc địa nhỏ Trung Hoa có thể dễ dàng tưởng tượng được. Ở đây nó là “Mọi thứ cho Bồ Đào Nha”. Ngày 22 tháng Mười Một năm 1908, cha Versiglia sẽ viết trong một báo cáo gửi cha Rua mà chúng tôi sẽ kể đến.
Họ đã khởi sự thuận lợi. Ngày 6 tháng Năm năm 1906, trong một lá thư gửi cho cha Rua, cha Versiglia bày tỏ niềm vui trong việc mở một ‘Nguyện xá ngày lễ'.[611] ‘Công việc của chúng tôi đang triển nở’, Đức Giám mục Macao đã thông báo cho cha Rua vào ngày 16 tháng Mười Một .[612] Tuy nhiên, sau giai đoạn đầu hớn hở, tình hình của những người Salêdiêng tại Macau đã xấu đi. Đức Giám mục đã đưa vào trại trẻ mồ côi một ủy ban lệ thuộc chính phủ, như Cha Versiglia giải thích vào năm 1908. Trái với thỏa thuận, người Salêdiêng không còn tự do nữa. Cha Versiglia đề xuất sửa đổi thỏa thuận và đảm trách một sứ vụ thực sự trong khu vực. Như ngài nói với Cha Rua, để làm điều này ngài sẽ cần các chủng sinh, những người có thể học tiếng Trung Hoa và được giao cho một nhiệm vụ đúng nghĩa ở chính Trung Hoa. Đối với dự án này, cần có sự hỗ trợ của Thánh Bộ Truyền bá Đức tin và Hiệp hội Quốc gia Trợ giúp những nhà Truyền giáo Công giáo Ý. Hơn nữa, ngài nghi ngờ rằng Đức Giám mục chỉ chờ hết hạn hợp đồng bảy năm để giải tán những người Salêdiêng Ý. Tốt hơn là nên thoát ra khỏi ngõ cụt đó, vốn do nhầm lẫn mà họ bước vào.[613]
Các sự kiện chính trị đẩy vấn đề đến chỗ ngặt nghèo. Ở Bồ Đào Nha, Vua Manuel II vốn đã phản đối chế độ độc tài, mau chóng bị lật đổ trong một cuộc đảo chính quân sự. Ngày 5 tháng Mười năm 1910, các nhà cách mạng tuyên bố là nhà nước Cộng hòa. Hiến pháp giải tán các hội dòng tu, đã phá vỡ sự thông cảm giữa Giáo hội và Nhà Nước, thông báo một nền giáo dục thế tục bắt buộc trong các trường học và phê chuẩn quyền đình công. Kết quả là, cả ở thủ đô và trong các thuộc địa, tu sĩ bắt đầu bị trục xuất khỏi các tu viện. Khi người Salêdiêng bị trục xuất khỏi Macao năm 1911, họ đến Hồng Kông. Tuy nhiên, Đấng Quan phòng nhìn đến họ. Nhờ sự rủi ro này, ước mơ truyền giáo của cha Versiglia cuối cùng cũng có thể trở thành hiện thực. Người Salêdiêng tự thiết lập trên đất Trung Hoa, ở quận Heung-Shan giữa Macao và Canton. Cuối cùng, công cuộc truyền giáo thực sự của người Salêdiêng ở Trung Hoa có thể bắt đầu.
Công cuộc Salêdiêng ở Ấn Độ
Việc những người Salêdiêng vào Ấn Độ, và đặc biệt tới Mylapore, là kết quả của một loạt các cuộc đàm phán lâu dài giữa giám mục địa phương và cha Rua.[614]
Ngày 6 tháng Mười Hai năm 1898, Đức Giám mục Mylapore, Antôn José de Souza Barroso viết một bức thư dài bằng tiếng Pháp cho cha Rua, xin người Salêdiêng đến giáo phận của mình. Ngài rất thông minh trong cách ngài nói, nhắc lại ý định của Don Bosco đối với Ấn Độ. ‘Tôi biết các cha Salêdiêng và đã có dịp cảm kích những công việc của họ. Don Bosco hăng hái mong muốn mở một nhà ở Ấn Độ ... Do đó, tôi mạn phép cha, và cha thân mến, mời cha mở một trại trẻ mồ côi tại Bandel, bên bờ sông Hoogly. Ở đó tôi có một nhà thờ xinh đẹp và một đan viện rộng, cổ kính với đất đai vườn tược tôi để cha tùy nghi sử dụng. Tôi có cảm giác rằng Bandel sẽ đáp ứng được những nhu cầu của Tu hội của cha dành cho các thanh thiếu niên địa phương một cách tuyệt vời, như tại Beitgemal ở Palestine. Thứ hai là tôi có một trường cao đẳng với ba trăm sinh viên theo học thuộc mọi tôn giáo, và bên cạnh đó, có một chủng viện để đào tạo thanh niên châu Âu và trên hết là những thanh thiếu niên địa phương trù định dành cho hàng giáo sĩ giáo phận địa phương. Tôi cũng mời cha cai quản nó luôn.’[615]
Từ một chú thích của cha Rua trên lá thư, chúng ta biết rằng ngài trả lời ngày 6 tháng Hai năm 1899: ‘Cho phép chúng con trì hoãn một năm và sau đó chúng con sẽ sẵn lòng thương lượng’. Ngày 11 tháng Tư, ngay khi nhận được câu trả lời, Đức Giám mục De Barroso thông báo với cha Rua rằng ngài đã được thuyên chuyển đến giáo phận Porto ở Bồ Đào Nha nhưng sẽ trao lại lời hứa cho người kế nhiệm mình, Theotonio Manuel Ribeiro Vieira de Castro. Đức Giám mục mới có lý do cá nhân để hướng tới người Salêdiêng: ‘Hồn tông đồ của Don Bosco thực sự muốn một hoặc nhiều cơ sở ở Ấn Độ. Vào tháng Tám năm 1885, khi tôi học xong ở Rôma, tôi đi qua Turin và đến một trong những ngôi nhà của hội dòng cha ở nông thôn để nhận phép lành của Đấng Sáng lập thánh thiện của cha. Đặt tay lên đầu tôi, ngài nói với tôi rằng ngài chúc lành cho những công việc của tôi. Và công việc nào ngài sẽ chúc lành hơn là công việc rất cần thiết và thích hợp để hợp tác trong việc cứu rỗi đời đời của 300 triệu người không phải tín hữu ở Ấn Độ?’[616]
Để vận hành các cuộc đàm phán cần thiết cho việc thành lập một trại trẻ mồ côi của Salêdiêng trong giáo phận của mình, Đức Giám mục Ribeiro bắt đầu bằng việc gửi một linh mục của mình, cha L.X. Fernandez đến cha Rua. Ngài đến giới thiệu mình với Bề Trên Cả ngày 3 tháng Tư năm 1901 với một bản ghi nhớ được viết bằng tiếng Latinh.[617] Với sự thận trọng thông thường của mình, cha Rua trả lời theo bốn điểm bằng cùng một ngôn ngữ: 1) ‘Scribat nobis Episcopus’ [để Đức Giám mục viết cho chúng tôi]; 2) Cho phép thời hạn trì hoãn bốn năm để người Salêdiêng chuẩn bị nhân sự; 3) Lo liệu một chuyến hành trình gồm sáu người đến Mylapore và ít nhất một chuyến hành trình khứ hồi; 4) Ngoài nhà ở cho người Salêdiêng và học sinh của họ, cung cấp bất cứ thứ gì cần thiết cho họ trong khoảng thời gian năm năm.[618] Cha Rua không muốn gửi những người truyền giáo của mình vào một cuộc phiêu lưu mà không có lối thoát. Tuy nhiên, câu trả lời của ngài gửi Đức Giám mục đã bị thất lạc và các cuộc đàm phán kéo dài trong một thời gian dài. Vì vậy, năm sau Đức Giám mục Ribeiro nhờ ‘Đức Thượng phụ’ Goa, An Tôn Sebastian Valente, người sẽ đi ngang qua Rôma, can thiệp với cha Tổng Đại diện Marenco, và ngài đã báo cáo với cha Rua ngày 8 tháng Tư năm 1902.[619] Không lo lắng, ngày 30 tháng Tư, cha Rua lặp lại các điều kiện của mình, do đó thuyết phục Đức Giám mục Mylapore viết một lá thư dài vào ngày Giáng sinh nhắc lại đề nghị của ngài về một trại trẻ mồ côi. Ngài ghi rõ: ‘Sau khi xem xét tất cả các trường hợp, trong số các sứ vụ của giáo phận của tôi, tôi đã chọn Tanjore làm địa điểm cho trại trẻ mồ côi Salêdiêng của chúng ta. Tuy nhiên, khi các con cái của Don Bosco đến Ấn Độ, nếu họ nghĩ rằng một nơi khác trong giáo phận của tôi phù hợp hơn, tôi sẽ không phản đối.’ Sau đó ngài tiếp tục trình bày những lợi thế của thành phố Tanjore.[620]
Sau đó là một cuộc trao đổi thư từ giữa Đức Giám mục vốn rất muốn đạt được mục tiêu của mình và cha Rua vốn quyết tâm không gửi những người truyền giáo của mình đến Ấn Độ trước năm 1905. Cuối cùng, ngày 19 tháng Mười Hai năm 1904, thỏa thuận được hai bên ký tại Turin, Bề Trên Cả và Đức Giám mục Ribeiro, lúc đó đang ở Ý trong chuyến thăm ad limina. Người ta cảm nhận được mối quan tâm bảo vệ người Salêdiêng hết sức có thể để khỏi bị thải hồi mà không có bất kỳ thu nhập nào của riêng họ và để mặc họ tự xoay sở lấy ở châu Á xa xôi. Tuy nhiên, nếu họ được hỗ trợ tốt, họ sẽ được tự do tiếp tục công việc của họ. Bây giờ chúng ta hãy đọc văn bản Thỏa thuận đầy thú vị:
Đồng ý rằng:
1) Bề trên của người Salêdiêng sẽ gửi ít nhất sáu người đến giáo phận Mylapore để chỉ đạo và quản lý một trại trẻ mồ côi nam với trường nghề kèm theo.
2) Đức Giám mục sẽ chu cấp một chuyến đi ra nước ngoài miễn phí (lớp 1 hoặc lớp 2) cho sáu người và ít nhất một chuyến khứ hồi cho mỗi người và đối với những thay đổi mà trong năm năm đầu, có thể phải được thực hiện cho vấn đề sức khỏe hoặc động cơ hợp lý khác.
3) Trong năm năm đầu Đức Giám mục sẽ không chỉ cung cấp nhà cửa, thực phẩm và quần áo cho người Salêdiêng và học sinh của họ mà còn bao gồm tất cả các chi phí cần thiết của cơ sở đó (nhà đó).
4) Mặc dù nhà (cơ sở) này sẽ thuộc quyền tài thẩm của Đức Giám mục giáo phận, tuy nhiên, Giám đốc được chỉ định bởi Bề trên sẽ có toàn quyền tự do chỉ đạo, quản trị và thi hành kỷ luật nội bộ trong cở sở này.
5) Việc tiếp nhận học sinh thuộc về cả Đức Giám mục và giám đốc, chăm sóc để các thiếu niên được khỏe mạnh, được tiêm ngừa, không dưới tám tuổi và không lớn hơn mười lăm tuổi.
6) Tuy nhiên, giám đốc có thể đuổi những người mà ngài thấy không thích hợp cho trại trẻ mồ côi nhưng ngài sẽ thông báo cho Đức Giám mục.
7) Người Salêdiêng sẽ cố gắng học tiếng Tamil và tiếng Anh vốn là hai ngôn ngữ chính được sử dụng trong giáo phận.
8) Giám đốc và Đức Giám mục sẽ luôn cố gắng đồng ý mọi thứ, vì sự khai trí của các linh mục và người dân địa phương và vì lợi ích của linh hồn và mối lợi của Tu hội.
9) Cả hai bên sẽ có quyền giới thiệu những sửa đổi mà sau một thời gian thử nghiệm hai năm, họ cho là hợp lý.
Turin, Nguyện xá Salêdiêng
19 tháng Mười Hai năm 1904
Ký tên:
Đức Giám mục Theotonio Mylapore
Cha Micae Rua Bề trên Cả của người Salêdiêng Don Bosco.[621]
Cuộc viễn chinh truyền giáo gồm ba linh mục, một chủng sinh, một sư huynh và một đệ tử; cha George Tomatis (1865-1925) lãnh đạo họ. Họ giương buồm từ Genova ngày 18 tháng Mười Hai năm 1904. Cha Rua đã cầu xin một phép lành đặc biệt cho họ từ Đức Giáo Hoàng. Đức Piô X trả lời thông qua Bộ trưởng Ngoại giao Merry del Val rằng: ‘'Đức Thánh Cha gửi một phép lành đặc biệt cho cha George Tomatis và các bạn đồng hành sắp đi Ấn Độ và cầu xin Thiên Chúa sẽ không chỉ biệt đãi họ trong hành trình dài mà còn khiến sự mệt mỏi của họ sinh hoa trái, để sứ mệnh mới có thể khiến các con cái Don Bosco xứng đáng hơn với Giáo hội.’[622] Họ cập cảng Bombay ngày 6 tháng Giêng năm 1905 và đến Tanjore vào ngày 14.
Như vậy một công việc truyền giáo ở Ấn Độ được trù định đã ra đời, qua nhiều năm, để đạt được một sự mở rộng phi thường. Đây là lần gieo trồng thành công thứ hai ở vùng Viễn Đông mà cha Rua chịu trách nhiệm. Về sự phát triển toàn cầu của Tu hội của ngài, nhiệm kỳ Bề Trên Cả của ngài mang tính quyết định cho châu Á như Don Bosco đối với Nam Mỹ.
Chú thích
[584] Biên bản cuộc họp Tu Nghị Bề trên, ngày 11 tháng Tám, 1894, trong FdR 4241E11.
[585] Thỏa thuận này được sao chép lại trong FdR 3497A3-5.
[586] X. Dự án thỏa thuận trong FdR 3497A1-2.
[587] Cuộc hành trình này x. thư của Cha Rinetti gửi Cha Belmonte, ngày 23, 25, 29 tháng Ba và 1 tháng Tư trong FdR 3008D7-E8.
[588] FdR 3165E8-9, thông tin tổng quát về việc thành lập và khởi đầu của công trình Salêdiêng ở Alexandria.
[589] Thư của E. Schiaparelli gửi C. Durando, Florence, ngày 3 tháng Sáu, 1890, trong FdR 3169D2-3; cf. Annali II, 316.
[590] Được giữ gìn trong FdR 3170A8-9; X. Annali II, 321.
[591] Annali, II, 322.
[592] X. Annali, III, 414-421.
[593] X. Thư của E. Schiaparelli gửi M. Rua, Turin, ngày 26 tháng Sáu, 1903 trong FdR 3486B3-5.
[594] Biên bản cuộc họp Tu Nghị Bề trên, ngày 21 tháng Tám, 1903 trong FdR 4244A3.
[595] Biên bản cuộc họp Tu Nghị Bề trên, ngày 21 tháng Tám, 1903 trong FdR 4245B6
[596] Bản ghi nhớ này được tìm thấy trong FdR 3486C8-D1. Tổng thể Smyrna (Izmir) vào thời Cha Rua x. FdR 3484E10-3487C6.
[597] X. Annali III, 536-537.
[598] Bản văn gốc được tìm thấy trong F. Desramaut L’Orphelinat Jésus Adolescent, 290-291.
[599] Biên bản cuộc họp Tu Nghị Bề trên, ngày 15 tháng Mười, 1904, trong FdR 4244B12.
[600] Những than phiền của Schiaparelli về Nadaret được Tu Nghị Bề trên ghi biên bản trong các buổi họp ngày 10 tháng Tư, 7 và 8 tháng Tám và ngày 18 tháng Mười Một, 1905, trong FdR 4244E10, 4245B1-2.
[601] Về vấn đề bảo hộ và hậu quả của nó đối với người Salêdiêng trong suốt Thế Chiến I, x. F. Desramaut, L’Orphelinat Jésus Adolescent, 49-63, 127-139.
[602] Liên quan đến cơ sở ở Macao, x. Annali III, 596-605.
[603] X. Mười lá thư của F. Rondina gửi A. Conelli trong suốt năm 1890 trong FdR 3281B4-C12.
[604] X. ví dụ thư của M. Rua gửi A. Conelli, Antwerp, ngày 14 tháng Năm, 1890 trong FdR 3888A5.
[605] Thư của A. Ajuti gửi M. Rua ngày 25 tháng Năm, 1899 trong FdR 3281A6-7.
[606] Thư của A Ajuti gửi M Rua ngày 2 tháng Sáu, 1899 trong FdR 3281A9-10
[607] Thư của M Rua gửi A Conelli, Turin, ngày 4 tháng 12, 1899 trong FdR 3888B5
[608] Thư của J P de Azevedo gửi M Rua, Macao, ngày 17 tháng Tư, 1904 trong FdR 3282A11.
[609] Thỏa thuận theo dự án được giữ trong in FdR 3281D7-9.
[610] Tài liệu được tìm thấy trong FdR 3282A12-B2.
[611] X. Bollettino Salesiano, tháng Tám, 1906, 231-232.
[612] Thư của J P deAzevedo gửi M Rua, Macao, ngày 16 tháng Mười Một, 1906, trong FdR 3282B3-C5; cf. Annali III, 605.
[613] Thư của L. Versiglia gửi M. Rua, Macao, ngày 22 tháng Mười Một, 1908 trong FdR 3281A12-B3. Annali không biết đến tài liệu này.
[614] Về cơ sở Salêdiêng trong giáo phận Mylapore (hoặc Meliapore) x. FdR 3515B11-3516D10 và bài tường thuật trong Annali III, 606-613, vốn hình thành nền tảng của bài tường thuật của tôi.
[615] Thư của A de Barroso gửi M Rua, ngày 6 tháng 12, 1898 trong FdR 3515C3-6.
[616] Annali III, 607.
[617] X. tài liệu trong FdR 3515C10.
[618] Bản thảo thư của M Rua gửi T M Ribeiro Vieira de Castro trong FdR3515C11-12.
[619] Thư của G. Marenco gửi M Rua, ngày 8 tháng Tư, 1902 trong FdR 35d15D3.
[620] Thư của T M Ribeiro Vieira de Castro gửi M Rua ngày 25 tháng 12, 1902, trong Annali III, 569.
[621] Thỏa thuận được sao chép lại trong FdR 3516C8-12; x. Annali III, 570, ghi chú.
[622] Annali III, 571.