FMA Logo

24. Thế kỷ mới hé rạng



Các Giám đốc Salêdiêng như là vị giải tội của người bề dưới (thuộc quyền)

Như thế Cha Rua bắt đầu nhiệm vụ mười hai năm thứ hai của mình mà thường sẽ được tôi luyện bởi những thử thách nặng nề. Chúng ta hãy bắt đầu với vấn đề của Giám đốc-Cha giải tội.[437]

Để hiểu vấn đề này, vốn buộc cha Rua phải bãi bỏ một truyền thống đã ăn sâu trong Tu hội, chúng ta cần quay trở lại Nguyện xá thuở ban đầu. Don Bosco, linh mục duy nhất, cũng là cha giải tội cho những ai sống với ngài. Sau đó, các linh mục khác đến tham gia với ngài; trong khi ngài không ngần ngại sử dụng các cha giải tội bên ngoài, phần lớn các cậu bé và các anh em tiếp tục đi xưng tội với Don Bosco. Việc ngài là bề trên đã không ngăn trở người thuộc quyền tâm sự những bí mật lương tâm với ngài, vì trong cách ngài thực thi quyền hành, ngài tỏ ra là một người cha hơn là một bề trên. Vào thập niên 1860, khi ngài bắt đầu thành lập các trường nội trú (collegi), các giám đốc, được huấn luyện theo tinh thần của ngài, cư xử theo cách tương tự; họ biết cách làm cho mọi người yêu mến và tin tưởng; họ thực thi quyền hành theo cách của một người cha. Họ rất thích thú với những câu hỏi tu đức, nhưng trong con mắt của các anh em dường như họ có một quyền lực thiêng liêng được tạo nên từ một lòng tốt bao dung, điều đó khiến mọi người tin tưởng. Như vậy mỗi Giám đốc tiên vàn là cha giải tội cho cộng đoàn. Cũng giống như Don Bosco, qua lời nói và gương mẫu cá nhân, đã gợi ý một sự phòng ngừa, mà ngài nhắc đến trong hai đoạn từ di chúc thiêng liêng của mình, hai điều không được tách rời nếu chúng ta muốn hiểu suy nghĩ thâm sâu của ngài:

6. - Giám đốc hầu như là cha giải tội thông thường cho các hội viên. Nhưng ngài thận trọng để tự do cho bất kỳ ai muốn đi xưng tội với người khác. Tuy vậy phải hiểu rằng các cha giải tội đặc biệt như vậy phải được bề trên biết và chấp thuận theo Quy luật của chúng ta.

7. - Vì bất cứ ai tìm kiếm một cha giải tội đặc biệt cho thấy họ ít tin tưởng vào giám đốc, là người vốn phải biết để ý và đặc biệt tuân thủ các quy tắc khác và không giao cho người hội viên những gánh nặng nhất định mà có thể vượt quá sức lực đạo đức hoặc thể chất của họ.[438]

Vì vậy, mặc dù người Salêdiêng có quyền tự do không thể phủ nhận để chọn một cha giải tội mà không phải là giám đốc của mình, thì theo tinh thần của Don Bosco, sự tự do này rất hạn chế. Bất cứ ai không xưng tội với giám đốc của mình thì có phần khả nghi.

Cách thức này, chắc chắn nguy hiểm khi các cộng đoàn mới nổi lên khắp mọi nơi, tiếp diễn trong mười hai năm sau khi thánh nhân qua đời. Giám đốc nghe bề dưới và học sinh trong nhà xưng tội.

Những phàn nàn bắt đầu nảy sinh theo thời gian, có lẽ ban đầu ngay từ chính những người Salêdiêng. Ngày 26 tháng Chín năm 1896, Đức Hồng y Parocchi viết một lá thư cho Cha Rua phàn nàn về sự thiếu tự do trong các nhà của người Salêdiêng về sự lựa chọn các cha giải tội.[439] Cha Rua bào chữa cho mình nói rằng trong các nhà của người Salêdiêng thực ra có nhiều cha giải tội khác nhau.[440] Sau đó, Văn phòng Tòa Thánh yêu cầu các biện pháp phòng ngừa của cha Rua được tuân thủ chặt chẽ trong Tu hội Salêdiêng.[441] Nhưng cảnh giác với lời cảnh báo ấy, Bề Trên Cả đề nghị các Hiệu trưởng, thông qua vị Phó Tổng Bề trên, cha Belmonte, mời các cha giải tội ngoại thường đến nhà mỗi tháng, hoặc thậm chí tốt hơn nữa là mỗi hai tuần.[442] Cách thức tự do lương tâm này dường như được bảo đảm. Nhưng Rôma lại nghĩ ​​khác.

Sắc lệnh của Văn phòng Tòa Thánh (5 tháng Bảy năm 1899)

Giáo Hội bắt buộc các người Salêdiêng thay đổi cách giải quyết vấn đề. theo một bức thư của cha Tổng Đại diện Marenco gửi cho Đức Giám mục Cagliero, Lý do là: Tòa Thánh nhận thấy sự lan truyền có tầm mức toàn cầu của Tu Hội Salêdiêng, không muốn một việc thực hành được đưa vào mà không hoàn toàn phù hợp với tinh thần của Giáo hội.[443] Nói thật ra, Rôma sợ ba điều: a) trong các trường nội trú Salêdiêng, quyền tự do của các thiếu niên đi xưng tội có thể gây bất lợi cho sự toàn vẹn bí tích; b) các cấp trên bị ràng buộc bởi bí mật của tòa giải tội có thể ít tự do hơn trong việc thực hiện nhiệm vụ của họ; c) rằng họ có thể bị nghi ngờ sử dụng thông tin thu được từ tòa giải tội. Đó là sự khôn ngoan đơn thuần và đơn giản.

Toà Thánh tiến hành theo từng giai đoạn. Đặc biệt, với sắc lệnh của Văn phòng Tòa Thánh ngày 5 tháng Bảy năm 1899, cấm bất kỳ cấp trên, lớn hay nhỏ, giải tội những người thuộc cấp và học sinh cư trú trong nhà của họ trong các cộng đoàn tu trì, chủng viện hoặc các trường cao đẳng của Rôma. Sắc lệnh liên quan riêng biệt đến thành phố Rôma, nhưng nó cũng được đưa vào trong các giáo phận khác. Ví dụ như Đức Hồng y Giám mục của Frascati, ngay lập tức mở rộng nó trong phạm vi quyền hạn của mình. Do đó, Giám đốc Salêdiêng của lưu xá Thánh Tâm ở Rôma và Giám đốc trường nội trú tại Frascati, phải ngừng giải tội trong nhà. Trong khi đó tin đồn lan ra rằng một điều khoản triệt để hơn sắp được ban hành.

Cha Rua cảm thấy có bổn phận phải chấp nhận quan điểm này, hơn thế nữa kể từ khi sắc lệnh được phát hành trên một số tạp chí chuyên ngành. Ngày 29 tháng Mười Một năm 1899, ngài đã viết một thư luân lưu dài cho các Giám tỉnh về bí tích hòa giải, trong đó các nguyên tắc của Don Bosco nổi lên rõ ràng.[444] Ngài giới thiệu nó bằng cách cho là văn bản của Tòa Thánh chỉ nhắc đến việc xưng tội của học sinh (alumni) với bề trên. Ngài nhắc họ rằng theo hai sắc lệnh giáo hoàng trước đây, cha giải tội thông thường cho các tập sinh là tập sư và rằng các bề trên dòng tu có thể nghe người thuộc quyền xưng tội nếu họ tự động xin. Đối với phần còn lại, vì sắc lệnh được đề cập không bắt buộc ở bên ngoài Rôma, các giám đốc có thể tiếp tục giải tội như trước đây. Tuy nhiên, ngài đã ban hành bảy chỉ thị về vấn đề này: không thực thi quyền hành trong "những vấn đề nghiêm trọng"; để người khác chăm sóc kỷ luật; ủy thác cho Phó Bề trên (prefect) nhiệm vụ tiếp xúc với phụ huynh sinh viên; không tham gia vào việc cho điểm hạnh kiểm; không đọc điểm này nơi công cộng; mời các cha giải tội bên ngoài đến nhà vào mỗi thứ bảy và sắp xếp các cha ở nơi mà người trẻ có thể đến mà giám đốc không nhìn thấy; thu phục tấm lòng của người phụ thuộc với lòng tốt và tử tế và nhẫn nại bác ái.

Ở điểm này ngài tiếp tục nói các giám đốc có trách nhiệm đến các hội viên, song không bỏ quên các thiếu niên. Ngài nói, những vị này phải "hướng dẫn các hội viên khác trên đường tiến tới sự hoàn thiện, phải như người gác đêm trông coi người trẻ được giao phó cho họ, phải canh giữ tinh thần của Don Bosco, phải giải thích một cách có thẩm quyền về ý định của các bề trên, vốn thực sự là những người biểu thị cho quyền bính của họ.". Vì vậy, giám đốc là người đầu tiên chịu trách nhiệm về bước tiến của người thuộc quyền tới sự trọn lành. Nếu để mặc họ, nhiều người không biết làm thế nào để tiến bộ. “Lệnh truyền của Đấng Cứu Thế đặc biệt viết cho anh em: Euntes docete. Hãy đi và giảng dạy sự hiểu biết của mọi sự hiểu biết, sự hiểu biết của các thánh, chỉ một loại hiểu biết thực sự cần thiết, việc dạy dỗ mà không thể và không được giao phó cho người khác. Hãy dạy thực hành sự hoàn thiện trong các buổi huấn đức, xưng tội và thổ lộ (hạn từ ngày xưa nói về việc bàn hỏi, đàm thoại thân mật rendiconto, một hạn từ cổ điển trong bối cảnh Salêdiêng); Hãy dạy điều đó trong mọi loại đối thoại mà Don Bosco đã có". Như vậy, giám đốc của một cộng thể phải chăm sóc đặc biệt những người trẻ tuyên khấn. "Đừng ngạc nhiên khi thấy họ có khuyết điểm, hoặc nếu anh em cứ phải nói đi nói lại một chuyện: anh em biết họ không đột ngột trở nên hoàn thiện đâu".

Rõ ràng là việc Xưng tội chỉ là một công cụ trong số những công cụ khác trong tay của Giám đốc. Ví dụ như cha Rua nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc thổ lộ (bàn hỏi) hơn Don Bosco đã làm. Tuy nhiên, trong những ngày cuối cùng của thế kỷ 19, ngài tiếp tục kiên quyết nhấn mạnh về sự trung thành với truyền thống được thừa kế bởi Vị Sáng lập, người muốn giám đốc trở thành cha giải tội thông thường của các hội viên để bảo đảm bước tiến thiêng liêng.

Sắc lệnh ngày 24 tháng Tư năm 1901

Cha Rua cố gắng kéo dài thời gian. Chính ý tưởng phá bỏ một truyền thống rất thân thiết với Don Bosco, kéo dài hơn sáu mươi năm, khiến ngài cảm thấy khủng khiếp. Đối mặt với sự trương rộng khả dĩ của sắc lệnh từ Rôma đối với toàn Tu hội, sự nản chí ở mức độ nào đó đã được cảm nhận giữa các hội viên, đặc biệt là những người cao tuổi. Thực vậy, Rôma đang để mắt đến việc thực hành của người Salêdiêng. Ngày 26 tháng Mười Một năm 1900, Đức Hồng y Gotti, vị Chủ tịch của Thánh Bộ các Giám mục và Dòng Tu, đã than phiền với cha Tổng Đại diện Marenco rằng bên ngoài Rôma, giám đốc Salêdiêng buộc phải nghe bề dưới của họ xưng tội và sự thổ lộ liên quan đến những vấn đề riêng tư.[445]

Vào năm 1901, ngay sau khi kết thúc những ngày lễ Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu, tin tức từ Rôma đưa tới rằng một biện pháp từ Văn phòng Tòa Thánh đã sẵn sàng, tuyệt đối cấm các bề trên Salêdiêng nghe người dưới xưng tội. Chẳng mấy chốc nó đến. Nó đề ngày 24 tháng Tư, nhưng được chuyển tới vị Tổng Đại diện Salêdiêng chỉ vào ngày 29 tháng Năm.[446] Nó được thể hiện bằng các hạn từ nghiêm khắc. Chúng ta có thể đọc trong văn bản đính kèm: "Ủy viên Văn phòng Tòa Thánh, khi đệ trình sắc lệnh xác thực ngày 24 tháng Tư năm 1901, yêu cầu cha Tổng Đại diện của người Salêdiêng cho ngài biết càng sớm càng tốt bằng văn bản rằng sắc lệnh này không những được Dòng chấp nhận mà còn được triển khai nhanh chóng và đầy đủ trong tất cả các nhà của Dòng nói trên".[447] Khi đã có văn bản, cha Rua nhanh chóng yêu cầu Cha Tổng Đại diện gửi tuyên bố sau đến Văn phòng Tòa Thánh: "Con có vinh dự báo cho Đức Cha biết rằng con đã trao cho Bề Trên Cả sắc lệnh của Đức Cha ngày 24 tháng Tư từ Tòa Tối Cao Rôma và nó đã không những được Dòng chấp nhận mà còn sẽ được gấp rút thực hiện đầy đủ trong tất cả các nhà theo yêu cầu của cùng sắc lệnh này".

Nhưng cha Rua quan tâm và do dự về việc nguy cơ khiêu khích Văn phòng Tòa Thánh. Ngay lập tức ngài hỏi liệu việc truyền đạt sắc lệnh có thể được hoãn lại cho đến Tổng Tu Nghị tiếp theo vào tháng chín hay không. Ngày 22 tháng Sáu, ngài được yêu cầu thực hiện việc truyền đạt sine mora, không chậm trễ. Rồi ngài dùng một cách tiếp cận khác. Liệu sine mora được hiểu theo nghĩa nghiêm ngặt hay nó có thể được làm tương thích với mệnh lệnh chứa trong cùng một sắc lệnh để truyền đạt intra annum (trong vòng một năm) việc thực hiện sắc lệnh đối với Tu hội Salêdiêng? Như vậy liệu có hợp pháp để trì hoãn việc truyền đạt sắc lệnh cho toàn Tu hội cho đến sau khi kết thúc Tổng Tu Nghị tiếp theo không?

Trong khi đó, cha Rua giảng các bài huấn đức ngắn cho các hội viên tại Nguyện xá, trong Nhà thờ Thánh Phanxicô Salê. Nhiều người ngạc nhiên vì có lúc thấy vị thư ký thay thế ngài ngồi trong tòa giải tội. Ngài biện hộ bằng cách kể câu chuyện của hai sắc lệnh, một của Rôma và một mở rộng cho toàn Tu hội. Các anh em hỏi ngài: Don Bosco sẽ làm gì trong hoàn cảnh tương tự? Chắc chắn ngài sẽ vâng lời ngay lập tức. Và đây là ngụ ý của ngài khi tự vắng mặt trong tòa giải tội. Vì vậy ngài yêu cầu đừng bị đặt vào tình huống khó xử khi được xin giải tội. Sau đó ngài đọc sắc lệnh ngày 24 tháng Tư bằng tiếng Latinh và liền ngay sau đó bằng tiếng Ý. Không vẽ vời thêm nữa, ngài dâng lời cầu nguyện cuối cùng và để cho hội nghị tiếp diễn.

Ngày 6 tháng Bảy, ngài mở rộng thông báo chính thức cho toàn Tu hội qua các Giám tỉnh. Thư luân lưu của ngài yêu cầu mỗi giám đốc quy tụ các anh em khấn và đọc to sắc lệnh để mọi người có thể hiểu được; sau đó không giải thích thêm để giải thích sắc lệnh cho những người không hiểu tiếng Latinh; văn bản phải được giữ nghiêm túc vì nó đến từ thẩm quyền cao nhất của Giáo Hội. Và ngài kết luận:

Cho đến bây giờ theo Tổng Tu Nghị đã bàn thảo và xem xét kỹ lưỡng, chúng ta đã dường như giữ đường lối phù hợp nhất với hoàn cảnh của chúng ta: giờ đây người mà Thiên Chúa đã yêu cầu để hướng dẫn mọi người, các vị lãnh đạo, nói với chúng ta rằng chúng ta phải thay đổi; chúng ta nhìn nhận và hoàn toàn tôn trọng những gì đã được quy định và sẽ sẵn sàng thực hiện đầy đủ, như thế là bắt chước Don Bosco, người cha tốt lành của chúng ta vốn vâng phục và tôn kính thực hiện bất kỳ chỉ thị nào từ Tòa Thánh. Chúng ta sẽ không hỏi tại sao lại đưa ra một mệnh lệnh như vậy, người nào hay sự kiện nào có thể đã gây ra nó: chúng ta xác quyết rằng nó đến từ Chúa Quan phòng yêu thương, là chính Đức Giêsu, Đấng đã rủ lòng nói với chúng ta qua vị Đại Diện của Người, vì vậy chúng ta hãy chú tâm trung thành thực hiện những lệnh truyền này cách sâu sắc nhất.[448]

Cùng một cách thức ấy, đang khi đó cha Rua thiết lập một nghiên cứu thần học mà sẽ gây nhiều khó nhọc cho ngài. Hai khó khăn đã được dự đoán trong việc thực hiện ngay quyết định của Rôma. Làm thế nào để tìm một cha giải tội trong mỗi khu trường sở với những phẩm chất cần thiết và không vướng bận bổn phận vốn có thể không tương thích với tinh thần chung của sắc lệnh? Làm thế nào để vượt qua mối ác cảm được nhiều hội viên cảm nhận, đặc biệt là những người lớn tuổi, với một biến cố sống sượng như vậy? Ngài nhờ Cha Lu-y Piscetta, một nhà đạo đức học rất được ngưỡng mộ, nghiên cứu vấn đề này. Ngài tham khảo ý kiến của Đức Cha Phụ tá Đức Tổng Giám mục Turin, Gioan Tẩy Giả Bertagna, người mà như cha Rua viết, "đã hơn bốn mươi năm dạy môn luân lý giải nố cho các linh mục để chuẩn bị cho mục vụ giải tội, được mọi người ca ngợi". Sau khi suy nghĩ chín chắn, cha Piscetta giao các kết luận của mình cho cha Rua, người đã nhanh chóng cho in ra. Ngày 15 tháng Bảy năm 1901, ngài gửi các kết luận đến các Giám tỉnh, cùng với một thư luân lưu giải thích xuất xứ của chúng.[449]

Mặc dù đã có biện pháp phòng ngừa, những câu trả lời của Piscetta rơi vào tay của Văn phòng Tòa Thánh và họ coi đó là một vấn đề thực sự rất nghiêm trọng. Cha Tổng Đại diện Salêdiêng ở Rôma ngay lập tức được Ủy viên của Văn phòng Tòa Thánh triệu tập và được thẩm vấn cặn kẽ: Thánh Bộ thấy dường như cha Rua đang cố gắng bằng mọi cách tránh thực hiện đầy đủ sắc lệnh; ngài sẽ bị khiển trách vì muốn giải thích một tài liệu như vậy, vì công việc này được nghiêm ngặt dành riêng cho Văn phòng Tòa Thánh. Ủy viên trình bày bằng ngôn từ nghiêm trọng và buộc cha Tổng Đại diện thông báo cho cha Rua những lời giải thích của nhà thần học phải bị thu hồi ngay lập tức, sau khi chính Toà Thánh đã trả lời các câu hỏi nêu ra. Tất cả những điều này sẽ không xảy ra nếu cha Rua lưu ý rằng việc giải thích các sắc lệnh của Văn phòng Tòa Thánh chỉ dành cho những người ban hành các sắc lệnh đó. Mặc dù có ý định tốt muốn cho mọi việc suôn sẻ, ngài đang gây ấn tượng là nổi loạn, và sẽ phải chịu hậu quả của việc này. Ngài giữ bình tĩnh và đã viết cho các Giám tỉnh thu hồi những câu trả lời của cha Piscetta ngày 15 tháng Tám :

Tôi có tin vui để truyền đạt: Tôi biết được rằng Bộ lo việc Tố tụng tối cao và phổ quát (Congregation of the Supreme and Universal Inquysition) sẽ cung cấp cho chúng ta giải pháp chính thức cho những nghi ngờ khác nhau phát sinh từ việc thực hiện Sắc lệnh Quod a suprema ngày 24 tháng Tư năm nay. Kỳ vọng vào văn bản rất được mong đợi này, tôi thu hồi các giải pháp được tôi viết và in và bất cứ điều gì tôi đã nói để trả lời các câu hỏi trong quá khứ về lập luận này. Chúng ta hãy cảm ơn Chúa vì Ngài rủ lòng ban cho chúng ta một vị hướng dẫn chắc chắn và chúng ta hãy tiếp tục cầu nguyện để Ngài giúp chúng ta luôn trung tín trong việc thực hiện những giáo lý của Ngài.

Nhưng kỳ vọng hạnh phúc này không kéo dài lâu. Các câu hỏi được đệ trình đến bất cứ ai phải đưa ra một ý kiến và việc này ​​tạo ra hiệu ứng bất ngờ khi chính cha Rua được mời về Rôma. Ngài đi ngay lập tức và khi đã đến nơi chính cá nhân ngài phải chịu sự khiển trách mà trước đó ngài đã được thông qua cha Tổng Đại diện. Ngài cũng có ý tưởng rằng ngài đang được lệnh phải rời Rôma ngay lập tức. Cách đối xử khủng khiếp này dành cho ngài ở Rôma khiến ngực ngài sưng tấy và bệnh viêm mắt của ngài càng thêm nặng, căn bệnh mà ngài đã chịu đựng trong vài năm. Chỉ có Thiên Chúa mới biết ngài chịu đau khổ đạo đức nặng nề biết bao trong dịp đó, chắc chắn khủng khiếp hơn đau khổ thể lý.

Từ ngày 1 đến ngày 5 tháng Chin, Tổng Tu Nghị Thứ Chín của Tu hội sẽ diễn ra tại Valsalice. Ba ngày trước khi khai mạc, Văn phòng Tòa Thánh gửi các giải pháp cho những khó khăn, đề ngày 21 tháng Tám. Họ lặp lại những ý định trước đó theo văn phong thậm chí còn cưỡng chế hơn. Cha Rua lập tức ra lệnh cho in một ngàn bản câu trả lời của Rôma. Ngài muốn chúng được phân phát cho các thành viên của Tổng Tu Nghị. Ngài yêu cầu đọc văn bản đó cho các thành viên của Tổng Tu Nghị. Cha Tổng Đại diện Marenco đọc nó khi bắt đầu cuộc họp. Sau đó, như biên bản ghi, cha Rua nói ngắn gọn về các câu hỏi và câu trả lời, thú nhận rằng ngài không biết gì về các vấn đề liên quan đến các sắc lệnh của Văn phòng Tòa Thánh vốn phải được giải quyết độc quyền bởi chính Văn phòng Tòa Thánh. Vì vậy ngài thu hồi các giải pháp đã đưa ra trước đây và đề nghị rằng: "Chúng ta phải loại bỏ hoàn toàn bất kỳ giả thiết ác ý nào. [Sắc lệnh] đến từ Đức Giáo Hoàng, do đó từ Thiên Chúa, vì vậy chúng ta phải tuyệt đối và mau chóng phục tùng và cũng tạ ơn Thiên Chúa đã soi sáng cho chúng ta qua các Bề trên tối cao chúng ta; hãy quy cho một sắc lệnh như vậy một hành động nhân từ đặc biệt, nhằm đưa chúng ta đi theo đường lối phù hợp với các Tu hội khác và các Hội Dòng tương tự như chúng ta."[450]

Phải thực thi các mệnh lệnh. Trong khoảng thời gian một năm, bắt đầu từ ngày công bố sắc lệnh - do đó, đến ngày 24 tháng Tư năm 1902 - họ cần phải trình cho Văn phòng Tòa Thánh một bản sao về những nghị quyết của các Tổng Tu Nghị mà đã được sửa chữa ở các điểm liên quan đến việc xưng tội và cha giải tội. Không có đủ thời gian. Ngài xin và được thêm thời gian. Nhưng trong thư luân lưu ngày 9 tháng Ba năm 1902,[451] cha Rua đã cẩn thận tư vấn các anh em rằng sự chậm trễ trong việc in các tài liệu đã được sửa chữa không miễn cho họ theo bất kỳ cách nào việc thi hành trọn vẹn sắc lệnh.

Các thiếu niên thích nghi không gặp bất kỳ vấn đề gì. Trái lại, nhiều người Salêdiêng đã khấn nhận thấy khó đến xưng tội với các linh mục thường là cấp dưới của họ. Dưới đây là một ví dụ rút ra từ biên bản của một cuộc họp của Tổng Tu Nghị vào năm 1905. Ngày 16 tháng 2, Ủy viên Văn phòng Tòa Thánh gọi cha Tổng Đại diện Marenco để thông báo cho ngài rằng trong một nhà Salêdiêng, "các cá nhân buộc theo luân lý phải đi xưng tội với người nào mà không hưởng được một sự tin tưởng thông thường; rằng trong bất kỳ nghi ngờ nào, như thường lệ, Văn phòng Tòa Thánh tìm đến Đấng Bản quyền để lấy thông tin, để xác nhận mọi thứ, và sau đó Văn phòng Tòa Thánh sẽ yêu cầu giám mục cung cấp".[452] Về phần mình, cha Rua đã trả lời vắn tắt những phản đối đưa ra cho ngài. Rõ ràng ngài muốn tránh bất kỳ cuộc thảo luận nào, vì ngài muốn hoàn toàn và trọn vẹn vâng phục những quyết định của Rôma.

Dâng hiến Tu hội Salêdiêng cho Thánh Tâm Chúa Giêsu

Cha Rua đã bắt đầu năm đầu tiên đầy vất vả của thế kỷ 20 với một hành động mà có thể được đánh giá là một trong những việc quan trọng nhất của ngài khi đương nhiệm.[453]

Trong nhiều năm, ngài đã suy nghĩ về việc hoàn thành ước muốn của người Salêdiêng anh hùng Anrê Beltrami (1870-1897); ở cuối cuốn sách Beltrami viết về vị tông đồ của Thánh Tâm, Magarita Maria Alacoque, đã viết: "Chúng tôi muốn Đấng Cứu Thế hiền dịu của chúng ta và Đức Maria Mẹ Rất Thánh của Người, luôn luôn coi Tu hội Salêdiêng là một người con yêu dấu và điểm trang nó với những loại hoa của những phúc lành đặc biệt nhất. Và mặc dù tiếng nói của riêng tôi không nhiệt thành lắm, tôi muốn Tu hội Salêdiêng được long trọng dâng hiến cho Thánh Tâm, từ đó nó sẽ rút được những ân sủng mới của sự sống đời đời". Vào năm 1899, cha Rua hy vọng rằng mỗi người Salêdiêng sẽ đích thân tận hiến mình cho Thánh Tâm. Nhưng ngài biết về lời thề của cha Beltrami và muốn thực hiện nó. Thậm chí nhiều hơn thế vào thời điểm Thánh Tâm được sùng kính mạnh mẽ, ngài đã được yêu cầu từ nhiều phía, đặc biệt là từ các học viện, thực hiện một cử chỉ đặc biệt. Sau khi đã suy nghĩ kỹ và nghe Đức Hồng y Bảo trợ khuyên bảo về cơ hội và cách thức tận hiến toàn Tu hội Salêdiêng cho Thánh Tâm, ngài xét thấy đây là lúc hành động.[454] Trong thư luân lưu ngày 21 tháng Mười Một năm 1900, ngài viết cho người Salêdiêng: "Bây giờ cha muốn mỗi người lại tận hiến cách rất đặc biệt cho Thánh Tâm; thật vậy, cha muốn mọi giám đốc dâng hiến toàn nhà mà ngài coi sóc và mời các thiếu niên cũng thực hiện việc dâng hiến chính bản thân các em cách thánh thiện cũng như hướng dẫn các em về hành động tuyệt vời mà cha sắp thực hiện và tạo cho các em mọi cơ hội được chuẩn bị kỹ lưỡng".[455]

Ngài đề xuất cử hành hành động công khai vào tối ngày 31 tháng Mười Hai năm 1900, vào đầu thế kỷ mới. Và ngài đã chỉ ra công thức sẽ được dùng:

Lạy Chúa Giêsu, chúng con đã thuộc về Ngài theo quyền lợi vì Ngài đã cứu chuộc chúng con bằng Bửu Huyết của Ngài, nhưng chúng con cũng muốn thuộc về Ngài qua sự lựa chọn và bằng sự tận hiến tuyệt đối, tự nguyện: nhà của chúng con đã thuộc về Ngài theo quyền lợi vì Ngài là Chủ, nhưng chúng con còn muốn chúng thuộc về Ngài, và chỉ thuộc về Ngài mà thôi, qua mong muốn tự nguyện của chúng con; chúng con dâng hiến chúng cho Ngài: Tu hội chúng con đã thuộc về Ngài theo quyền lợi vì Ngài truyền cảm hứng cho nó, Ngài thành lập nó, Ngài đã cho nó xuất hiện, chúng con có thể nói, từ chính Trái Tim của Ngài. Vì vậy, chúng con muốn xác nhận quyền của Ngài; chúng con muốn điều đó, qua sự dâng hiến mà chúng con dâng lên Ngài, để trở thành một đền thờ mà trong đó chúng con có thể chân thật nói rằng Chúa, là Chủ và Đấng Cứu độ chúng con, Đức Giêsu Kitô ngự trị! Vâng, Lạy Chúa Giêsu, xin chinh phục mọi khó khăn, ngự trị giữa chúng con: nó là quyền của Ngài, Ngài xứng đáng với nó, chúng con cũng muốn như thế.[456]

Ngài cũng yêu cầu sự tận hiến long trọng này được chuẩn bị trong tam nhật cầu nguyện và rao giảng, bắt đầu với lễ các Thánh Anh Hài vào ngày 28 tháng 12, ngày giỗ Thánh Phanxicô Salê. Cha Rua muốn mọi người tham gia vào hành động này: các thiếu niên, tập sinh, các hội viên, các bề trên và số lượng Cộng Tác viên đông nhất có thể. Ngài nhắc rằng Đức Giáo Hoàng đã cho phép, tối ngày 31 tháng 12, cử hành Lễ trọng vào lúc nửa đêm, và đặt Mình Thánh Chúa. Vì vậy nhất thiết phải quy tụ lại nửa giờ để Chầu Thánh Thể, và sau mười lăm phút mọi người sẽ tuyên xưng lại lời hứa bí tích Rửa Tội, sau đó các hội viên sẽ lặp lại lời khấn. Tiếp đến mỗi người sẽ tận hiến bản thân, dâng hiến nhà và tận hiến toàn nhân loại cho Thánh Tâm Chúa Giêsu, theo công thức được soạn năm trước. Đồng thời tại Turin cha Rua và Tu Nghị Bề trên sẽ tận hiến toàn Tu hội. Sau Thánh Lễ và ban Phép lành Bí tích cực trọng, hát Te Deum và đọc những lời cầu nguyện khác do Đức Giáo Hoàng và các Giám mục quy định cho dịp này. Sự kiện này có thể được thực hiện vào sáng hôm sau tại các Nguyện xá ngày lễ.[457]

Là người đứng đầu Hội Dòng, cha Rua muốn có một công thức đặc biệt, được chấp thuận hợp lệ. Ngày 6 tháng 12, ngài viết thư cho Đức Lêô XIII:

Sự thúc đẩy mà Đức Thánh Cha đã ban cho lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu và lệnh truyền từ năm ngoái cho tất cả các giáo phận và dân tộc được tận hiến cho Trái Tim Rất Thánh đã dấy trong chúng con niềm mong muốn thực hiện việc tận hiến đặc biệt trọng thể của Tu hội Thánh Phanxicô Salê, được sáng lập bởi người cha không thể nào quên của chúng con, Don Bosco, và dâng hiến tất cả các công cuộc và những người phụ thuộc vào chúng con theo bất kỳ cách nào, vào đêm chia tách thế kỷ sắp tàn với thế kỷ mới, một đêm mà qua lòng nhân ái mục tử của Đức Thánh Cha, chúng con có thể cử hành Thánh Lễ. Tin tưởng rằng điều này sẽ làm vui lòng trái tim của ngài vốn bừng cháy lòng sùng kính Trái Tim Rất Thánh của Chúa Giêsu mà ngài làm vị Đại diện, xin cho phép chúng con được trình lên ngài một công thức cho sự tận hiến này, để, cùng với sự chúc lành của ngài, nó có thể ngọt ngào hơn và thu hút dồi dào ân sủng và ân huệ mà chúng con cần để làm việc nhanh chóng hơn nhằm truyền bá Nước Trời của Chúa Giêsu Kitô và phần rỗi các linh hồn.[458]

Tòa Thánh chấp thuận lời cha Rua yêu cầu, khi đáp lời: "Đức Thánh Cha đã nhiệt thành ca ngợi đề xuất sùng đạo của cha, và hết lòng chúc lành cho cha". Do đó, ngày 31 tháng Mười Hai năm 1900, trong khi tất cả các nhà Salêdiêng bắt đầu với sự tận hiến, thì cha Rua, phủ phục với các thành viên khác của Tu Nghị Bề trên trước Thánh Thể được đặt trên bàn thờ của Đức Maria Phù Hộ các Giáo Hữu, đọc to công thức đặc biệt với mọi người tham dự đầy nhiệt huyết. Qua đó ngài đã dâng hiến con người, nhà cửa, các công cuộc của Tu hội Salêdiêng cho Thánh Tâm, cùng với Tu hội Con Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu, Hiệp Hội các Cộng Tác viên, giới trẻ được giao phó cho người Salêdiêng và các Nữ tu.[459]

Cuối thư luân lưu cha Rua lưu ý rằng hành vi dâng hiến thì ngắn gọn, nhưng kết quả của nó phải kéo dài. Chính vì thế ngài nghĩ là giới thiệu cho những người Salêdiêng nhiều việc thực hành đạo đức nhất định được Giáo hội phê chuẩn và "nhờ đó mà được làm cho phong phú với nhiều ân xá" quả là thích hợp. Vì vậy, với lòng sốt mến đạo đức, ngài đề nghị rằng Lễ Thánh Tâm hàng năm phải được cử hành long trọng ở tất cả các nhà; rằng một buổi lễ đặc biệt được tổ chức mỗi thứ sáu đầu tháng, khích lệ mỗi hội viên và từng thiếu niên thực hiện việc "hiệp lễ đền tạ" trong ngày đó; để anh em tán thành việc "thực hành Chín chức vụ" (hoặc chín việc dành cho Thánh Tâm: Tôn thờ, Yêu mến, Hiến tế, Môn đệ, Tôi tớ, Cổ vũ, Nài xin, Nhiệt thành, Sửa chữa). Ngài mời gọi mỗi cộng đoàn tham gia vào "Hội những người canh thức vinh dự" (Confraternity of the Honor Guards). Ngài đề nghị một Giờ Thánh (đêm thứ Năm, để tưởng nhớ Chúa Giêsu cầu nguyện trong vườn Giêtsêmani) được lập ra trong các tập viện và học viện. Ngài không thể tưởng tượng rằng tất cả các việc thực hành này sẽ bị bỏ đi trong khoảng một vài thập kỷ, thậm chí tầm quan trọng của chúng, được minh họa trong tài liệu dài "Chỉ thị về việc tôn sùng Thánh Tâm Chúa Giêsu" mà đi kèm với thư luân lưu,[460] sẽ không được các thế hệ tương lai trân trọng. Một cha Rua điềm tĩnh, giống như nhiều người đương thời của mình, có thể rất nhiệt tình khi liên quan đến việc tôn vinh Thánh Tâm Chúa Giêsu.

Nghi lễ ngày 31 tháng Mười Hai năm 1900 đã mở ra một thế kỷ cho thấy Tu hội Salêdiêng phát triển tuyệt vời, nhưng cũng phải đau khổ nhiều. Những đau khổ không phải chờ lâu. Năm 1901 đối với những người Salêdiêng Pháp là thời điểm của "sự bách hại."

Chú thích

[437] Về vấn đề Hiệu trưởng Salêdiêng Rector làm cha giải tội, tôi theo sát Ceria, Vita, 338-348. Tài liệu Salêdiêng có thể tìm thấy tất cả trong Summarium additionale trong 30 trang, gần cuối quyển có tên Positio 1947.

[438] F. Motto, Memorie dal 1841 al 1884-5-6 pel Sac. Gio. Bosco a’ suoi figliuoli salesiani, in RSS 4 (1985) 117.

[439] Được tóm tắt trong Annali III, 166.

[440] Thư của Cha M. Rua gửi Đức Hồng Y L. M. Parocchi, ngày 6 tháng Mười, 1896, trong Annali III, 166.

[441] Annali III, 167.

[442] Thư luân lưu từ Cha Dominic Belmonte, ngày 29 tháng Ba, 1897, in FdR 4067E1-3.

[443] Thư của Cha G. Marenco gửi Đức Giám mục G. Cagliero, Rôma, ngày 27 tháng Sáu, 1901, trong Ceria, Vita, 339.

[444] Bản gốc được in có thể đọc trong FdR 3973E4-3974B7; x. L.C., 190-206 (nhưng văn bản được tường thuật trong L.C. đã bị cắt một cách lạ kỳ).

[445] Annali III, 170.

[446] Sắc lệnh Quod a Suprema của văn phòng Tòa Thánh có thể đọc trong Summarium additionale, 2-4.

[447] Phần này được bổ sung, đề ngày 24 tháng Năm, 1901, trong Summarium additionale, 5. Việc trao đổi thư từ vào tháng Năm, 1901 có thể tìm thấy trong Summarium additionale, 5-9.

[448] Ceria, Vita, 344-345.

[449] Bản gốc trong FdR 3974E7-10. Thư luân lưu này gửi tới các Giám Tỉnh, mà đính kèm «Soluzione di alcuni casi relativi al Decreto 24 Aprile 1901», được Sac. L. Piscetta ký tên, và không phải là một phần của bộ sưu tập các thư luân lưu được hiệu đính vào năm 1910.

[450] Có thể tìm thấy những câu hỏi được in trong FdR 3983D5-7; trong FdR 3983D8 chúng tôi tìm thấy những câu hồi đáp được Đức Giáo Hoàng chấp thuận và đề ngày 21 tháng Tám .

[451] FdR 3983E1-3984A2; L.C., 269-285.

[452] Biên bản cuộc họp Tu Nghị Bề trên, ngày 27 tháng 2, 1905, trong FdR 4244E4-5.

[453] Đoạn văn này về việc tận hiến cho Thánh Tâm, tôi theo sát Ceria, Vita, 332-337.

[454] Biên bản cuộc họp Tu Nghị Bề trên, ngày 27 tháng Mười Một, 1900, trong FdR 4242C7.

[455] L.C., 223-224.

[456] L.C., 224.

[457] Cf. L.C., 222-227.

[458] Ceria, Vita, 335.

[459] Il Công thức sẽ được Bề trên Tổng quyền và bề trên của Tổng hội kêu gọi để dâng hiến toàn bộ Hội Sùng đạo và tất cả các công trình của nó cho Thánh Tâm, được đính kèm vào thư luân lưu; có thể tìm thấy nó trong L.C., 255-257.

[460] L.C., 228-254. Tác giả của chỉ thị này, được viết theo văn phong uyên bác, không được biết đến.


FMA Logo

Địa chỉ: 57 Đường số 4, Khu phố 56, P. Tam Bình, TP. Hồ Chí Minh

Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về email: libraryfmavtn@gmail.com

Liên Kết

Truyền Thông FMA

Copyright Dòng Con Đức Mẹ Phù Hộ © 2026