FMA Logo

25. Vụ việc tại Pháp



Kỷ niệm hai mươi lăm năm công cuộc Salêdiêng ở Pháp

Ngôi nhà Salêdiêng đầu tiên ở Pháp được thành lập tại Nice vào cuối năm 1875. Năm 1901, nó kỷ niệm 25 năm tồn tại. Cha Giám đốc Louis Cartier muốn tổ chức mừng ngân khánh vào những ngày đầu tháng Hai, với sự hiện diện của Bề Trên Cả. Cha Cartier xét thấy cha Rua có thể mừng ngân khánh sự hiện diện của người Salêdiêng tại Pháp cùng thời điểm đó, một sự hiện diện lúc ấy đang triển nở. Cuốn Niên giám chung năm 1900 cho chúng ta biết rằng các Tỉnh Paris và Marseilles gộp lại có 18 nhà, 212 anh em và 94 tập sinh.

Thật không may mối quan hệ giữa hai Tỉnh không được thắm thiết. Đặc biệt là Giám tỉnh ở Paris, cha Giuse Bologna sôi nổi, không có nhiều thời gian cho Giám tỉnh ở Marseilles, cha Phêrô Ferrer, một con người kín đáo và tỉ mỉ. Bên cạnh đó, xu thế chính trị khó khăn, trong khi luật được soạn thảo về các Hội Dòng bị ngưng lại, việc người Salêdiêng mừng lễ rõ ràng là không nên. Ví dụ như vào thời điểm đó, Tu hội có nguồn gốc từ Ý đã làm dấy lên lòng thù địch nào đó chống lại nhà tại Dinan ở Brittany và thỉnh thoảng cũng ở Paris. Có một nỗi lo sợ rằng sự hiện diện của cha Rua tại các ngày lễ mừng có thể được coi là một hình thức khiêu khích. Ngày 9 tháng Giêng năm 1901, trong một bức thư gửi cho cha Cartier, cha Bologna tỏ ra rất dè dặt và nói rằng, về phần mình, tham dự vào các lễ hội không phải lúc với cha. Do đó áp lực đặt lên cha Rua, Bề Trên Cả.

Quan điểm của ngài, được ghi dấu bằng sự tế nhị tu trì và sự thận trọng khôn ngoan, không hề sợ hãi, được thể hiện trong một lá thư quan trọng gửi tới cha Cartier ngày 19 tháng Giêng:

Họ đang viết thư cho tôi từ nhiều nơi khác nhau ở Pháp về những lễ hội mừng kỷ niệm tại Nice: một số người nói rằng các lễ hội có thể quá tốn kém và những chi phí này có thể khiến một số nhà hảo tâm lạnh nhạt đối với chúng ta; một số nói rằng vào thời điểm khi luật ban hành trên các Hội Dòng còn đang thảo luận thì có những lễ hội như thế này sẽ gây phản tác dụng; một số nói rằng chúng ta nên hỏi ý kiến ​​của Đức Khâm sứ ở Paris. Trừ phi không đếm xỉa đến những nhận xét này, tôi nghĩ các lễ hội có thể là một lời cảm tạ Thiên Chúa và cũng tri ân các nhà hảo tâm của chúng ta; tuy nhiên, chúng ta nên tránh gây chú ý hết mức có thể, đặc biệt là trên báo chí; hạn chế chi tiêu cũng là điều tốt; và nếu một số người phải đến từ xa thì cũng thích hợp khi tìm mọi cách giảm giá vé từ ngành đường sắt: nếu cha giữ mọi thứ hạn chế theo cách này để tạo ra ý tưởng về một lễ hội đơn giản về sự tận tụy và trong gia đình, tôi hy vọng không ai sẽ nói bất cứ điều gì và tôi cũng không tin cần phải xin phép hoặc xin chỉ bảo. ...

Tôi để cho hai Giám tỉnh biết rằng tôi muốn các ngài đi cùng tôi đến Nice: Tôi hy vọng các ngài cho tôi niềm an ủi này. Tôi nói riêng với cha điều này, vì cha thể hiện một mong muốn đáng khen là hiệp nhất miền Bắc và miền Nam.

Xin Thiên Chúa giúp đỡ chúng ta: và xin Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu, Đấng đã biệt đãi nước Pháp cách tỏ tường vào những thời điểm khác nhau trong ba mươi năm qua, bảo vệ nó một lần nữa trong những hoàn cảnh khó khăn này. Xin Don Bosco người rất yêu mến quốc gia này, cũng cầu bầu cho nó.

Thân mến trong Đức Giêsu và Mẹ Maria

Cha Micae Rua

Tái bút: Xin báo cho cha biết là tôi sẽ đưa theo cha Bertello[461], vị tân Cố vấn lo về các Trường Kỹ thuật.

Như vậy, từ ngày 3 đến ngày 8 tháng 2, các lễ hội diễn ra một cách nghiêm chỉnh và không có hậu quả đáng tiếc. Hầu như tất cả các giám đốc đã tham gia. Ngay cả cha Bologna, người đã dịu đi một chút, đã tham dự với các hội viên ngày 4 tháng 2.

Cha Rua đến Nice tối ngày 2 tháng 2. Lễ hội bắt đầu vào ngày Chúa nhật mùng 3, được ngài chủ trì, với một ngày gia đình quy tụ những cựu học sinh lẫn các học sinh hiện hành từ 'Sự bảo trợ' của Thánh Phêrô. Vị bề trên tốt lành tỏ ra kín đáo và lánh mặt tại các buổi cử hành mừng lễ hội. Tên của ngài không xuất hiện trong chương trình dành cho các sự kiện công cộng diễn ra từ ngày 5 đến ngày 8 tháng 2, ngoại trừ một cuộc họp của ủy ban và bạn bè của công cuộc, được tổ chức bên trong tòa nhà chiều ngày 5 tháng 2. Các sự kiện diễn ra trong thành phố ngài không can dự.[462]

Vào các buổi sáng thứ ba ngày mùng 5 và thứ tư ngày mùng 6, cha Rua nói chuyện với các giám đốc các nhà ở Pháp. Thời gian còn lại ngài dành cho nhà đó. Các người Salêdiêng, học sinh và cựu học sinh trân trọng sự tiếp xúc nồng nhiệt của ngài, gợi cho họ nhớ đến Don Bosco luôn thân thương với họ. Cựu học sinh đã viết các sự kiện lặp đi lặp lại thường xuyên:

Lý do lớn nhất tạo cho chúng tôi niềm hạnh phúc là ở gần cha Rua, tận hưởng sự hiện diện của ngài, những cuộc trò chuyện của ngài. Ngài được tôn kính và yêu mến trong Tu hội Salêdiêng như Don Bosco đã được: một lời khuyên, một lời phát biểu, đôi khi chỉ là một cái liếc mắt cũng làm người anh em Salêdiêng hoặc cựu học sinh thấy được khuyến khích. ... Khi cha Rua băng qua sân, rất khó tìm được một khoảng trống trong đám đông học sinh quanh ngài; có một cuộc thi dành cho những người có thể nắm lấy tay ngài hoặc đến gần ngài nhất. Cha hạnh phúc với những cách biểu lộ tình cảm này, mà cũng như đánh cắp thời gian quý báu, và chỉ các đòi buộc của Quy luật hoặc khi khách xuất hiện mới mang ngài đi được. ...

Suốt cả ngày người ra kẻ vào liên tục trước cửa phòng cha đáng kính: các giáo viên và học sinh rất vui được mở lòng ra với ngài. Nhiều người bên ngoài được hưởng lợi từ nhiệt tâm linh mục và kinh nghiệm của ngài, hạnh phúc khi nhận phép lành của ngài. Sau lời cầu nguyện, cha Rua đã ban huấn từ tối theo phong tục của Tu hội Salêdiêng. Các thiếu niên chăm chú lắng nghe lời ngài đến nỗi không gì có thể làm các em chia trí được. Bạn có thể thấy điều này từ sự yên lặng của các em, các em nhìn chằm chằm cha Rua: bạn có thể thấy rằng các em coi người cha tốt lành không phải là người giảng thuyết bình thường, nhưng các em nghĩ đó là Don Bosco.

Những lễ hội chính thức kết thúc tối ngày 8 tháng 2. Cha Rua rời Nguyện xá Thánh Phêrô tại Nice sáng hôm sau. Như người viết biên niên giải thích: "các thiếu niên xếp thành hai hàng dưới mái vòm và ngài đi giữa các em. Các em vui sướng hôn tay ngài lần cuối, rồi các em trở lại những công việc thường lệ".[463] Đây là lần cuối cùng cha Rua có thể công khai chào thăm các con mình ở Pháp.

Luật của nước Pháp về các Hiệp hội

Tuy nhiên, ngài đã rời Nice với tâm trạng hơi lo lắng về tương lai của toàn bộ công cuộc ở Pháp mà ngài vừa tổ chức lễ kỷ niệm 25 năm. Một năm trước, ngài đã bắt đầu rất lo lắng cho nó. Điều gì sẽ xảy ra nếu các kế hoạch của Chính phủ thuộc nền Cộng hòa thứ 3 dành cho các Tu hội được thực hiện? Turin đã tìm kiếm một giải pháp pháp lý phòng ngừa cho các biện pháp thù địch dường như sắp xảy ra. Ngày 26 tháng Sáu năm 1900, khi bắt đầu những ngày nghỉ học, Cha Rua đã mời cha Cartier đến Turin cùng với hai cố vấn dân thường, luật sư Gaston Fabre và ông Vinh Sơn Levrot. Họ đã nói chuyện với các cha Giám tỉnh ở Pháp.[464] Nhưng có lẽ bị ảnh hưởng bởi bạn bè cánh hữu của mình, cha Giám tỉnh Bologna và Perrot, cùng với Charles Bellamy, bề trên ở Algeria, có ý kiến ​​khác. Cha Rua nhượng bộ theo quan điểm của các vị, ít nhất là trong thời gian đó. Vì vậy, ngày 19 tháng Bảy, ngài đã viết một bức thư khác cho Cha Lu-y Cartier về tình hình này:

Cha Cartier thân mến, cảm ơn lòng tốt của cha liên quan đến vụ việc ban hành luật sắp xảy ra này. Tuy nhiên tôi cần phải thông báo cho cha biết rằng khi được hỏi, cha Bologna, cha Perrot và cha Bellamy có quan điểm rằng họ không cần phải đến đây hoặc ở nơi khác, để nói về nó. Họ hy vọng việc ban hành luật sẽ qua sửa đổi như vậy để trở thành hầu như vô hại hoặc sẽ cho phép những cách thức mới. Không cần thiết làm phiền những người bạn tốt này [Fabre và Levrot], trừ khi có nhu cầu khẩn cấp nào khác. Tuy nhiên về phần chúng ta, cũng cám ơn họ...[465]

Vì lo lắng rõ ràng, nên ngày 1 tháng Tám, ngài trở lại với vấn đề của cuộc họp Turin, mà, rốt cục có thể được tổ chức kín đáo.[466] Theo cha Rua phán đoán, cách tốt nhất - mà Don Bosco đã sử dụng thành công - là từ chối để thành giống như tu sĩ. Áp dụng logic này, những người Salêdiêng không phải là một phần của một Dòng Tu, mà là một "Hội Từ thiện". Họ là một Hiệp hội gồm các giáo sĩ và giáo dân phục vụ cho các mục đích nhân đạo. Trong các cuộc thẩm vấn được thực hiện tại Nice, tốt hơn là giới thiệu những người Salêdiêng như một "Hội gồm các linh mục và trưởng giả tự do" («Société de prêtres et de bourgeois libres»), được cha Cartier ghi chú ngày 3 tháng Giêng năm 1901, rất đúng tiếng Pháp nhưng dễ làm cho lầm lẫn, vì bạn có thể đọc từ bourgeois thành từ tiếng Ý borghesi, có nghĩa là công dân, hoặc thường dân.[467]

Ngày tháng trôi qua, luật pháp của Chính phủ Pháp về các Hiệp hội sắp thành hình. Một trong các kế hoạch, được trình bày ngày 14 tháng Mười Một năm 1899, phân biệt hai loại hiệp hội. Theo nghĩa rộng, các hợp đồng của các hiệp hội có thể được tự do soạn thảo bằng tờ khai được đưa cho Quận trưởng; nhưng các hiệp hội theo lối nói trại được gọi là "trưởng giả nhỏ", "đưa đến việc từ chối các quyền thương mại", bị cấm, trừ khi được chính phủ cho phép.[468]

Luật này được Tổng thống Cộng hòa, Emile Loubet ban hành ngày 1 tháng Bảy năm 1901. Trong khi luật rất tự do cho xã hội dân sự, nó trở nên hạn chế trong đoạn văn dài thứ ba, nhắm hoàn toàn vào các Tu hội. Các Hiệp hội này đặt ra những vấn đề nghiêm trọng cho Nhà Nước Pháp, vào thời điểm đó rõ ràng là chống giáo sĩ. Ta đọc thấy: "Không có Dòng Tu nào có thể tồn tại mà không có phép hợp pháp, vốn sẽ quyết định cách thức hoạt động của nó. Không viện nào có thể được thành lập ngoại trừ nghị định rõ ràng của Hội Đồng Nhà Nước. Hội Đồng Bộ Trưởng có thể ban hành các nghị định giải tán một Hội Dòng hoặc đóng cửa bất kỳ Tu Viện nào "(khoản 13). Những người đứng sau pháp chế đó thấy rằng các Hội Dòng sẽ thử một hình thức gian trá nào đó. Hai mươi năm trước những gian trá đã thành công, với sự khinh miệt của các chính trị gia cánh tả. Vì vậy, luật được tăng cường để tránh sơ hở: "Không ai được phép điều hành, trực tiếp hoặc thông qua một người khác, một viện giảng dạy dưới bất kỳ hình thức nào, cũng như không tham gia giảng dạy nếu họ không thuộc về một Hội Dòng được cho phép"; những kẻ vi phạm sẽ bị trừng phạt, và các viện liên quan có thể bị đóng cửa (điều khoản 14). "Bất kỳ Hội Dòng nào được thành lập mà không được phép sẽ bị tuyên bố là bất hợp pháp. Những người liên quan sẽ bị trừng phạt ... Hình phạt áp dụng cho những người sáng lập hoặc các quản trị viên sẽ tăng gấp đôi" (điều khoản 16). Một điều khoản tuyên bố vô hiệu lực tất cả các hành vi giữa người sống hoặc di chúc của họ, để xem xét hoặc miễn phí, thực hiện trực tiếp và gián tiếp, đối tượng cho phép thành lập các hiệp hội một cách hợp pháp hoặc bất hợp pháp để trốn tránh các quy định của Đạo luật (Điều khoản 17). Cuối cùng, theo điều khoản 18, các Hội Dòng hiện tại chưa được cho phép trước đây - vốn là trường hợp của hầu hết các Tu hội, nam hay nữ, và đặc biệt là những người Salêdiêng và các Nữ tu Salêdiêng - trong vòng ba tháng, cần phải xin phép để tiếp tục tồn tại; nếu không, tài sản của họ sẽ bị đem bán, có nghĩa là bị tịch thu và thanh lý.

Mưu kế của người Salêdiêng để đối phó với luật mới

Những người Salêdiêng có thẩm quyền, cha Rua đứng đầu, phải quyết định hành động thế nào trước ngày 1 tháng Mười. Tháng Bảy, tháng Tám và tháng Chín năm 1901 rất quan trọng đối với Bề Trên Cả và các Giám tỉnh ở Pháp. Chỉ có thể ra quyết định ở Turin, dưới sự kiểm soát của cha Rua. Không làm gì sẽ là tự kết án cho mình chết nhanh chóng. Sau khi luật được ban hành, cha Rua viết cho cha Lu-y Cartier:

... Liên quan đến luật mới cho các Hội Dòng, lấy được thông tin chính xác từ các Hội Dòng và những người làm luật hiểu cặn kẽ tình hình này là điều tốt cho cha và sau đó đến đây ngay sau Lễ Đức Mẹ Hồn Xác Về Trời, mang theo cha một số người bạn tốt mà cha tin là phù hợp nhất để soi sáng vấn đề hóc búa này ... Hãy cố gắng chuẩn bị kỹ mọi điểm và nhất trí với Cha Perrot về ngày giờ đến.[469]

Thực vậy, các quyết định phải được thực hiện khẩn cấp, yêu cầu xin phép phải được đệ trình trễ nhất vào những ngày đầu tháng Mười . Hai tuần sau, cha Rua nói với cha Cartier rằng cuộc họp được đôn lên ngày 29 tháng Bảy và chúng ta có tên của "người bạn thân mến" đó: "Cha hãy xem liệu có thể đến với Luật sư Favre [Fabre] và bất kỳ ai khác mà cha nghĩ là thích hợp".[470] Luật sư Gaston Fabre cuối cùng sẽ trở thành cố vấn pháp lý chính của Cha Lu-y Cartier và sau đó cũng của những người Salêdiêng, về vấn đề các Tu Hội trong suốt giai đoạn đầu của cuộc tranh luận.

Vào mùa hè năm 1901, hai cuộc họp được tổ chức tại Turin về vấn đề này, dưới sự điều hành của Cha Rua.[471] Cuộc họp thứ nhất, từ ngày 31 tháng Bảy đến ngày 2 tháng Tám, vì chịu ảnh hưởng bởi những người bạn tốt của cha Bologna, nên đã đồng ý rằng nhân danh tất cả các nhà Salêdiêng trong nước (bao gồm Algeria), cần phải xin được phép tồn tại dưới các hình thức cần thiết, cho một Tu hội Don Bosco với trung tâm chính ở Paris. Trong trường hợp này, cha Rua thể hiện niềm tin mạnh mẽ vào những người con tại Pháp của mình bằng cách cho phép họ tạo ra một Tu hội khác với Tu hội của ngài. Nhưng vào đầu tháng Chín, trong cuộc họp thứ hai, mọi thứ đã thay đổi.

Vào thời điểm đó, tất cả các giám đốc của các nhà ở Pháp đều ở Turin cho Tổng Tu Nghị Thứ Chín. Họ cùng nhau thảo luận các vụ việc. Một sự kiện mới nổi lên: Giám đốc nhà Salêdiêng tại Montpellier, Paul Babled, đã nhận được một lá thư từ Đức Giám mục thành phố, de Cabrières (1830-1921), người đang tư vấn chống lại yêu cầu xin phép. Theo ngài nếu nó được chấp nhận nó sẽ gây ra đủ loại vấn đề. Ngài đề xuất "sự hoàn tục" những người Salêdiêng Pháp, một biện pháp đã được chính Thánh Bộ các Giám mục và Dòng Tu xem xét trong một bức thư gửi cho các bề trên của các Hội Dòng ngày 10 tháng Bảy năm 1901. Ý kiến ​​của Đức Giám mục de Cabrières có giá trị với những người Salêdiêng, đặc biệt là những người ở miền Nam nước Pháp, những người luôn được ngài quý mến. Với sự hỗ trợ của Cha Lu-y Cartier, đề nghị của ngài, mà mọi người đều thấy là thuận lợi, đã thắng phiếu: Đầu tháng Chín hai mươi hai giám đốc có mặt nói rằng họ ủng hộ việc hoàn tục. Cha Rua đã đồng ý, với điều kiện là Rôma chấp thuận. Cha Lu-y Cartier ngay lập tức đến Rôma và trở về với mọi sự cho phép có được từ Đức Hồng y Bảo trợ Parocchi của Tu hội Salêdiêng, và Đức Hồng y Gotti, Chủ tịch của Thánh Bộ các Giám mục và Dòng Tu.

Những người Salêdiêng Pháp đưa ra sáu quyết định trong hội nghị bởi vì sự hoàn tục của họ. 1) việc hoàn tục: tất cả các linh mục và người Salêdiêng theo chức thánh (các phụ phó tế và các thầy phó tế) phải trình bày lời xin hoàn tục của họ cho cha Rua, ngài sẽ cấp cho. Các sư huynh sẽ được coi là những thành viên được thuê mướn và sẽ ký một biên nhận hàng tháng về tiền lương (giả). Các Nữ tu sẽ mặc thường phục, kín đáo, mặc dù không phải là đồng phục, vì những lý do dễ hiểu. Trong những nhà không tự trị của họ, có nghĩa là những nhà gắn liền với công cuộc Salêdiêng, họ sẽ chính thức nhận được tiền lương và trong các căn nhà tự trị của họ, họ sẽ được chính thức được coi là giáo viên ở các trường tự do. 2) Tập viện: hai tập viện ở Pháp (Saint-Pierre des Canons và Rueil) sẽ trở thành một và những tập sinh được gửi ra nước ngoài. 3) Tài sản: bất động sản luôn phụ thuộc vào xã hội dân sự, trong khi động sản sẽ được giao cho các Giám đốc tương ứng của các công cuộc. 4) Thư tín: thư cho các bề trên hoặc do các bề trên viết sẽ được để trong một phong bì đôi và gửi đến các điểm đến đã thỏa thuận. Điều này dường như là một cách dễ dàng để che giấu danh tính của những người viết thư thay vì là "Cha" hoặc "anh em" sẽ chỉ là "Ông", "bạn bè" hoặc "chú bác". 5) Tập san Salêdiêng cũng phải xét đến sự tục hóa,[472] tuy nhiên, trấn an các Cộng Tác viên về việc tiếp tục công cuộc Salêdiêng tại Pháp. 6) Cuối cùng, cuốn niên giám chung của Tu hội sẽ không nói gì về công cuộc Salêdiêng tại Pháp. Sự thù địch của Chính phủ đã buộc người Salêdiêng phải hoạt động cách bí mật.

Sau đó, một bất hạnh mới và nghiêm trọng xảy đến: trong một lá thư ngày 6 tháng Chín năm 1901, Đức Hồng y Tổng Giám mục cao niên của Paris, François Richard (1819-1908) - người sẽ chấp nhận cha Giuse Bologna, Giám tỉnh Paris và giám đốc công cuộc tại Paris vào trong số các giáo sĩ của mình - đã lên tiếng chống lại việc tục hóa để được cấp phép. Quan điểm thống nhất đạt được trước sự kiện giờ đây đã tan rã. Cha Lu-y Cartier không thay đổi ý định; nhóm các giám đốc từ miền Nam hợp ý ủng hộ cha. Cha Rua cũng tiếp tục thúc đẩy sự tục hóa. Ở Tỉnh phía Bắc, cha Angelo Bologna, giám đốc của ngôi nhà quan trọng ở Lille và anh trai của cha Giám tỉnh ở Paris, cũng làm vậy, phân phát cho các hội viên các huấn lệnh của Rôma đã chính thức tục hóa họ. Nhưng cha Giám tỉnh ở miền Bắc, người theo chính sách hòa giải với chính quyền và muốn giữ quan hệ tốt với Đức Giám mục của mình, đang theo đuổi cách thức của Đức Hồng y Richard và dần dần thu hút phần còn lại của Tỉnh theo quan điểm này.

Trở về nhà để đưa ra những quyết định cuối cùng để xin cấp phép, ngài muốn trình bày một mặt trận Salêdiêng thống nhất bằng mọi giá, qua một mánh khóe ở phút cuối cùng, mà ngài đã giấu kín, ngài cố gắng gộp cả khu vực phía nam trong đơn xin cấp phép của mình. Cha Bologna thậm chí còn bắt cha Rua hành động sớm hơn. Ngày 1 tháng Mười, ngày trước khi phải nộp đơn xin cấp phép, ngài gửi điện tín: "Micae Rua, Turin: Câu hỏi liệu phải xin đơn cấp phép cho tất cả các nhà hay chỉ những nhà ở miền bắc". Văn khố của Salêdiêng đã giữ bức điện tín này với câu trả lời khôn ngoan ngắn gọn từ Bề trên Tổng Quyền: "Chỉ xin cấp phép cho miền Bắc". Cha Rua đã không thay đổi ý định của mình và do đó giúp đỡ cho cha Giám tỉnh ở miền Nam rất nhiều, bởi đó mà ngài được cứu. Kiểu từ chối này không làm cha Bologna nhụt chí, ngài cố gây áp lực với cha Giám tỉnh ở Marseilles nhưng không thành công. Một bản tóm tắt nỗ lực của ngài, đề cao cha Rua, xuất hiện trong một bức thư mà Giám tỉnh Phêrô Perrot viết cho cha Lu-y Cartier ngày 4 tháng Mười :

... Nếu hôm nay tôi đã gửi cho cha một bức điện, đó là vì tôi được biết từ một lá thư từ cha Bologna gửi đến ngày hôm qua lúc 3 giờ chiều, với sự cho phép của cha Rua, xin cấp phép cho miền Bắc và ủy thác cho tôi cũng làm như vậy. Cha đã trả lời không và tôi tin rằng cha đúng. Tôi đã hỏi các giám đốc, chỉ để được rõ ràng tuyệt đối, nhận thấy thời gian bị hạn chế và tôi không thể kêu gọi mọi người lại với nhau. Chúng tôi sẽ không thay đổi quyết định đã được đưa ra.

P. Perrot.

Cha Giám tỉnh ở Paris theo cùng đường lối. Từ Turin cha Rua không thể làm gì khác ngoài việc xem các sự kiện tiến triển. Tu hội Salêdiêng mới, với các trung tâm khác nhau đã đăng ký đúng lúc, tất cả đều phụ thuộc vào Tỉnh Giáo xứ, ban đầu dường như đã giành được sự ủng hộ ở mức nào đó. Trong khi Chính phủ đệ trình phần lớn các yêu cầu xin phép tới Hạ nghị viện - cơ quan chống giáo sĩ nhiều hơn - và chia các yêu cầu thành các nhóm với cấp độ thụt lùi (các thầy tu giáo viên, các thầy tu giảng thuyết, các thầy tu doanh nhân ...), yêu cầu của cha Bologna đã được gửi đến Thượng viện cùng với năm hiệp hội tu sĩ khác. Emile Combes, người đã trở thành Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, đã tự mình giải quyết vấn đề này ngày 2 tháng Mười Hai năm 1902. Nhưng ông liên kết yêu cầu của người Salêdiêng với những lời vu khống về việc bóc lột lao động trẻ em của các tu sĩ vốn là những thành viên của một hội dòng nước ngoài và ý thức hệ mà họ đang truyền đạt cho các học sinh. Ông tin rằng người Salêdiêng có hại cho ngành kinh doanh và công nghiệp tư nhân, vì vậy ông cần từ chối yêu cầu xin cấp phép của họ. Những người Salêdiêng (Lu-y Cartier và Giuse Bologna) phản đối trong hai ấn phẩm ngắn nhằm cố gắng thay đổi quan điểm của ông. Họ đã không thành công.

Sau đó, vụ việc Salêdiêng đi đến Thượng viện. Mặc dù những kỷ niệm thuận lợi được những học sinh và bạn bè trong quá khứ ở Lille, Dinan, Oran và Paris truyền đi; mặc dù một cuộc tranh luận rất đúng đắn đã diễn ra trong hai phiên họp ngày 3 và 4 tháng Bảy năm 1903, và điều này có thể đã làm thay đổi tình cảnh nếu ít có tính bè phái hơn, cuộc bỏ phiếu cuối cùng chống lại người Salêdiêng. Ngày 4 tháng Bảy, 98 thượng nghị sĩ đã tuyên bố ủng hộ việc áp dụng luật, do đó được phép, nhưng một trăm năm mươi tám người đã bỏ phiếu chống. Tờ Journal Officiel kết luận: "Thượng viện đã không chấp thuận". Những người Salêdiêng ở miền Bắc nước Pháp đã bị đánh bại. Trong suốt mùa hè tất cả các nhà đã được dọn sạch (Paris, Lille, Dinan, Mordreuc, Rueil, Ruitz, Coigneux, Saint-Denis). Chúng ta thấy họ vượt ra khỏi nước Pháp, trong một hoặc một ngôi nhà khác với một nhóm trẻ mồ côi: Thụy Sĩ, Bỉ, Guernesey, Ý và một số lãnh thổ truyền giáo. Những người khác đã tị nạn xuống miền Nam.

Những nhà ở miền Nam, mà các thành viên của họ đã chính thức được "hoàn tục" và quan điểm pháp lý, không còn phụ thuộc vào sự cai quản từ Turin, theo con đường riêng của họ. Các công cuộc nhỏ hơn (Nizas, Montmorot) mau chóng biến mất. Một trong số đó (Rômans) đã thành công trong việc được các cơ quan dân sự công nhận dưới vỏ bọc của một chính quyền được tuyên bố là "thế tục". Đối với những nhà quan trọng hơn - Nice, Marseilles, la Navarre và Montpellier - mặc dù được các quản trị viên dân thường thiết lập, họ đã tồn tại được nhưng với giá phải trả là những cuộc lục soát và bị đòi ra hầu tòa vì đã tái lập bất hợp pháp một hội dòng tôn giáo, kết quả là phải chịu nộp phạt, bán tài sản và các vấn đề khác. Nhưng họ không ngã lòng. Vào những năm cuối cùng thời cha Rua làm Bề Trên Cả, lãnh thổ Pháp vẫn thấy các công cuộc người Salêdiêng hoạt động với những nam nữ tu sĩ thực sự, tất cả đều được chính thức tục hóa.

Bề Trên Cả không thể làm được gì hơn cho các nhà. Những vấn đề nghiêm trọng nhất của ngài xuất phát từ các cha Giám tỉnh Phêrô Perrot và Giuse Bologna. Những vấn đề này phức tạp đến mức chúng ta cần trình bày chúng trong một chương riêng. Và sau đó chúng ta sẽ hiểu phương pháp cai quản của cha Rua, vì ngài là nhân vật chủ chốt trong những sự kiện này.

Chú thích

[461] FdR 3881B4-5.

[462] Chương trình này được tường thuật trong XXVème anniversaire de l’Oeuvre de Don Bosco en France et de la fondation du Patronage St Pierre à Nice, par S. B. ancien élève du Patronage, Nice, Imprimerie de la Société Industrielle, 1902, 27.

[463] XXVème anniversaire..., 125-128.

[464] Thư của Cha M. Rua gửi Cha L. Cartier, Turin, ngày 26 tháng Sáu, 1900, trong FdR 3881A1.

[465] Thư của Cha M. Rua gửi Cha L. Cartier, Turin, ngày 19 tháng Bảy, 1900, trong FdR 3881A3-4.

[466] Thư của Cha M. Rua gửi Cha L. Cartier, Turin, ngày 1 tháng Tám, 1900, trong FdR 3881A5-7.

[467] Thư của Cha M. Rua gửi Cha L. Cartier, Turin, ngày 3 tháng Giêng, 1901, trong FdR 3881B3.

[468] X. cuối cùng J.-P. Machelot, La République contre les libertés, Paris, 1976, trang 369-370.

[469] Thư của Cha M. Rua gửi Cha L. Cartier, Turin, ngày 5 tháng Bảy, 1901, trong FdR 3881C1.

[470] Thư của Cha M. Rua gửi Cha L. Cartier, Turin, ngày 22 tháng Bảy, 1901, trong FdR 3881C2.

[471] Những nguồn để tái cấu trúc sự kiện này được tìm thấy trong ASC, Nice dossier. Liên quan đến đoạn của Pháp, x. chương được ghi lại trong Annali III, 124-143; cũng x. F. Desramaut, Don Bosco à Nice. La vie d’une école professionelle catholique entre 1875 et 1919, Paris, Apostolat des Éditions, 1980, 103-116.

[472] «Heure d’angoisse», trong Bulletin Salésien, tháng Mười, 1901.


FMA Logo

Địa chỉ: 57 Đường số 4, Khu phố 56, P. Tam Bình, TP. Hồ Chí Minh

Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về email: libraryfmavtn@gmail.com

Liên Kết

Truyền Thông FMA

Copyright Dòng Con Đức Mẹ Phù Hộ © 2026