18. Vùng Trung Đông
Cha Antôn Belloni ở Đất Thánh
Biên bản buổi họp Tu Nghị Bề trên ngày 25 tháng Tám năm 1890 ghi nhận “Cha Rua đã đọc lớn đề nghị tín cẩn từ Kinh sĩ Belloni về việc sáp nhập với hội đoàn của ngài dành cho Trẻ Em Bị Bỏ Rơi tại Đất Thánh ở Bêlem, Betgialla [tức là Beitgemal], Nazareth, v.v, với việc bàn giao tất cả tài sản hiện có, các cộng tác viên chính của ngài hoàn toàn đồng ý. Belloni sẽ đến châu Âu, và trong khi đồng thuận với đề nghị này, Hội đồng chờ ngài đến để thảo luận đầy đủ hơn.”[320] Một bước ngoặt quan trọng gồm các biến cố trong thời gian đương nhiệm của cha Rua đang diễn ra: những người Salêdiêng sắp đặt chân vào Trung Đông.
Kinh sĩ Antôn Belloni (1831 - 1903) không phải là người xa lạ với cha Rua.[321] Là Vincent de Paul của Đất Thánh, xuất thân từ Ý, cha đã đến khu vực này như là một nhà truyền giáo năm 1859; ngài đã sớm được bổ nhiệm làm giáo sư Thánh Kinh và cha linh hướng tại đại chủng viện. Cha rất phiền muộn vì tình trạng bi thảm của nhiều thanh thiếu niên đang bị bóc lột và biến ra hư hỏng và không có chút kiến thức tôn giáo nào. Lời đáp trả đầu tiên của cá nhân cha là nhận một cậu bé bị cha mẹ mù bỏ rơi. Chẳng bao lâu, thêm ba thiếu niên kém may mắn khác đến với cha. Cha dạy dỗ và tìm việc cho các em; nhưng vì chủng viện không muốn các em đó hiện diện ở đấy nên cha thuê một căn nhà xuống cấp gần đó; chẳng mấy chốc cha thấy đàn chiên bé nhỏ của mình tăng số. Các nhà hảo tâm đến giúp đỡ cha, tới mức một ngày đẹp trời cha quyết định thành lập một viện mồ côi thực sự. Địa điểm cha chọn là ở Bêlem, bên cạnh con đường dẫn đến hang thánh. Được Đức Thượng Phụ Latinh cho phép, người chuẩn chước cho cha khỏi chức vụ dạy học trong chủng viện, cha đã tự dựng nhà cho mình ở đó.
Năm 1874, với 45 thanh thiếu niên quanh mình, cha nhìn về tương lai và quyết định thành lập một Hội Dòng Giáo Phận Các Anh Em Gia Đình Thánh Gia để hỗ trợ cha trong công việc bác ái. Ba đệ tử đầu tiên đến từ chính những trẻ mồ côi của cha. Năm sau, trong chuyến đi châu Âu để quảng bá công việc của mình, cha tìm được một cộng tác viên quý giá trong con người của một linh mục người Ý, Raphael Piperini (1842 - 1930); tiếc thay, sự nghiệp ấy đã không đạt được kỳ vọng của con người tốt bụng này. Nếu chúng ta tin vào một nhân chứng không rõ ràng và mãi về sau này[322] thì cha Belloni đã gặp Don Bosco ở Turin năm 1878; vào giai đoạn đó ngài đã đề nghị bàn giao tất cả công việc của mình tại Palestine. Sau đó, cha đã mua lại một bất động sản ở Beitgemal để thành lập một viện mồ côi [học] nông nghiệp, mà cha giao cho một linh mục người Ý khác. Năm 1885, cha đã tập hợp 80 thanh thiếu niên ở Bêlem và 56 ở Beitgemal; ngoài ra ngài đã mở một trường học ban ngày ở Bêlem được tới 150 học sinh. Năm sau, cha bắt đầu một trung tâm thứ ba tại Cremisan, không xa Bêlem, để lo liệu một mái nhà cho các đệ tử Gia Đình Thánh Gia của cha. Cuối cùng, cha đã mua một địa điểm trên ngọn đồi Nazareth với ý định thành lập trung tâm thứ tư. Nhìn chung, điều này tạo thành một di sản tốt đẹp, bất chấp nó tiếp tục lệ thuộc vào lòng từ thiện của dân chúng với tất cả những bất ổn của nó.
Sự sáp nhập Gia Đình Thánh Gia với Tu hội Salêdiêng
Việc sáp nhập công cuộc của cha Belloni tại Đất Thánh với Tu hội Salêdiêng tiến triển nhanh chóng. Từ biên bản buổi họp của Tu Nghị Bề trên ngày 6 tháng Mười năm 1890 do cha Rua chủ trì, chúng ta biết rằng: “Kinh sĩ Belloni, người sáng lập các nhà cho những thiếu niên bị bỏ rơi ở Bêlem, Baitgialla [tức là Beitgemal] và Nazareth đã hiện diện trực tiếp. “Các yêu cầu được đệ trình bằng văn bản của Kinh sĩ Belloni liên quan đến việc sáp nhập hội dòng của cha với Tu hội chúng ta đã được kiểm tra: trong mỗi trường hợp, Hội đồng đưa ra câu trả lời khẳng định. Cha Durando đã được ủy quyền soạn thảo các điều khoản chính thức của một thỏa thuận sẽ được trình bày cho [Bộ] Truyền Giáo ở Rôma.” Ba ngày sau, Kinh sĩ Belloni lại có mặt tại cuộc họp kế tiếp, biên bản tường thuật: “Cha Durando đọc thỏa thuận sáp nhập của hai hội dòng vốn đã được hai bên chấp thuận.”[323] Đối với bản thân cha Belloni, cha đã không lãng phí thời gian. Cha đã lập tức đến Rôma để trình bày kế hoạch của mình cho Đức Giáo Hoàng Lê-ô XIII. Ngài đã phê chuẩn, tặng cha món quà bảy ngàn lire và mời cha thu xếp vấn đề với Bộ Truyền Giáo (Propaganda Fide). Điều kiện duy nhất được Đức Hồng Y Bộ Trưởng Simeoni yêu cầu là cha Belloni phải bảo đảm rằng Đức Thượng Phụ Latinh ở Đất Thánh, Đức Tổng Giám mục Piavi, người thực sự ở Rôma ngay lúc đó, không thấy trở ngại nào đối với thỏa thuận này. Mọi thứ diễn ra tốt đẹp đến mức vào ngày 9 tháng Mười Một, bản thảo lại đã sẵn sàng.
Tất cả những gì còn lại là biến nó thành hiện thực. Tại buổi họp Hội đồng ngày 7 tháng Hai năm 1891, như biên bản ghi lại: “Cha Rua giải thích rằng Kinh sĩ Belloni đã viết thư xin hai người Salêdiêng nên đi cùng với vị kinh lược chính thức vào cuối tháng Năm. Hội đồng chấp thuận và tán thành danh tánh của hai linh mục có vẻ thích hợp cho công việc ở Palestine.”[324] Đấy là cha Gioan Tẩy Giả Useo và cha Corradini. Do đó, ngày 15 tháng Sáu năm 1891, vị Kinh sĩ và ba người Salêdiêng, Barberis, Useo và Corradini, cập bến tại Jaffa. Cuối năm đó, ngày 8 tháng Mười, bốn tư giáo và ba Sư huynh đã đến cùng với năm người Con Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu. Cuối cùng, mười bảy người Salêdiêng, bao gồm cha Antôn Variara, lãnh đạo của nhóm, sáu tư giáo và chín Sư huynh, nhập đoàn những người còn lại ngày 29 tháng 12. Việc sáp nhập giờ đây hoàn tất.[325]
Tuy nhiên, cả một con đường gập ghềnh đằng trước. Một số người giúp đỡ cha Belloni đã bỏ cha và gia nhập Tòa Thượng Phụ Latinh. Những người khác chấp nhận tình hình mới với thái độ tồi tệ. Tin đồn chống đối lan đi khắp nơi. Người Salêdiêng đe dọa sẽ kéo các Nữ Tu ra. Tiền bạc thiếu hụt. Tại Tòa Thượng Phụ có một số người tranh cãi việc nhượng bất động sản cho cha Rua vì họ cho là quà được ban tặng không phải trên cơ sở cá nhân (intuitu personae), nhưng vì lợi ích của Tòa Thượng Phụ (intuitu Patriarchatus). Vấn đề trở nên gay go đến nỗi cha Rua đã phái cha Celestine Durando với tư cách Kinh lược Ngoại thường đến Palestine với nỗ lực làm dịu tình hình. Cha đến đó ngày 23 tháng Bảy năm 1892, và khi cha đi cùng với cha Belloni để tự giới thiệu với vị Đức Thượng Phụ, ngài hỏi cha thẳng thừng: "Có phải cha đến để rút người Salêdiêng về?" Cha Durando trả lời: “Chúng con sẽ xem xét, chúng con sẽ xem xét”, nghe vậy cha Belloni ngắt lời:“ Nếu người Salêdiêng ra đi, con cũng đi.” Nghe thấy thế, Đức Thượng Phụ bỏ họ.
Yêu cầu duy nhất buộc cha Belloni phải làm là cha phải từ bỏ tước vị kinh sĩ của mình, và cha đã vui vẻ thực hiện trước sự hiện diện của hai vị đại diện Đức Thượng Phụ. Từ đó trở đi, cha nhận mình hoàn toàn là người Salêdiêng. Trong suốt những ngày nghỉ hè năm 1893, cha đã tuyên khấn trọn đời trước mặt cha Gioan Marenco vốn đã đến giảng tĩnh tâm năm. Cha Rua thanh toán hết các khoản nợ tồn đọng và từ năm đó trở đi ngài đã phân bổ khoản trợ cấp hàng năm là hai mươi ngàn franc.
Chuyến hành hương của Cha Rua đến Đất Thánh
Những người phê bình chẳng mấy chốc im tiếng trong ba cơ sở của cha Belloni, nay ở trong tay người Salêdiêng. Để hợp nhất trí lòng, không gì tốt hơn là một chuyến thăm của cha Rua đến Đất Thánh. Ngài quyết định thực hiện việc này vào năm 1895.[326]
Thứ bảy ngày 16 tháng 2, cùng với cha Phaolô Albera, Tổng Giám linh, cha Rua khởi hành từ Marseilles lên tàu Druentia của công ty hàng hải Cyprien Fabre, đến Alexandria, Ai Cập. Hầu tước Villeneuve-Trans, một Cộng Tác viên Salêdiêng từ Marseilles, đã đi cùng họ. Trước đó họ có ý định thực hiện chuyến đi trên một chiếc tàu thủy lớn thuộc hãng hàng hải Messageries, vốn sẽ được thoải mái hơn, nhưng vì tàu không ra khơi hôm đó nên họ không còn lựa chọn nào khác. Vài ngày đầu tiên thật khủng khiếp: một cơn gió đông dữ dội tạo ra những con sóng khổng lồ khiến các du khách bị ngả nghiêng và hai lần buộc thuyền trưởng phải thay đổi lộ trình đi vào vùng biển êm dịu hơn cạnh bờ biển nước Ý. Chúa Nhật ngày 17, một cha Rua nhợt nhạt như xác chết xuất hiện từ cabin của ngài với ý định dâng Thánh Lễ như đã thông báo trước đó, nhưng ngài buộc phải đi nằm lại cả ngày, đôi khi phải bám chặt vào đồ đạc để tránh bị văng trên sàn nhà. Hành lý bị ném tứ tung và những thùng tròn lớn lăn, va đập trên boong tàu. Như cha Albera kể cho chúng tôi, ngài cố hết sức giữ bình tĩnh và đọc hoặc cầu nguyện. Cuối cùng suốt đêm giữa thứ hai và thứ ba, cơn bão dịu xuống, và vào ngày 19 cả hai cha Rua và cha Albera đã có thể dâng Thánh Lễ, lần lượt người này phục vụ người kia. Cuộc hành trình trở thành một thứ tĩnh tâm cho họ khi họ cùng nhau nguyện kinh theo giờ kinh phụng vụ, suy niệm (dùng một bản văn đọc to theo như việc thực hành của thời kỳ đó) cũng như đọc sách thiêng mỗi ngày.
Từ Marseilles đi đến Alexandria mất một tuần; cuối cùng, Chúa Nhật ngày 24 tháng hai, con tàu cũng đã cập vào đất liền. Ngày hôm đó, hai linh mục dâng Thánh Lễ trên tàu, trò chuyện với thuyền trưởng và thủy thủ đoàn đã thể hiện lòng tốt với các ngài, và cuối cùng lên bờ tại Alexandria, một thành phố đẹp như tranh vẽ mà cha Albera rất thích thú khi miêu tả cho cha Belmonte. Trước khi lên đường đi Palestine, họ lưu lại chút xíu với các tu sĩ Dòng Tên tại trường đại học Thánh Phanxicô Xaviê, mà theo cha Albera, nơi đây, các linh mục “có mặt rất đông để ân cần với Bề trên đáng kính chúng ta”. Cha Rua có cơ hội thăm viếng vị Ủy viên Tông Tòa, Đức Tổng Giám mục Corbelli, vốn nhấn mạnh cần phải cấp thiết thành lập một trường nghề Salêdiêng tại Alexandria. Rõ ràng Đức Cha đã thuyết phục cha Rua, vì năm sau mong muốn của Đức Cha đã thành toại. Cha Rua cũng đã cố gắng gặp gỡ các Cộng Tác viên, nhưng không mấy thành công; gần như không thể được trong một thành phố với những con đường không tên và những căn nhà không số.
Thứ tư ngày 27 tháng Hai, cha Rua và hai người bạn của ngài lên tàu đi Jaffa trên một chuyến tàu bưu điện thuộc về một công ty Thổ Nhĩ Kỳ; cha Rua tìm được một góc yên tĩnh để giao dịch thư từ. Không có cơ hội dâng Thánh Lễ ngày 28, ngày họ đến Jaffa, nhưng họ vui sướng tột độ khi một chiếc thuyền với những người Salêdiêng trên đó chèo vào, đưa họ cùng hành lý theo, giúp họ tránh được bất kỳ rắc rối nào.
Tại thị trấn cha Belloni đang sốt ruột chờ đợi họ tại nơi ở của dòng Phanxicô. Đường dây điện báo giữa Alexandria và Jaffa tạm thời bị hư nên không thể báo cho ngài biết khi nào họ đến như cha Rua mong muốn.
Bêlem và Giê-ru-sa-lem
Như lời cha Albera nói, rốt cục khi đã đặt chân lên đất Palestina, và hết sức háo hức, để biến cuộc hành trình của họ trở thành một chuyến hành hương đích thực, những du khách của chúng ta lập tức tìm được một nhà thờ để có thể đọc kinh Te Deum, đọc 1 Kinh Lạy Cha và một Kinh Kính Mừng để nhận được ơn đại xá dành cho khách hành hương khi đến Đất Thánh. Họ được tiếp đón nồng hậu từ cộng đoàn Phanxicô. Sau đó ba người - cha Rua, cha Belloni và cha Albera - lên tàu lửa đi Giê-ru-sa-lem. Tâm trí cha Rua và cha Albera hoàn toàn ước ao viếng thăm tất cả những nơi được kể đến trong Kinh Thánh, được công nhận hay thuộc về ngụy thư; những nơi ấy được nên thánh thiện nhờ Chúa Giêsu, Đức Maria hoặc các Tông đồ hiện diện. Những nơi này bao gồm ngôi nhà của Simon người thợ da từ Jaffa, Joppe, nơi Tabitha được làm cho sống lại, Ramlah, trước đây là Arimathea, quê hương của ông Giuse và Nicôđêmô, những người đã mai táng Chúa Giêsu, thung lũng Sharon, được nên nổi tiếng nhờ Samson và ba trăm con cáo với ngọn đuốc đang cháy, v.v.
Tại nhà ga ở Giê-ru-sa-lem, một nhóm người đông đúc gồm linh mục, tư giáo và thanh thiếu niên đã có mặt để chào đón người kế vị Don Bosco; chốc lát họ lại lên đường đến Bêlem. Những người trẻ hộ tống các ngài, một số cưỡi ngựa hoặc lừa, số khác chỉ chạy cùng với xe ngựa của các ngài. Trên đường họ ghé vào giếng của nhà đạo sĩ và lăng mộ của Rachel. Cách Bêlem khoảng một dặm, một số thiếu niên từ viện mồ côi xách đèn lồng đang chờ các ngài. Những tiếng reo mừng vang lên, và càng lúc người càng trở nên đông đúc đến mức con đường phía trước đã hoàn toàn bị nghẹt, và cha Rua phải xuống xe ngựa và đi bộ. Cha Albera nói đó là cảnh tượng "hoàn toàn rối loạn”. Cuối cùng, giữa một điệp khúc hoan hô các ngài đến nhà nguyện, nơi các linh mục và các tư giáo đã mặc phẩm phục đang đợi các ngài. Ban nhạc chơi một bản kèn lệnh và cha Rua được dẫn đến bàn thờ nơi đang đặt Mình Thánh Chúa, và giữa những tia sáng nhấp nháy và khói hương Te Deum được cất lên.
Cha Rua đã mệt nhoài, nhưng ngài đồng ý tiến vào hội trường để nghe bài diễn văn chào đón và ngài đã đáp từ cách nồng hậu. Từ đó, cả gia đình mồ côi tập trung trong một phòng ăn. Theo lời của cha Albera, việc này đã cho các thanh thiếu niên cơ hội trong suốt bữa ăn săm soi “gương mặt tử tế, nhân từ như người cha của vị bề trên đáng kính của chúng ta”. Chắc chắn, cha Rua Bề Trên Cả đã bỏ lại đằng sau phong cách nghiêm trang của vị Bề Trên với khả năng nhận ra những vi phạm luật lệ nhỏ nhất.
Thứ sáu ngày 1 tháng Ba, cha Rua đã tham dự nguyện ngắm với cộng đoàn và sau đó cử hành Thánh Lễ. Ngài rất vui khi thấy tại viện mồ côi Bêlem ngày thứ sáu đầu tháng được dâng cho Thánh Tâm Chúa Giêsu. Sau đó, ngài thăm cha Giám Hộ dòng Phanxicô, đoạn đi đến hang đá Chúa Giáng Sinh. Tại đây lòng ngài tan nát khi thấy: gian giữa của Vương cung Thánh đường Thánh Helena cổ đã trở thành đất nền diễu hành cho binh lính Thổ Nhĩ Kỳ, và ca đoàn đã được đưa vào một nhà thờ để sử dụng bởi Chính Thống Hy Lạp (được Albera đặt tên cách thô lỗ là "ly giáo" trong bức thư gửi cho Belmonte). Trong hang động, phía trên bàn thờ, là một ngôi sao bạc với dòng chữ: Hic de Virgine Maria Jesus Christus natus est. [Ở đây Chúa Giêsu Kitô được Đức Trinh Nữ Maria hạ sinh]. Tại đó cha Rua nằm phủ phục cầu nguyện một lúc, nhưng ngài thấy không có khả năng dâng Lễ ở đó, vì bàn thờ được dành riêng cho Chính Thống giáo và người Armenia. Cách đó một thước một máng cỏ bằng đá cẩm thạch đánh dấu nơi “những mục đồng và Đạo sĩ thờ phượng Con Thiên Chúa” (từ của cha Albera). Có một bàn thờ khác dành cho các linh mục Công giáo; ngày hôm sau cha Rua đã cử hành Thánh Lễ tại đó. Trong khu vực lân cận không thiếu những nơi nhận là có những mối liên hệ lịch sử: hang động nơi đó Thánh Giuse đã mơ thấy phải đưa Thánh Gia sang Ai Cập; nơi chôn xác của các Thánh Anh hài; ngôi mộ của Paula và Eustochium, các môn đệ của Thánh Giêrôm, v.v. Lòng sùng kính của cha Rua, người có mối quan tâm nổi bật với các thánh tích, đã được thưởng công dư đầy do nghiệm được rất nhiều nơi thánh.
Ngày 2 tháng Ba, cha Rua đã dành nhiều giờ trò chuyện với các anh em và các thiếu niên. Chúa nhật mùng 3, cha Rua, cha Albera và Hầu tước Villeneuve-Trans được mời gặp gỡ Hội nghị thánh Vinh Sơn, được tổ chức tại Bêlem thông qua sáng kiến của cha Belloni. Như cha Albera xác nhận, họ tìm thấy cùng tinh thần đức ái, cùng những lời cầu nguyện, cùng những mối quan tâm về việc giúp đỡ các gia đình nghèo như trong các cuộc họp tương tự ở châu Âu. Hầu tước ra về nhận được nhiều lời tán dương. Khi về nhà, các ngài thấy tất cả thanh thiếu niên đều đã chuẩn bị bước lên sân khấu: họ đã tập dượt một vở kịch được Cha Lemoyne soạn có tựa đề "Patagonia". Cha Albera viết: "Các diễn viên hầu hết là các trẻ em Ả Rập, đã nhận được tràng pháo tay nhiệt liệt, xứng đáng. Các em đã rất nỗ lực học kịch bản tiếng Ý, và các em diễn xuất với kỹ năng đáng ngưỡng mộ.”
Thứ hai ngày mùng 4 đã được dành riêng để thăm viếng Giê-ru-sa-lem. Cách thành phố một quãng ngắn, những khách hành hương đi men theo thung lũng "Gehenna", giờ đây không hơn một hầm cầu đầy nước ứ đọng. Cha Rua háo hức đi và phủ phục tại Mộ Thánh, nhưng ngài cảm thấy có nghĩa vụ trước hết phải đi trình diện Đức Thượng Phụ Latinh, Đức Tổng Giám mục Piavi, người chỉ vài năm trước đây đã muốn loại bỏ người Salêdiêng. Albera viết: "Dù rất đau đớn, ngài tiếp cha Rua rất tử tế. Ngài liên tục bày tỏ niềm hân hoan gặp gỡ người Kế vị Don Bosco và nhớ lại tên các vị bề trên Salêdiêng mà ngài đã biết.” Rời văn phòng của Đức Thượng Phụ, cha Rua đi qua văn phòng của Đức Giám mục Phụ tá Apodia và vào chủng viện nối liền với Tòa Thượng Phụ. Từ sân thượng, ngài lặng lẽ ngắm nhìn khắp thành phố, nhưng các chủng sinh đến, muốn hôn tay ngài và nghe ngài nói vài lời. Ở đây chúng ta có thể trích dẫn bức thư của cha Albera ngày 7 tháng Ba gửi Cha Belmonte. "Cha Rua vui vẻ đồng ý, và với sự đơn sơ và nồng ấm, ngài thúc giục họ nuôi dưỡng tinh thần học tập và cầu nguyện để làm được điều tuyệt vời trong vùng Truyền giáo mà những người ly giáo và Tin Lành đang tích cực dấn thân, và thậm chí cả những người thuộc Hội Tam Điểm lúc đó đang quy tụ ở Giê-ru-sa-lem, khi mang lòng hận thù đối với Chúa Giêsu Kitô và Giáo Hội Ngài, từ những vùng đất xa xôi của mình.” Như vậy đấy! Vào thời điểm đó, Pháp đã cung cấp một loại bảo hộ cho người Công giáo Đông phương; do đó, cha Rua đã đến chào Lãnh sự Pháp. Ông ta tiếp ngài với sự tôn kính nào đó, giới thiệu gia đình ông ta và tỏ ra rất quan tâm đến công việc của người Salêdiêng, coi việc người Salêdiêng hiện diện là thật may mắn cho bất kỳ quốc gia nào trên thế giới, nhưng đặc biệt là cho Palestine. Buổi chiều được dành để thăm viếng chính thức vị lãnh sự Ý. Nó sẽ rất dài.
Cuối cùng cha Rua cũng được tự do thăm viếng Mộ Thánh, đồi Canvê, nhà thờ Thánh Helena “nơi Thánh Giá được phát hiện” và “rất nhiều nơi khác được các tín hữu hết lòng sùng kính, tất cả đều nằm trong Vương cung Thánh đường Mộ Thánh” (lời của cha Albera). Nhưng trời đã về chiều và đến giờ cha Rua dùng bữa tối với những tu sĩ Phanxicô, trước đó họ đã cho ngài chỗ ăn ở để ngài có thể dâng Lễ tại Mộ Thánh lúc bốn giờ sáng. Điều đó có nghĩa là ngài sẽ ở chung phòng với hai khách hành hương khác, nhưng với ngài điều đó chẳng mấy quan trọng. Dù sao đi nữa, ngài không ngủ nhiều, vì như cha Albera nói, ngài đi vào những phòng trưng bày trên lầu, và ở đó “dán mắt nhìn vào Mộ Thánh, ngài cầu nguyện lâu giờ suốt đêm.”
Sáng hôm sau, "rõ ràng xúc động" cha Rua dâng Lễ, được cha Albera và Marquys de Villeneuve phụ Lễ. Sau đó cha Albera cũng dâng lễ, trong khi cha Rua quỳ tạ ơn Thánh Lễ trên sàn đá. Sau đó khách hành hương lên đường dõi theo chân Chúa Giêsu. Đi theo một đoạn Via Dolorosa, họ dừng lại ở nhiều chặng khác nhau trên Chặng Đàng Thánh Giá, ghé vào nhà thờ Các Nữ tu Sion, nơi họ chiêm ngắm cổng vòm Ecce Homo, sau đó tiến về phía Gethsemani. Tuy nhiên, họ không đi vào: thay vào đó, họ leo lên Núi Ô-liu. Tu viện Cát Minh xây tại đó “tọa lạc trên nơi Chúa Giêsu dạy Kinh Lạy Cha” (Albera). Ngoài ra còn có hang động Credo, được gọi thế “vì ở đó các Tông đồ đã quy tụ và soạn Kinh Tin Kính trước khi mỗi người đi một ngả” (Albera). Các tu sĩ Cát Minh cung cấp một hướng dẫn viên đi đến tận nhà thờ Thăng Thiên, nơi họ hôn tảng đá "mà vẫn in dấu chân của Đấng Cứu Chuộc chúng ta" (Albera). Đúng như thế! Cha Rua cũng viếng thăm Bethphage mà từ đây Chúa Giêsu ngắm thành Giê-ru-sa-lem và báo trước nó sẽ bị tàn phá; cũng vậy nơi Chúa Giêsu bị Giuđa phản bội, hang động Hấp Hối, và nơi chôn cất Đức Maria "nằm trong tay người ly giáo" như cha Albera ta thán.
Ba người có một cảm thức sùng kính liên lỉ cao độ, điều này giải thích ý nghĩa lời nhận xét của cha Albera về những cuộc viếng thăm ban chiều của họ. Ngài viết: “Họ gặp nhiều người Anh, trong đó có vài cha xứ, nhưng họ xử sự giống như khách du lịch hơn và không hề biểu lộ một chút dấu hiệu của lòng đạo đức hay sùng kính. Đó là do việc bãi bỏ các hình thức thờ phượng bên ngoài.” Điều đó thật tương phản với ba vị khách hành hương của chúng ta, trên hết là chính cha Rua, người giữ tinh thần cầu nguyện trong suốt những cuộc viếng thăm của họ.
Tại Cremisan
Về lại Bêlem, ngày 6 tháng Ba cha Rua dành trọn ngày để viếng thăm Cremisan. Mặc dù cũng khá xa và đường sá tồi tệ, ngài khăng khăng đòi đi bộ. Ở Cremisan có mặt tất cả những ai khao khát trở thành người Salêdiêng, tư giáo hay sư huynh. Hy vọng của cha Rua là nơi này sẽ trở thành một vườn ươm ơn gọi thực sự. Hôm đó là ngày họ thực hành Bona Mors (Dọn mình Chết lành), bằng chứng rằng cách sống Salêdiêng được đâm rễ tốt đẹp trong những ngôi nhà thuộc gia đình Thánh Gia trước kia. Việc linh thao ấy được nối tiếp bởi một buổi dạ hội, với các mục bằng tiếng Latinh, tiếng Ý, tiếng Pháp và tiếng Ả Rập, và sau bữa ăn tối có một tác phẩm sân khấu bằng tiếng Ý. Cha Albera bình luận: "Bạn có lẽ đã nghĩ rằng mình đang ở Ý". Cha Rua hỏi xem vườn nho và hầm rượu. Ngài tiếc rằng sản phẩm của năm trước vẫn chưa được bán. Cha Albera cũng có lời than phiền tương tự: "Tiếp thị rất khó khăn, nhưng tiền bị thiếu hụt." Tất cả hội viên đều có buổi nói chuyện thiêng liêng với cha Rua, và ngay cả nhóm người đời đều muốn tâm sự với ngài.
Ngày 9 tháng Ba năm anh em từ Beitgemal có mặt ở Bêlem. Họ đã đi bộ tám tiếng dưới mưa để gặp Cha Rua, tin rằng ngài sẽ có rất ít thời gian dành cho nhà của họ.[327] Ngày 10 và 11 tháng Ba được dành cho nhiều chuyến thăm viếng khác nhau. Chúng bao gồm các những người thuộc Dòng Thánh Gioan Thiên Chúa, họ mừng lễ Đấng Sáng lập của họ vào ngày 10; ngày 11, có chuyến thăm quan trọng tới Đức Thượng Phụ Parvi mà cha Rua có nhiều việc bàn với ngài liên quan tới các nhà ở Palestine. Cha Albera, người có mặt tại cuộc họp này, viết: “Trong tình huống này, tôi đã có thể nhận thấy Đức Thượng Phụ quý mến Bề Trên Cả của chúng ta, và cũng như sự khôn ngoan và sắc sảo của cha Rua”[328]
Ở Beitgemal
Chuyến thăm Beitgemal được sắp xếp vào ngày 12 tháng Ba . Cha Rua chưa kịp ngồi vào xe đi đến Giê-ru-sa-lem thì cha Albera, người đi cùng ngài, đọc một bài báo từ tờ báo Ý, Corriere, kể về cha Phanxicô Dalmazzo, Giám đốc Catanzaro, bị ám sát do một trong các chủng sinh của ngài. Cha Rua đã rất sốc, và từ giữa Bêlem và Giê-ru-sa-lem, ngài cứ xem đi xem lại bản tin khủng khiếp này, tự thuyết phục mình rằng vết thương đó không chí mạng, mặc dù thật đáng buồn đúng là thế. Họ đi bằng tàu lửa từ Giê-ru-sa-lem đến tận Deyroban, từ đó đi đến trung tâm nông nghiệp ở Beitgemal. Theo phong tục địa phương, ngựa và lừa được chuẩn bị sẵn tại nhà ga, nhưng cha Rua thích đi bộ hơn bất kể trời nóng và đường xa.
Khi các ngài tiến vào cổng, một bài thánh ca được cất lên, sau đó là vài bài diễn văn chào đón. Cha Rua có thể thấy những thiếu niên rất háo hức và thậm chí các giáo viên của chúng còn háo hức hơn khi chờ đợi ngài. Ngài rất ngưỡng mộ vườn hoa khi tiến bước vào nhà. Đây là một loại lâu đài lớn cao chót vót trên một ngọn đồi. Những người trẻ chen lấn quanh ngài, háo hức hóng từng lời của ngài, trong khi một số người ngồi trên lưng ngựa làm chúng đứng thẳng hý vang lên quanh ngài khiến bầu khí tưng bừng tăng cao. Chuyến thăm viếng nhà ấy được bắt đầu bằng việc hát Te Deum. Sau đó cha Rua được dẫn đi vòng quanh các khu vực khác nhau, ngài tỏ ra rất hài lòng. Hầu như tất cả thức ăn cho bữa tối đều được trồng tại nhà, nhờ vào lao động vất vả trên đồng ruộng, và được chuẩn bị bởi những người Con Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu làm việc trong nhà bếp và phòng giặt. Có một sự ngạc nhiên dành cho cha Rua: khi ngài nhấc nắp ra khỏi liễn súp, một con chim bồ câu trắng bay ra như dấu của sự chào đón! Trong những món khác, ngài được mời món thịt heo rừng do người chăn cừu trên bất động sản giết. Bữa ăn được tiếp nối bởi nhiều bài phát biểu và một buổi hòa nhạc bất tận của một nhạc sĩ thuộc làng đó mà giọng nói kèn kẹt không làm vui tai người Ý lắm. Sau đó cha Rua đã được dẫn đi xem các chuồng ngựa, và các nét đặc trưng của nhà đó, tất cả đều làm ngài thích thú. Ngày 13 tháng Ba là dịp lễ hội. Ngày đó bắt đầu với việc hiệp thông chung; lúc mười giờ có Thánh Lễ hát Bình ca, sau đó là buổi làm phép hang đá Lộ Đức ở sân chơi. Buổi chiều, tất cả hội viên gặp riêng cha Rua để trao đổi thân tình. Nói chung việc tiếp đón dành cho Cha Rua trong cộng đoàn nông trang khiêm nhường này thật tốt đẹp.
Ở Nadaret
Ngồi trên một con lừa và vây quanh bởi các thiếu niên, cuối cùng ngày 14 tháng Ba cha Rua cũng chào giã biệt Beitgemal; ngài thực sự hy vọng thấy trung tâm này được phồn vinh, vì nó hiện đang trải qua một cuộc khủng hoảng tài chính nghiêm trọng. Điểm đến của ngài là Nadaret; như chúng ta biết, Cha Belloni đã mua một địa điểm cho một viện mồ côi trong tương lai giống như viện ở Bêlem. Chặng đầu tiên trong chuyến đi của cha Rua và những người đồng hành của ngài là bằng tàu lửa từ Deyroban đến cảng Haifa, sau đó đi thuyền đến Jaffa từ đó các ngài sẽ đến Nadaret bằng xe ngựa. Biển lặng, và cuộc hải hành kéo dài không quá sáu giờ, được yên bình. Tại Jaffa, những tu sĩ Cát Minh chào đón các ngài dù đã trễ (đã gần nửa đêm), và lúc bảy giờ sáng hôm sau các ngài đã trên đường đến Nadaret.
Cuối cùng các ngài đã đến nơi và sẽ ở với các tu sĩ Phanxicô. Ngay khi bữa sáng kết thúc, những người hành hương khởi hành kính viếng Santa Casa, ngôi nhà của Đức Maria. Cha Rua thành kính phủ phục trước bàn thờ ở trên có ghi dòng chữ: Verbum caro hic factum est. [Ở đây Ngôi Lời trở thành người phàm]. Theo cha Albera mô tả lại: “họ có thể thấy dấu vết nền móng ngôi nhà mà các Thiên thần di dời đến Loreto, chỉ cho thấy kích thước của nó, hang động được đục đẽo từ tảng đá mà ngôi nhà được xây bên trên và một hốc khác mà họ nói Đức Maria dùng làm nhà bếp.”[329] Cha Rua thích dành một chút thời gian ở đó để suy niệm tường tận tại những nơi thánh vì sự hiện diện của Chúa Giêsu và Đức Maria, nhưng họ phải leo lên ngọn đồi để xem xét địa điểm dự định xây những tòa nhà mới và để quyết định việc sử dụng chúng trong tương lai. Một cơ sở Tin Lành thành lập gần đó đã thúc đẩy ngài. Trên đường đi xuống, họ ghé vào gặp chủ sở hữu mảnh đất. Ông mời họ uống nước và cho họ chỗ ngồi, trong khi, trước sự ngạc nhiên của họ, các thành viên trong gia đình ông ngồi trên một tấm thảm trải trên sàn nhà.
Ngày 16 tháng Ba, cha Rua vui sướng dâng lễ lúc 5 giờ sáng trong đền Đức Mẹ. Giống như trước, cha Albera dâng lễ sau ngài trong khi cha Rua quỳ tạ lễ lâu giờ và sốt sắng trên sàn đá. Hai khách hành hương của chúng ta đã cố gắng hết sức để không bỏ sót bất kỳ địa điểm đáng nhớ nào ở Nadaret: đài phun nước của Đức Maria, nhà nguyện nơi trước đây là xưởng của Thánh Giuse, nơi đây các ngài đọc được những từ: Hic Jesus subditus erat illis [ở đây Đức Giêsu tuân phục cha mẹ Người] và cả Mensa Christi, có nghĩa là "một tảng đá khổng lồ, nơi họ nói Chúa Giêsu ăn uống với các môn đệ của mình". Việc chúng ta có những lời giải thích khác nhau này nhờ ở cha Albera không hề ngụ ý rằng ngài tin vào tất cả những truyền thống đạo đức địa phương này.
Cha Rua cũng viếng thăm hội đường nơi Chúa Giêsu mở cuộn sách và giải thích những lời: “Ngài đã sai tôi đi rao giảng Tin mừng cho người nghèo khó và chữa lành trái tim tan vỡ.” Ngài cũng được chỉ cho thấy đỉnh đồi nơi người Do Thái kéo Chúa Giêsu và dọa đẩy Người xuống. Từ đó họ có thể thấy Núi Tabor nhưng tiếc không thể đến đó. Sau bữa ăn nhẹ với các tu sĩ Phanxicô (đang là mùa Chay) Cha Rua và hai bạn đồng hành của ngài lên đường đi Haifa và Núi Cát Minh bằng xe ngựa. Tại đan viện, các tu sĩ Cát Minh nồng nhiệt chào đón họ; sau giờ kinh phụng vụ là một bữa ăn thịnh soạn đã được dọn sẵn. Cha Rua từ chối, nhắc đến luật giữ chay, nhưng Viện trưởng nói “do năng quyền của Đức Thượng Phụ Giê-ru-sa-lem ban, tôi chuẩn chước cho Cha”; nghe vậy cha Rua ưng thuận.
Trở về Bêlem
Trong khi đó, những du khách đã mua vé đi thuyền để đưa họ đến Jaffa. Nó phải đến Haifa ngày hôm sau, 17 tháng Ba, lúc ba giờ sáng. Khoảng một giờ rưỡi, một thầy gọi hai linh mục để dâng lễ; sau khi điểm tâm nhanh gọn, ba người lên đường đón thuyền. Tuy nhiên, biển động mạnh và nhìn cảnh các hành khách từ Beirut lên bờ trông bộ dạng rõ ràng là bị say sóng đã khiến cha Albera đưa ra một quyết định mà sau này ngài sẽ chấp nhận chịu hoàn toàn trách nhiệm bằng văn bản, và ngài có lý do để hối hận việc này. Động cơ để ngài đưa ra quyết định này là theo ý kiến của ngài, “Bề trên Tổng quyền của một Hội Dòng không nên liều lĩnh trong những điều kiện như vậy, và rằng các hội viên sẽ có quyền chỉ trích họ nếu tai nạn xảy ra.” Ngài tìm cách thuyết phục cha Rua với một chút khó khăn nhưng chỉ sau khi thuyền trưởng thông báo với ngài rằng có lẽ ông ta buộc phải đi Port-Said, việc này sẽ khiến cho Bề Trên Cả không thể đến được Bêlem như dự tính để mừng lễ Thánh Giuse. Vé của họ đã được hoàn tiền.
Cuối cùng, cả ba lại một lần nữa trên đường đi đến Jaffa, lần này bằng xe ngựa bốn bánh, với người đánh xe đáng tin cậy mà hóa ra là người Đức. Họ không biết rằng họ đang lao vào một cuộc phiêu lưu hoàn toàn bất ngờ. Có một số kinh nghiệm thú vị trên đường đi, như khi họ đi qua một khu ở ngăn nắp của kiều dân Do Thái; nơi đây cha Rua viếng thăm hội đường, hoặc qua khu định cư người Bedouins đẹp như tranh vẽ với lều và động vật của họ. Tuy nhiên, những nơi khác ít dễ chịu hơn.
Mọi chuyện bắt đầu tồi tệ vào ban đêm. Sau chín giờ không thể đi xa hơn nữa: người đánh xe không thể thấy mình đang đi đâu, và có nguy cơ bị người Bedouins tấn công như cha Albera sẽ giải thích sau. Người đánh xe dừng lại tại một ngôi làng có những túp lều thô sơ bằng bùn. Trưởng làng rất vui khi chào đón họ, nhưng các du khách không muốn ăn tối với những khán giả vây quanh hoặc ngủ trong một túp lều với thảm sàn làm giường. Họ cảm ơn ông ta nhưng từ chối lời mời. Họ dùng bữa gồm các loại - một quả trứng, một ít cá mòi và một ít rượu - nhưng họ ngủ trong xe ngựa trong khi người đánh xe nằm ngủ trên đất. Một người Thổ sẽ trông chừng. Thật không may một cơn gió lạnh thổi vào mặt trước trống không của xe ngựa. Khoảng hai giờ sáng ngày 18 tháng Ba, chân họ đau do không khí ẩm ướt và vị trí chật chội, các du khách cảm thấy họ đã lãnh đủ. Cha Rua đã cố gắng che chắn bản thân khỏi bị lạnh bằng cách trùm chiếc áo choàng lên đầu, nhưng chân ngài cứng đờ. Ngài đã vài lần cố gắng thuyết phục người đánh xe tiếp tục lên đường, nhưng ông ta giả vờ không hiểu. Cuối cùng, khoảng ba giờ, những con ngựa được đóng yên cương và ra đi. Cha Albera viết cho cha Belmonte: “Tôi có thể bảo đảm với cha rằng làm dấu Thánh Giá mỗi khi người đánh xe khởi hành không chỉ xem ra thích hợp mà thôi, nhưng tự đáy lòng còn để phó thác bản thân cho Thiên thần Hộ Thủ nữa.” Chẳng bao lâu chúng tôi nhận ra tại sao trên địa hình không bằng phẳng này, người đánh xe đã rất miễn cưỡng phải khởi hành trước bình minh. Họ nín thở mỗi khi họ băng qua một con mương, và khi chiếc xe ngựa nghiêng sang một bên họ sợ nó sẽ bị lật. Việc này gần như đã xảy ra khi một trong những bánh xe đột nhiên đụng phải một cành cây nằm khuất trên đường, và chỉ có phản ứng nhanh chóng của người đánh xe mới tránh bị đổ sập khi ông ta trượt tới ngay mép ghế để làm đối trọng với chiếc xe ngựa. Khi họ đến gần một cây cầu không được che chở phía trên một thác nước, họ kinh hãi. Cha Rua van xin người đánh xe xuống xe và dắt dây cương dẫn những con ngựa băng qua, nhưng không hề biến sắc, ông ta ghì cương ngựa lại với nhau, quất roi thúc chúng về phía trước chạy gần nhau, trong khi hành khách nín thở và kêu cầu Đức Mẹ Phù Hộ các Giáo Hữu khi họ lén liếc nhìn vực thẳm bên dưới, nơi dòng nước chảy xiết đổ xuống ầm ầm. Đây dường như là khoảnh khắc thích hợp để nhắc lại những gì cha Albera viết trong bức thư gửi cha Belmonte: “Cha Rua đã không để cho những dịp này trôi qua mà không nói với những người bạn đồng hành của mình: Những sự thoái lui này so với những vất vả của những nhà truyền giáo của chúng ta có đáng là gì! Ngài nói với họ rằng Chúa đã mang họ đến đó để cho họ có một ý niệm nào đó về những nguy hiểm mà họ phải đối mặt trên hành trình của họ.” Bề Trên Cả luôn chú ý đến những nhà truyền giáo của mình trong những khu rừng Amazon và xích đạo.
Cuối cùng, trời lại sáng. Hai linh mục đã đọc kinh sáng; giờ họ đọc thần vụ. Khoảng 9 giờ, phá tan sự im lặng thông thường của mình, người đánh xe chỉ ra ở đằng xa tháp chuông nhà thờ ở Jaffa. Đến mười giờ, họ ở trong khu hành hương của thị trấn.
Cuộc hành trình trở về Bêlem đạt tiêu chuẩn hơn: tàu lửa từ Jaffa đến Giê-ru-sa-lem; nghỉ ngắn tại Deyroban nơi các ngài được các hội viên, các nữ tu và giới trẻ chào đón tới Beitgemal (ta tự hỏi ai đã nói với họ ...); tại Giê-ru-sa-lem bạn hữu thân quen của cha Rua đem xe đến chở ngài tới viện mồ côi ở Bêlem. Lúc đó là sáu giờ rưỡi tối khi rốt cục cả ba người đều đã đến nơi.
Ngày 19 tháng Ba, lễ Thánh Giuse, được tôn kính đặc biệt ở Đất Thánh, sẽ là một hồi kết phù hợp cho chuyến hành hương của cha Rua đến quê hương của Chúa Giêsu. Ngài đã dâng lễ trọng tại nhà nguyện của viện mồ côi, và sau bữa ăn, ngài nhận lời khấn của vài người và trao tu phục cho nhiều tập sinh. Lễ nghi kết thúc bằng giờ Chầu Thánh Thể.
Gần đó, trong Nguyện xá dành cho các thiếu nữ do các Nữ tu Salêdiêng điều hành, có một sự tiên liệu quan trọng: một nữ tu trẻ từ Bêlem sẽ được trao tu phục. Trước kia chưa hề đã cử hành một sự kiện như thế. Cha Albera viết: "Sự nhiệt tình của các thiếu nữ và gia đình của họ không thể tin được." Sau buổi lễ, Cha Rua nói chuyện bằng tiếng Ý. Mặc dù thính giả trẻ hiểu rất ít, họ lắng nghe "trong thinh lặng cầu nguyện" như có người bình luận.
Vì đây là buổi tối cuối cùng của cha Rua ở quê hương của Chúa Giêsu, ngài nắm lấy cơ hội để khuyên bảo và khích lệ đôi lời cuối cùng và đã chạm vào trái tim của tất cả những ai lắng nghe. Khi ban phép lành cho các hội viên và những thiếu niên, thì "gần như mọi người đều rơi nước mắt", khi ngài chuẩn bị lên đường vào lúc sáu giờ rưỡi sáng hôm sau (Albera).
Trở về châu Âu
Ngày 20 tháng Ba, ba khách hành hương xuống tàu tại Jaffa: đó là con tàu Sindh, đi tới Marseilles qua Port Said và Alexandria, nhưng ba người sẽ rời tàu tại Port Said và lại xuống con tàu này tại Alexandria sau khi băng qua Ai Cập từ nam đến bắc bằng tàu lửa. Trên đường đi, nảy sinh những tình bằng hữu mới. Một bác sĩ người Pháp gốc Ba Lan vốn đã gặp Hầu tước de Villeneuve trong một nhà tĩnh tâm của Dòng Tên ở Marseilles, rất vui mừng nhường cabin của mình cho cha Rua ngay sau khi ông nghe biết ngài là Bề trên Tổng quyền dòng Salêdiêng. Vì vậy Bề Trên Cả thấy mình trong một nhà nguyện thực sự nhỏ với những bức tường phủ đầy những hình chạm khắc tôn giáo. Ngài đã cử hành Thánh Lễ ở đó với vị bác sĩ giúp lễ. Một Quý ông Descamps, một thương gia giàu có từ Lille, với kiến thức đáng kể về Palestine và về phương Đông nói chung, lại trở nên một Cộng Tác viên Salêdiêng. Trong cuộc trò chuyện với Hầu tước de Villeneuve, ông ta nhận ra rằng cả hai người đều là học sinh tại trường đại học ở Rollins, Paris. Để làm hài lòng ba khách hành hương, ông ta cũng rời tàu tại Port Said để cùng họ đi tàu lửa đến Alexandria.
Điểm dừng ở Cairo không thể bỏ qua. Ngày 22, nhóm đã ở với các người cha dòng Tên, và Cha Rua đã có cơ hội đến thăm các Cộng Tác viên địa phương. Có một thỏa thuận chung giữa họ rằng cần có một trường kỹ thuật Salêdiêng ở Cairo, nhưng không giống các Cộng Tác viên ở Alexandria, họ sẽ phải đợi cho đến sau nhiệm kỳ của Cha Rua thì ước muốn của họ mới được thành tựu. Cha Rua đã chấp nhận lời đề nghị của cha Quản lý Dòng Tên, vốn là điều bất thường với ngài, để thực hiện một chuyến đi bán du lịch đến Kim Tự Tháp, mặc dù phải thừa nhận rằng nó bao gồm cả một chuyến viếng thăm Matarieh ở chặng về, nơi mà theo truyền thống địa phương, Thánh Gia đã sinh sống sau khi chạy trốn khỏi vụ thảm sát của vua Hêrôđê. Họ băng qua sông Nile, nơi gợi nhớ trẻ Môsê nằm trong giỏ dưới con mắt canh chừng của chị gái mình; họ rất kinh ngạc trước sự đồ sộ của các Kim Tự Tháp. Họ chỉ bị mất vui vì nhiều người Ả rập yêu cầu không thích đáng để làm hướng dẫn viên cho họ hoặc xin họ cưỡi lạc đà, hoặc thậm chí là muốn nhận được khoản trả tiền cho các dịch vụ mà bọn họ không thực hiện. Thậm chí cha Quản lý Dòng Tên còn phải dùng roi của người đánh xe để đe dọa một người đàn ông cực kỳ hung dữ.
Tại Matarieh, trước hết họ tìm cái cây "mà Thánh Gia đã ngồi nghỉ dưới đó." Cha Albera thích thú ghi nhận lại rằng: “đối với người Hồi giáo, đấy cũng là một vật tôn kính." Sau đó, họ đi đến uống nước ở giếng nơi Thánh Gia giải khát. Sau một đường vòng ngắn qua Heliopolis, người đánh xe chở họ đến khu vực cổ của thị trấn, đến "ngôi nhà nơi người ta cho rằng Thánh Gia đã sống trong suốt thời gian lưu đày ở Ai Cập". Khả năng phê bình của họ được trắc nghiệm! Tuy nhiên, như cha Albera viết: “Truyền thống cho rằng đây thực sự là ngôi nhà nơi Thánh Giuse và Đức Maria Rất Thánh sống không phải là không có nền tảng”. Ngài tiếc nuối nói thêm: "Giờ nó thuộc về Giáo hội Copts."
Sau Thánh Lễ sáng hôm sau, Bề trên Dòng Tên đi cùng với cha Rua đến ga xe lửa Cairo. Giữa ngày, nhóm đã ở trong cơ sở đường bệ của Dòng Tên ở Alexandria, nơi ba khách hành hương đã ở lại vài tuần trước; ngày 24 một lần nữa các ngài nhập đoàn với nhiều hành khách lên tàu Sindh, nó sẽ đưa họ trực tiếp đến Marseilles.
Bác sĩ bị bong gân mắt cá chân khá nặng: ông không thể đi được, và cần phải giơ chân lên. Cha Rua quan tâm rằng ông nên dùng cabin của mình đúng vào lúc ông bác sĩ thực sự cần nó; nhưng ông bác sĩ gạt phăng điều đó. Suốt chuyến đi, mỗi sáng ông lê bước đến dự Lễ do cha Rua cử hành.
Vào giờ ăn, năm hay sáu linh mục trên tàu ngồi cùng bàn trong phòng ăn, cùng cầu nguyện và thảo luận về các vấn đề tôn giáo. Nhưng tất nhiên lúc này vẫn là Mùa Chay, và cha Rua đã cẩn thận không quên nó. Ngài giữ chay trong suốt chuyến đi. Cha Albera bình luận: “Với một sự kiên trì vốn không phải ai cũng can đảm duy trì, cha Rua sẽ sắp xếp sao cho một món ăn sẽ là bữa ăn nhẹ cho ngài vào giữa ngày và một món khác cho bữa ăn tối. Điều này có nghĩa là đôi khi ngài chỉ ăn vài trái ô liu và một trái lê, vì tất cả món ăn đều có chất béo.”[330] Ngài không bao giờ có lúc miễn chuẩn việc áp dụng nghiêm ngặt luật chay tịnh như được những người giải nố đề nghị. Ngài luôn đòi hỏi bản thân.
Thời tiết có lúc thay đổi, và biển nổi sóng sẽ khiến con tàu giảm tốc độ. Cha Albera viết, việc này ảnh hưởng mạnh đến một số du khách đến nỗi không nhìn thấy họ cho đến khi con tàu đến Marseilles. Điều đó không đúng với cha Rua, có lẽ nhờ vào độ nghiêm ngặt trong chế độ ăn uống của ngài. Do thời tiết thay đổi, thuyền trưởng đã chọn không đi qua eo biển Bonifacio. Thay vào đó, ông đi quanh Corsica, như vậy là thêm mười giờ nữa vào chương trình dự kiến. Cuối cùng, khoảng ba giờ chiều ngày 29 tháng Ba, tàu Sindh cập bến Marseilles. Những người Salêdiêng ra gặp cha Rua rất ngạc nhiên: cúi chào theo phong tục cổ xưa của khách hành hương đến Đất Thánh, ngài đã mọc một bộ râu!
Chuyến hành hương này đã cho cha Rua cơ hội sống lại cuộc đời của Thánh Gia là Chúa Giêsu, Đức Maria và Thánh Giuse, để ngài thăng tiến. Nó cũng liên kết chặt chẽ giữa hội dòng Salêdiêng và các cơ sở khác nhau của cha Belloni ở Palestine, và đồng thời nó mang lại cho ngài những trải nghiệm cá nhân hữu ích về người dân ở Trung Đông mà trước đây ngài không có kiến thức về họ. Ngài về lại Turin trở thành một con người khác, nhưng không phải trước khi thực hiện một số chuyến viếng thăm ngắn ở miền nam nước Pháp. Bằng mọi giá ngài phải trở lại vì Tuần Thánh, và vì phải chuẩn bị ngay buổi hội tụ quy mô các Cộng Tác viên Salêdiêng dự tính diễn ra tại Bologna vào tháng tư.
Chú thích
[320] Biên bản của Hội đồng, ngày 25 tháng Tám, 1890.
[321] Về Anthony Belloni, xem tiểu sử của Giorgio Shallub, Abuliatama. Il Padre degli orfani nel paese di Gesù, Turin, SEI, 1955.
[322] Bài báo ẩn danh «Un'era della carità in Palestina. Abuna Antun Belloni», Osservatore Rômano, ngày 21 tháng Tám, 1935, đăng lại trong MB XVII, trang 896.
[323] Biên bản của Hội đồng, ngày 6 và 9 tháng Mười, 1890.
[324] Biên bản của Hội đồng, ngày 7 tháng 2, 1891.
[325] Báo cáo trong E. Ceria, Annali II, trang 180-184.
[326] Về chuyến đi của Cha Rua ở Đất Thánh, có những lá thư dài từ Paul Albera gửi tới Cha Domenico Belmonte, Phó Tổng Bề trên, được in ngay và gửi đến cho các Giám đốc; có thể tìm chúng trong FdR 3003 C10 ở mục 3004 A11, trên 38 trang giấy cỡ lớn. Báo cáo: «Don Rua en Palestine», Bulletin salésien, 1895, trang 189-195, 137-139, trước hết bởi Bản tin cho là ít nhiều có tính hợp pháp do Marquys de Villeneuve Trans, người đi cùng họ. Chúng tôi không đưa những tham khảo chính xác cho những lá thư của Cha Albera. Bất cứ ai nghiên cứu đều có thể dễ dàng tìm thấy chúng.
[327] Tại điểm này trong bản tường thuật của Cha Albera một cái tên xuất hiện ngoài dự kiến: đó là một người Salêdiêng Pháp Athanase Prun (1862-1917): chính ông là người lập trại trẻ mồ côi ở Nazareth dâng cho Chúa Giêsu Niên Thiếu. Ông được phong phụ phó tế ngày hôm đó.
[328] Thư ngày 19 tháng Ba, FdR 3003 E6.
[329] FdR 3003 E9-10.
[330] FdR 3004 A10.