FMA Logo

MARIA TRINIDAD HIDAKA (1955-1969) - (Cộng hòa Dominica)



          Cô gái này có thể được gọi bằng nhiều tên khác nhau: tên Nhật bản, tên Tây Ban Nha.172

          Với tên gọi bằng tiếng Nhật, có thể là Reiko và Leiko. Cách phát âm có thể trao đổi qua lại được, nhưng ý nghĩa, khi nhìn theo chữ viết, thì khác nhau hoàn toàn. Reiko nghĩa là “từ tâm”; Leiko nghĩa là “vẻ đẹp trong sáng”. Nếu chúng ta đặt cả hai gần nhau, chúng có được một vẻ đẹp trong sáng và từ tâm.

          Tên gọi bằng tiếng Tây Ban Nha, được đặt trong Lễ Rửa Tội: Maria Trinidad del Pilar. Em nói: “Đó là một tên gọi gây ngạc nhiên. Trong đó, hai mầu nhiệm của đức tin Ki-tô hữu được kêu cầu: Thiên Chúa Ba Ngôi duy nhất và Đức Maria, hơn thế nữa, đó là Ngôi Lời đã làm người để trở nên Đấng Cứu Độ chúng ta”.

          Dù vậy, để rút ngắn tên gọi, họ hàng và bạn hữu đều sử dụng tên Trini (hay Maritrini) để gọi cô thiếu nữ này.

          Trini là ai?

          Chính em sẽ kể cho chúng ta về điều này trong một bài luận ở trường vào năm học lớp tám, nghĩa là năm thứ ba trung học với chúng ta.

          Trini là một người Nhật, sinh tại Kagoshima ngày 20.06.1955, con gái út trong một gia đình gồm bảy người: cha, mẹ và năm anh chị em: Ruriko, Takeaki (Tony), Toshie (Maria Luisa), Mamoru (José Luis) và tôi”.

          Họ của em: Hidaka.

          Leiko lên hai tuổi hoặc nhỉnh hơn một chút (Trini: tên gọi sau khi được Rửa Tội) khi cha của em quyết định chấp thuận một lời mời gọi đi đến một vùng đất xa xôi, nước Cộng hòa Dominica, người ta xin một nhân công ngoại quốc đến làm việc tại vùng đất nông nghiệp Jarabacoa.

          Họ lên đường cùng với một số đông các gia đình Nhật Bản khác. Họ trải qua hai mươi ngày hành trình trên một chiếc tàu Brasil.

Người ta ra đi cùng với các vũ khí và hành lý. Ai cũng mang niềm hy vọng vào một đời sống mới.

          Với cô gái nhỏ, tất cả hành trình này là một trò chơi. Hơn một lần, người mẹ phải trả lại và xin lỗi chủ nhân vô tội bị cô con gái nhỏ cả gan lấy đi một thứ đồ vật để vương vãi đây đó. Tuy nhiên, chẳng có ai lấy làm phật ý bởi vì Leiko giống như một cô công chúa nhỏ dễ thương với tất cả mọi người.

          Đến cuối tháng 01.1958, họ đi đến nơi. Họ được đón tiếp tử tế, bởi vì cư dân địa phương hy vọng những phép lạ sẽ xây ra từ những người này, những “tập đoàn Nhật Bản” chăm chỉ cần mẫn. Thật vậy, ngay lập tức những người mới đến bắt đầu khai hoang đất đai và làm cho chúng trổ sinh hoa trái với những vụ trồng trọt mới và phong phú.

          Các nữ tu Salêdiêng đến đó để thăm viếng họ nhiều lần. như thế, các chị không mất nhiều thời gian để thuyết phục các bậc cha mẹ ủy thác cho họ việc chăm sóc các em bé nhỏ hơn cả vốn không thể cày cấy, thu hoạch mà thay vào đó, chúng phải luôn chơi ở trong những chiếc màn chống muỗi dùng khi cắm trại. Còn các em lớn thì có thể tự do chạy nhảy khắp nơi.

          Trong lưu xá, Leiko sống thật vui. Cô giáo đầu tiên của em nói rằng: “Tôi đã biết em khi em đang ngồi chễm chệ trên cành cây to”.

          Tính tình của em là như thế, thẳng thắn và cởi mở khiến mọi người dường như có thể nhìn thấy điều em cảm thấy bên trong. Em muốn được nổi bật, luôn vui vẻ và tìm thấy điều gì đó mới mẻ trong tất cả mọi sự.

          Các cô giáo của em biết rằng phải làm điều gì đó để đặt ra một chừng mực giới hạn cho em: không phải những chướng ngại cản đường, tuy nhiên, để điều hướng tất cả những sức mạnh và năng lượng này đến một con đường đúng đắn.

          Cô giáo của em tạo cho em hàng ngàn nhiệm vụ, làm một mình để phục vụ trong lớp học: thu gom giây tờ và sách vở, lau bảng, đổ thùng rác chứa giấy vụn, v.v...

          Trong khi đó em học cách để chế ngự tính hiếu động vốn có, học cách để mạnh mẽ, bình tĩnh trước một cuốn sách và tập vở; bởi vì em luôn luôn phải làm tốt mọi sự.

          Dần dần, dung mạo của Chúa Giê-su tỏ hiện trong trái tim của em, lúc ấy “tính chơi trội” của em trở thành một “sự trao ban tất cả con người vì tình yêu dành cho Ngài”. Em biết sử dụng những năng lực để sinh hoa trái chứ không mang chúng trở lại trong chiếc rương của sự hưởng thụ.

---o0o---

          Hàng năm, bà Maria Trinidad del Pilar, một người tông đồ dễ mến và đầy năng động, đến nghỉ hè tại Jarabacoa. Bà cống hiến thời gian để chuẩn bị cho các người di cư Nhật Bản trong vùng lãnh nhận Bí tích Rửa Tội. Rất nhiều người đã tán thành lời đề nghị của bà.

          Và Leiko cũng thế. Cha và mẹ của em đã đồng ý.

          Vì thế, Leiko trở nên một phần tử trong Giáo Hội của Chúa. Đó là ngày 24.10.1960 và em muốn được gọi giống dỡ đầu của mình: Maria Trinidad del Pilar.

          Cuộc sống của em không thay đổi trong nhịp điệu của mọi ngày sống và công việc, nhưng thay đổi trong những động cơ và trong tình mến sâu xa. Maritrini ngay lập tức bắt đầu “sống với Giê-su”, dưới ánh nhìn lôi cuốn và ban phúc lành của Ngài, với ý định duy nhất để trở nên và làm tất cả cho Ngài.

          Sau một năm, em có thể đi vào mối hiệp thông với ngài trong Bánh sự sống cho thế gian, rồi em lãnh Bí tích Thêm sức. Việc gia nhập vào Hiệp hội Maria mở đầu cho việc Đức Trinh Nữ Vô Nhiễm dẫn dắt em theo một cách thức mới.

          Năm học 1966-67, Trini lúc này đã bước vào tuổi hoa niên, em đã phải gánh chịu một vết thương lòng cùng với tất cả các anh chị em trong gia đình. Người cha dẫu rất thương con cái, đã rời bỏ gia đình để đến sống chung với một người phụ nữ khác. Hơn nữa, ông đã làm như thế trong một thời điểm vô cùng tế nhị, đó là khi người vợ hợp pháp của ông rời khỏi Jarabacoa để tạm thời trở về Nhật bản, vì tình trạng sức khỏe của một trong các anh trai của Trini.

          Lúc này, người ta nhìn thấy một Trini khác: Đau khổ và lo lắng. Em trở nên cáu bẳn, sút giảm sự chuyên tâm học hành, thường hay rời khỏi nhà để đi đến nơi mà không ai biết, bởi ở nhà tất cả quá khứ được gợi lại trong em và một tương lại không tên tuổi đe dọa em.

          Các nữ tu làm việc tại trường học tìm cách gần gũi với em, cùng với người anh José Luis giúp em lấy lại tinh thần. Sau đó, vào tháng tám năm 1968, mẹ của em trở lại. Trong nhà, sự đau khổ trở nên nặng nề và kinh khủng, nhưng ít nhất vẫn còn có mẹ là điểm qui chiếu của tình yêu. Và một sứ mệnh mới xuất hiện dành cho những người con: Sứ mệnh xoa dịu những vết thương của người mẹ.

---o0o---

          Trini đặt nền tảng đời sống của mình nơi Chúa Giê-su với một sự trong sáng bên trong nội tâm. Nếu ai đó nói với em rằng tham dự Thánh lễ mỗi ngày là điều khó khăn bởi khoảng cách xa xôi giữa nhà ở, nhà thờ và trường học, thì em trả lời rằng không phải thế, điều đó không quan trọng bởi nếu ta muốn thì mọi sự đều có thể.

          Em rất rõ về tương lai của mình. Em không cảm thấy lời mời gọi sống đời thánh hiến. Em rất ngưỡng mộ các nữ tu. Em ước muốn đặt để đức tin, đời sống Thánh Thể, sự dâng hiến cho Đức Nữ Trinh Maria làm trung tâm đời sống, nhưng em chắc chắn rằng mình được mời gọi để kiến tạo một gia đình, để giáo dục đời sống Ki-tô hữu cách sâu xa cho những đứa con mà Thiên Chúa sẽ ban tặng. Em sẽ luôn cảm thấy vui mừng khi nhìn thấy một vài bạn đồng hành bước theo ơn gọi tu sĩ, nhưng em cầu xin Thiên Chúa cho em gặp được một thanh niên cũng có thể chia sẻ những khát vọng của mình.

          “Mỗi ngày trong Thánh lễ, tôi khiêm nhường cầu xin Thiên Chúa đồng hành với tôi luôn mãi bởi vì nếu không có Ngãi, ta sẽ không thể làm được điều gì tốt lành trên trần gian này”.173

          Khi giờ học kết thúc, Trini không bao giờ vội vã trở về. nhà. Em ở lại để làm thêm hàng ngàn công việc: Sáp xếp lại nói chuyện với các sơ, nhảy nhót bên này bên kia với tất cả sự lớp học, tiếp tục công việc thêu thùa của mình, thỉnh thoảng sống động của tuổi thiếu niên. Nhất là, khi có dịp, em giúp đỡ để thực hiện công việc từ thiện mà lưu xá chịu trách nhiệm: phân phát bữa ăn xế, mỉm cười với mọi người, làm cho tất cả vui vẻ với một lời đùa giỡn hóm hỉnh.

          Trini thường xuyên nhận nhiệm vụ kéo cờ và hạ cờ; và em hiện diện ở đó, luôn chú tâm và tham dự, trong khi đó các thiếu nữ khác diễu hành bên trong hay ngoài trường học.

          Sau đây là một nhận xét thú vị từ một giáo viên của em. Sr. Lorena Taveras: Trini không làm gì để “duy trì một kiểu cách” và thậm chí để chạy theo một kiểu mẫu thời trang. Với em, vẻ đẹp đến từ bên trong; phát sinh từ tình bạn với Thiên Chúa và được đâm rễ sâu nơi việc phục vụ và lòng tốt.

• Maritrini, đời sống trong ân sủng có giá trị với bạn nhiều lắm phải không?

• Đúng hoàn toàn 100%! Tôi thích chết trước khi đánh mất ân sủng của Thiên Chúa. Tôi nhiều lần cầu xin Giê-su ban cho tôi ân sủng của Ngài mãi mãi.

• Đề xuất cho mùa Chay: "Tôi không muốn phí phạm thời gian của mình. Tôi muốn tiêu hao thời giờ vào việc phục vụ Thiên Chúa và mọi người".

• "Đức tin là một tiếng Vâng mà con người thưa vớiThiên Chúa, một tiếng Vâng mà tôi, một cách ý thức và đầy tự do, tôi thưa với Ngài mỗi ngày".

• Vào ngày cuối cùng của năm học, khép lại một năm, với đôi mắt ngời sáng, em thổ lộ với Sr. Luisa Riva: "Con ao ước được chết ngay hôm nay, bởi vì con cảm thấy bình an, ao ước đi về trời trong ân sủng".

          Và còn nữa, nơi những sự kiện khác, được viết trong nhật ký của em như:

          “Những cuộc trò chuyện nhẹ dạ và những cuộc gặp gỡ hời hợt là những thứ phá hoại tình yêu".

          "Đời sống Ki-tô hữu không dễ dàng. Trở thành người môn đệ đích thực của Chúa Ki-tô đòi hỏi mọi nơi mọi lúc: trong gia đình, nơi trường học, trong môi trường làm việc, trên đường, trong những tình bạn của tuổi trẻ chúng ta... và trong việc chạy theo các kiểu mẫu thời trang".

          "Nếu tôi phải chết khi còn trẻ, tôi muốn dâng hiến linh hồn trong sạch của mình. Chết trước khi phạm tội".

          Khi đã gần đến lễ Mẹ Vô Nhiễm, ngày lễ cuối cùng trong đời em, Trini cầu xin được nhận vào trong Hội con cái Đức Mẹ dẫu cho điều này đòi phải có một ngoại lệ đối với luật lệ của các lớp học và tuổi tác. Em đã đạt được điều đó và em rất hạnh phúc. Maria thành Nazaret, là một thiếu nữ rất trẻ vào thời điểm được kêu gọi và Maria mãi duy trì sự trẻ trung vĩnh cứu. Mẹ là và sẽ mãi là gương mẫu cho đời sống của em. Em không nói đến việc bắt chước Mẹ ở điều này hay điều kia, ở những việc “cân phải làm”, tuy nhiên trong việc trở nên giống như Mẹ: luôn hoàn toàn sẵn sàng với Thiên Chúa.

          Trini là một sinh động viên của niềm vui. Đối với tất cả, em đề xuất và trao ban niềm vui; em khơi dậy niềm vui xung quanh mình; trong hàng ngàn cách thức khác nhau: trong sự khám phá bài học mới, trong sức năng động của những chuyển động với môn thể dục và bơi lội, trong những diễn tả kịch nghệ; và em luôn sẵn sàng đứng mũi chịu sào, thay thế chỗ trống, khích lệ những ai ngã lòng. Trini là “người bạn”: một người bạn muốn tốt cho tất cả, nhưng luôn với sự tôn trọng khả năng tự phán đoán.

          Tuy thế, Trini luôn mang trong lòng một gai nhọn làm cho em đau buốt và phải chảy máu: Cha mẹ của em không tìm kiếm, không bắt gặp được con đường đức tin trong Chúa Giê-su. Hơn nữa, sự gãy đổ của đời sống gia đình, mà khi bắt đầu người ta tưởng rằng chỉ nhất thời, nhưng đã trở nên vững chắc: cha của em đang sống, cũng không còn gần gũi lắm với gia đình mới của ông, dần dần, ông có thêm ba người con nữa.

          Rất ít người biết đến nỗi đau thâm sâu này, bởi vì Trini luôn kín đáo và đầy phẩm hạnh; đối với em, Chúa Giê-su nhận thấy những đau khổ này là đủ. Một người biết rất rõ về em là anh trai José Luis, anh trai kế hiệu em, bảo vệ em, 1 em và giúp đỡ em tất cả những gì anh có thể.

---o0o---

          Ngày 20.06.1969, ngày thi cuối kỳ môn tiếng Anh, Trini ghi lại: “Hôm nay, tôi tròn mười bốn tuổi”.

          Em không thể tưởng tượng được rằng, đó là sinh nhật lần cuối cùng của em.

          Năm học khép lại và Trini đạt kết quả xuất sắc. Em đã luôn là “người đứng đầu lớp” nhưng không bao giờ làm cho bất cứ ai cảm thấy đố kỵ, hiềm thù hay oán giận, bởi em luôn là người đầu tiên phục vụ mọi người. Không có ai từng nhìn thấy em khoe khoang kể công; tất cả đối với em thật tự nhiên, bình thường giống như bổn phận duy nhất cần phải hoàn thành.

          Những ngày nghỉ bắt đầu và Trini bộc lộ niềm vui sướng vì có thể đi bơi ở sông. Một ai đó nhắc đến một bé gái tuổi tiểu học vừa mới lội xuống nước đã cảm thấy đau, có lẽ dạ đầy không ổn. Cô bé chết cùng với một cậu bé đã nhảy xuống nước để cứu em.

Tuy vậy, tất cả đều là dư luận, nhưng nó cũng luôn xảy ra với cả những người khác nữa.

          Ngày 06.07, Trini gặp một trong số các nữ tu và chị đã nói với em một tin tốt lành: Mọi sự đã được sắp xếp ổn thỏa để em sẽ đi đến Santo Domingo, là cơ sở của các FMA để có thể tiếp tục việc học. Em sẽ ở trọ tại nhà của chị gái Maria Luisa, chị đã lập gia đình tại thành phố này.

          Sau đó em hỏi thăm: “Trong lưu xá đó, thời khóa biểu Thánh lễ có thuận tiện cho con không? Bởi vì con thực sựkhông muốn mất Thánh lễ hằng ngày”.

          Ngày 14.07, em sẽ lên đường. Tuy nhiên, em muốn dành cho các bạn trong lớp một cơ hội để sống vui với nhau trọn một ngày tại đồng quê: Các em đi đến ngôi biệt thự của người cha đỡ đầu Rửa Tội của em là ông Ramon Guzman, cha của một Salêdiêng và hai FMA. Ở đó có một con sông trong vắt, nơi có thể bơi được.

          Sau Thánh lễ, tất cả chạy ào đến đó. Vào khoảng giữa trưa, các em chuẩn bị chỗ cho một bữa ăn trưa vui vẻ ngoài trời. Trong khi đó một vài em nữ đi xuống nước, trong số đó có Trini.

          Sau đó em trở lại bờ sông, nhưng khi nhìn thấy một cây to chìa cả thân và nhánh cây ra sông, em cảm thấy hứng khởi với một ước muốn mạo hiểm. Em leo lên cây trong tích tắc và chuẩn bị nhảy chúi xuống nước. Em gọi các bạn và tất cả đồng thanh trả lời: “Đừng!”.

          Nhưng em đã phóng mình xuống rồi! Em biến mất trong dòng nước, tuy vậy chẳng ai nghĩ đến một mối nguy hiểm thực sự. Họ tin rằng chỉ lát nữa thì Trini sẽ lại trở lại với họ.

          Ngược lại... Không ai biết rằng nước ở chỗ ấy không sâu. Cơ thể của Trini chạm tới đáy ngay tức khắc, có lẽ có nhiều đá, và xương sống của em đã bị gãy.

          Một thanh niên, cũng là người Nhật, nhìn thấy Trinh nổi lên một cách không bình thường và nghĩ rằng: “Thật là một kiểu bởi lạ lùng!”; nhưng rồi anh ta cũng nhận ra rằng cơ thể đó đang bị sóng cuốn đi. Lúc ấy, anh lao mình xuống nước và bợi đến gần Trini, lỗi em lên bờ cát.

          Trini, mặc dù đau đớn khủng khiếp, vẫn không mất ý thức. Em xin các bạn tha lỗi vì đã không nghe lời họ.

          Trong nhà ông Guzman, có một linh mục Salêdiêng ở đó là cha Luis Dalbon. Em xin được xưng tội và em tin rằng đó là lần cuối cùng. Sau đó, người ta chuyển em đến Trung Tâm Y Tế gần đó. Thật là một sự tử đạo. Tuy vậy, vị linh mục nhẹ nhàng đề nghị em hãy kết hợp những đau khổ của em với những đau khổ của Chúa Giê-su vì phần rỗi của nhân loại và Trini không hề thốt ra một lời than vãn nào.

          Nhưng... vẫn còn một chuyến hành trình khác. Em cần được đưa đến Bệnh viện quốc tế tại Santo Domingo, nơi có nhiều điều kiện tốt hơn để thực hiện một cuộc phẫu thuật.

          Một bác sĩ phẫu thuật báo cho em biết: “Trong một lúc, bác sẽ làm cho con cảm thấy rất đau đớn”. Và em trả lời: “Nếu chi trong một thời gian ngắn, con sẽ cố gắng chịu đựng”. Người ta bàn đến việc thử kéo lại sống lưng của em.

          Đôi mắt của Trini dường như muốn rơi ra khỏi hốc mắt, đồng nước mắt lăn xuống tiễn gò má của em. Sau đó em nói với anh trai José Luis: “Nếu em bị liệt, em sẽ đón nhận bởi vì Thiên Chúa cho phép điều ấy xảy đến. Em muốn thực hiện thánh ý Ngài”.

          Trini còn sống tám mươi lăm ngày nữa. Chúng ta hãy thử đếm những ngày đó, hãy nghĩ đến nỗi đau khủng khiếp và sự bất động hoàn toàn mà em phải chịu đựng trong từng khoảnh khắc, từng giờ phút ấy.

          Trong từng phút giây, Trini sống sự hiệp thông với Chúa Giê-su. Cho đến một lúc, trong khi sr. Lorena ở đó, em nói: “Bây giờ, con thực sự chẳng còn gì để hiến dâng cho Chúa Giê-su. Con dâng cho Ngài mọi nỗi đau đớn của con vì sự hoán cải của cha và mẹ. Con muốn họ lãnh nhận Bí tích Rửa tội và trở thành Ki-tô hữu”.

          Những tuần lễ đó, những ngày đó, những giờ đó trôi qua với những cơn đau liên hồi mà em không nhìn thấy một lối thoát. Có những khủng hoảng trong cơn mê sảng, đặc biệt vào ban đầu, có những thời điểm mà cuộc sống rất trẻ của Trini vẫn muốn tỏ ra còn có hy vọng, và lúc đó, cô thiếu nữ thốt ra những câu tương tự như thế này: “Sr. Lorena, nếu con khỏi bệnh và ngồi trên một chiếc xe lăn, con sẽ chuyên tâm vào nghề thêu thùa: Con sẽ làm ra những sản phẩm đẹp giống như sơ đã dạy cho con”. Và chị nữ tu, với dòng nước mắt chảy trong tim, trả lời: “Sơ vẫn có thể dạy cho con nhiều hơn nữa" nhưng rồi sơ nhìn vào đôi bàn tay mà chỉ có phép lạ mới có thể làm cho nó cử động.

          “Ở đây, tại bệnh viện, người ta cho con Rước lễ chứ?”.

 “Cha tuyên úy đã hứa rằng ngài sẽ đến đây mỗi ngày. Con đòi khát Chúa Giê-su Thánh Thể”.

          “Ở Lưu xá, mọi người đều cầu khẩn với Laura Vicuña cho con đấy”.

          “Nếu ơn này được ban cho con thì mọi người sẽ cãi nhau mất thôi. Các Sa-lê-diêng lại cầu nguyện với Don Rua... còn con sẽ làm như thế này: Con trao phó cho Don Rua cái đầu của con và cho Laura phần còn lại của cơ thể của con...”.

          Sau đó, đến lượt người mẹ... “Con thực sự tin rằng cuộc sống của con sẽ chấm dứt ở đây. Con cảm thấy không còn đủ sức. Nhưng mẹ hãy nghĩ rằng con sẽ hạnh phúc biết bao trên Thiên đàng...”.

          Và với anh trai José Luis: “Em muốn cám ơn tất cả những người đã giúp đỡ em trong những ngày tháng vừa qua. Em sẽ không trở về Jarabacoa nữa, tuy nhiên, từ Thiên đàng, em sẽ tỏ cho mọi người thấy lòng biết ơn của em”.

          Vào buổi chiều ngày 04.10, Trini chào người anh trai thân thiết với một nụ cười thường thấy: “Tạm biệt anh; em chúc anh mọi điều tốt đẹp”.

          Buổi chiều sau đó, trễ hơn một chút, em nói với mẹ: “Mẹ đi ngủ bình an nhé; con sẽ ổn thôi”. Nhưng ngược lại...

          Khi những tia sáng đầu tiên của ngày mùng sáu xuất hiện trên bầu trời. Trini bị tấn công bởi một cơn ngạt thở, và xuất huyết phổi nghiêm trọng.

          Như thế, lúc 7g10’, em ra đi mãi mãi cùng với Chúa Giê-su của em.

---o0o---

          Sau đó, nhiều điều đã xảy ra, nhưng ở đây, chúng ta nhớ đến một điều trên hết: sự hoán cải của mẹ và cha của Trini. Trong những khoảnh khắc cuối cùng của cuộc sống, với giọng nói thều thào, Trini đã cầu nguyện thế này: “Sự trở lại... của mẹ và cha...”.

          Người mẹ Moru, đầu tiên bà không hề tỏ ra một chút quan tâm nào đến đề tài tôn giáo, bây giờ, bà cảm thấy được đánh động. Bà tham dự suốt chín ngày cầu nguyện cho người quá cố trong nhà nguyện của các nữ tu, bà cảm thấy tình cảm mà những bạn đồng hành của Trini dành cho em. Sau đó, khi nhớ lại cô con gái đã vui sướng biết bao mỗi lần trở về nhà sau khi tham dự Thánh lễ, bà cũng đi dự lễ và mang đến đó tấm hình của Trini. Bà nói với một nữ tu: “Leiko luôn luôn đi tham dự Thánh lễ, bây giờ, tôi mang Leiko đến đó, bởi tôi không muốn con gái thiếu Thánh lễ, như thế con bé sẽ hài lòng lắm”.

          Bà đã chuẩn bị mình để lãnh Bí tích Rửa tội với việc học giáo lý, tuy nhiên với bà, còn có một khó khăn lớn khác, bởi bà phải vật lộn rất nhiều với tiếng Tây Ban Nha, và đây, một điều khác lại xảy ra. Người con trai José Luis, khi kết thúc năm học tại Trường kỹ thuật do các Sa-lê-diêng quản lý, anh đã dành được từ tòa đại sứ Nhật Bản một học bổng trong hai năm về chuyên ngành của mình. Anh trở về quê hương. Như thế, người mẹ cũng trở về và có thể học giáo lý bằng tiếng mẹ đẻ.

          Ngày 24.12.1972, trong thành phố Kaseda, bà đã nhận Nước Rửa Tội của Chúa Giê-su. Bà sẽ được gọi là Moru Maria Trinidad.

          Còn người cha Tsuneyasu thì sao?

          Ông đã sống nhiều năm với gia đình thứ hai và có thêm ba người con khác. Ông trở lại nhà, chỉ trong lúc xảy ra cái chết của Trini. Ông có mặt trong tang lễ và sau đó lại ra đi.

          Không ai có thể nói với ông bất cứ điều gì, bởi bây giờ ông đã thuộc về một thế giới khác.

          Nhưng khoảng mười năm sau đó, sức khỏe của ông xuống dốc, giảm sút, ông đi đến giai đoạn cuối đời. Và điều gì đã xảy ra? Trini ở bên cạnh ông. Trong một giấc mơ chăng? Có phải trong ba lần khác nhau không?

          Em nói với ông: “Nhanh lên, cha ơi! Đừng để mất thời gian. Cha phải đón nhận Chúa Giê-su. Cha phải nhận lãnh Phép Rửa của ơn cứu độ”.

          Ngay khi biết rằng ông sắp chết, các con cái đầu tiên của ông, vượt qua mọi nỗi đau mà ông gây ra cho họ, đã đến tìm ông. Và ông nói với sự khao khát: “Cha muốn được Rửa tội! Ngay lập tức!”.

          Trong bệnh viện ở đó có một linh mục, ngài đã nhận ra tính nghiêm trọng của trường hợp này. Ngài đã ban phép Rửa tội và ông xin được gọi là Gioan Tẩy Giả.

          Sau đó ông lãnh Bí tích Xức Dầu và Rước lễ. Ông xin người vợ Moru Maria Trinidad và các con của bà tha thứ. Ông qua đời trong bình an ngày 11.08.1979.

          Và sau đó thì sao? Sau đó, còn nhiều, nhiều điều lắm.

          Chúng ta chỉ nói đến một trường hợp thôi. Trung Tâm Trẻ đã được thành lập gần các FMA ở Jarabacoa đã nhận được hạt giống đầu tiên từ Maritrini. Năm 1968, có một cuộc tĩnh tâm trọn ngày để chuẩn bị cho lễ Phục sinh. Trong đó, người ta bàn đến sự tan rã và thiếu khả năng liên kết của giới trẻ địa phương. Maritrini giơ tay và đưa ra giải pháp của mình. Sau đó, mọi người thảo luận và đề xuất một vài tên gọi cho trung tâm.

          Và rồi, sau tất cả những sự kiện đã xảy ra, tất cả đều đồng ý với tên gọi: “Trung Tâm Trẻ Maria Trinidad Hidaka”. Một cách tự phát, mọi người bắt đầu gọi những thiếu nữ tham gia vào trung tâm là “các hidaka”.

          Và các thiếu nữ ấy tự hào về điều đó.


Chú thích

172 x.FERRANTE M.Elia, Trini: niêm vui!, Edizioni Crociata del Vangelo [1983); TAVERAS Lorena, Trini: Một lời thưa vâng với tình yêu, Palermo, Edizioni Crociata del Vangelo [1989].

173 x.TAVERAS, Trini: un si al amor 41 (X. phía sau trang bìa).


FMA Logo

Địa chỉ: 57 Đường số 4, Khu phố 56, P. Tam Bình, TP. Hồ Chí Minh

Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về email: libraryfmavtn@gmail.com

Liên Kết

Truyền Thông FMA

Copyright Dòng Con Đức Mẹ Phù Hộ © 2026