FMA Logo

4. NU TU TERESA GEDDA



       Chị Teresa Gedda là người dân tộc miền núi. Chị sinh ra trong một vùng quê nhỏ bé tên Pecco. Đây là vùng đất có một bề dày lịch sử và phong phú về đức tin Ki-tô hữu, vùng này vôn thuộc về miền Piemonte được gọi là Canavese. Cảnh quan trình bày dưới mắt người xem một bức họa xinh đẹp gồm những hồ nước đóng băng, các con sông và dòng suối chảy cuồn cuộn, những cánh rừng và đất trồng, được bao quanh bởi vòng tròn tuyệt đẹp của dãy núi Alpi Cozie và Graie luôn lấp lánh tuyết trắng hoặc được che phủ bởi rừng thông xanh thẫm.

          Trẻ Teresa sinh ngày 17.01.1853.92 Trong gia đình, đã có năm thành viên khác ra đời trước Teresa, sau em còn có hai người nữa. Người cha tên Gia-cô-bê, là “mẫu người đàn ông đơn sơ và tốt bụng”, người mẹ là bà Maria Oberto, được mô tả như “một phụ nữ sống động, siêng năng nhưng khắc khổ và nghiêm khắc với các con cái mà bà rất yêu thương. Tuy vậy, bà không bộc lộ nhiều nét yêu thương ấy ra bên ngoài".93

          Gia đình Gedda rất đông, họ ôm ấp một lối sống giản dị Gia đình trồng trọt trên những mảnh đất không quá rộng lớn, phía trên núi, nằm ở độ cao khoảng 700 m.

          Các con hài lòng trước đòi hỏi giáo dục của cha mẹ, họ hiểu rằng cha mẹ của họ luôn ao ước cho con cái sống hết lòng và nỗ lực thăng tiến, đồng thời xa tránh mọi điều có thể hủy hoại năng lực tự nhiên của họ. Cũng như các anh chị em khác, Teresa yêu thích những bài học giáo lý và cả bài vở trên trường.

          Tuy vậy, việc học này sớm bị cắt ngang, có lẽ chỉ sau năm lớp ba cấp tiểu học. Teresa cần phải giúp một tay trong công việc nhà và trên cánh đồng. Trong thời ấy, việc đào luyện trị thức cho nữ giới không được chú trọng mấy như cho nam giới.

          Đó là một hy sinh nhưng Teresa chấp nhận với tình yêu.

          Một trong các chị em gái tên Rosa khẳng định rằng Teresa là người dịu dàng nhất trong gia đình, không phải bởi vì em là người thụ động, nhưng là em thực sự đã hiểu ngay từ thời thơ ấy, giá trị của việc trao ban chính mình cho lợi ích chung và để “làm hài lòng Thiên Chúa”. Trong thực tế, Teresa cũng biết dùng những lời nhắc thanh thản đối với các chị em gái khi thấy họ dửng dưng và có vẻ miễn cưỡng trong sự việc.

          Teresa cũng đã trải qua thời gian mâu thuẫn, đó là thời điểm phân định ơn gọi. Khi chị bày tỏ ước mơ dâng hiến với cha mẹ và gia đình, chị đã đối diện với một tiếng “không” tròn trĩnh và dứt khoát.

          Để nói sự thật về ước mơ ấy thì nhất định đã phải rất trưởng thành, tuy nhiên cũng có một vấn đề khác khiến song thân của chị phản đối. Trước tiên, cha mẹ chị thậm chí không thể nghĩ rằng Teresa không còn ở trong gia đình nữa. Người mẹ phản đối: “Phải chăng con muốn nói rằng mẹ không biết dạy con trở nên một Ki-tô hữu tốt lành sao?”. Và cha của chị thì nói: “Chúng ta không phải là những người may mắn như thế đâu. Con không thể trở thành nữ tu được”. Có lẽ ông muốn ám chỉ đến của hồi môn phải dâng cho tu viện, hoặc trình độ học thức thấp kém của chị, hoặc là điều nào khác nữa...

          Sau lần đó, chị Teresa không còn đề cập đến điều này lần nào nữa, cũng bởi vì ông Gia-cô-bê gần như suýt chết do một cú ngã hết sức nghiêm trọng từ trên cây xuống đất. Vậy là Teresa bắt đầu một đời sống mới: Chị đến vùng Strambino, nơi mà hai người chị khác đã đang làm việc. Cũng như họ, Teresa đến đó để phục vụ cho một linh mục quản xứ, ban đầu trong tính cách tạm thời, và sau đó thế vào chỗ của Caterina khi người chị bị bệnh, rồi hoàn toàn đảm nhận công việc này khi Caterina qua đời. Một trong những trách nhiệm mà chị yêu thích đó là chuẩn bị bánh ăn cho những người nghèo: Hàng tuần, chị phải nhào khoảng 20 kg bột và nướng toàn bộ số bánh.

---o0o---

          Cha xứ là nhà thần học Giovanni Battista Oglietti. Cha hết sức nhiệt thành, lại thấu hiểu sâu xa về ơn gọi của Teresa, vì thế ngài đã giới thiệu cho chị Tu Hội Con Đức Mẹ Phù Hộ do Don Bosco thành lập. Ngài giúp chị được nhận vào dòng cách dễ dàng với giấy giới thiệu của ngài và việc chuẩn bị một vài giấy tờ cần thiết.

          Lúc ấy, các FMA đã đến làm việc tại Valdocco Torino và thành lập cộng đoàn tại đó. Chị Teresa lúc bấy giờ đã trưởng thành, chị tròn 23 tuổi. Như thường lệ, Teresa trở về Pecco to Strambino để thăm cha mẹ: Lúc này, gia đình chị chỉ còn hai hoặc ba người, vì những người khác, ít nhất là các anh chị lớn tuổi hơn đã đi theo con đường riêng của mỗi người.

          Trong suốt chuyến viếng thăm này chị Teresa không để cập gì về kế hoạch chị sắp thực hiện. Và khi đã đến giờ lên đường, chị gái Rosa tiễn Teresa một đoạn đường dài cho đến tận ngã rẽ về phía Strambino. Trong khi quay trở về, được một lúc, có lẽ do một trực giác nào đó trong tiềm thức, chị quay đầu lại và nhìn thấy Teresa vẫn còn đứng yên ở đó nhìn theo chị. Một “câu hỏi tại sao?” nảy sinh khiến chị bồn chồn không yên. Chị nói điều đó với mẹ, và người mẹ đã trả lời: “Có lẽ Teresa không còn trở về nữa đâu; em nó sẽ ra đi để trở thành một nữ tu thật rồi!”. 94

          Ngược lại, người đầu tiên hiểu “tâm hồn trong sáng và đầy nhiệt huyết này” chính là chị gái Lucia. Chị đã cùng đồng hành với Teresa đến ga xe lửa ngày 08.11.1876, khi sự chọn lựa của em gái trở nên dứt khoát. Chỉ còn thiếu một năm và sáu ngày nữa là đến chuyến khởi hành của Teresa đến Tân Thế giới.

          Trong lúc ấy tại Torino, Teresa đã tâm sự với anh trai Antonio và anh đã đưa Teresa đến Valdocco, trong ngôi nhà vừa mới mở cách đây vài tháng trước. Tại cổng chính, Teresa đã nói với anh mình: “Đây là nhà của em, và em sẽ không bao giờ ra khỏi đây nữa”.

          Một tháng sau, thỉnh sinh Teresa Gedda có mặt ở Mornese.

Tiếp sau đó chị được gửi đến Alassio trong thời gian ngắn. Ngày 03.09.1877, tại Torino, trong đền thờ Đức Maria Phù Hộ, chị đã dâng hiến chính mình cho Thiên Chúa với lời khấn dòng. Trong ngày đó, giọt nước mắt của vết thương sâu thẳm trong lòng chị đã lặng lẽ biến mất khỏi khóe mắt: Mẹ của chị đã ở đó, cùng chia sẻ niềm hạnh phúc với chị và bà đã ôm chị vào lòng. Cuối cùng thì mẹ cũng vượt qua được tất cả mọi trái ý và chống đối của mình. Bà đã nhìn thấy, chạm đến bằng đôi tay và trái tim của bà được luồng ánh sáng mới mẻ bao bọc.

          Các nữ tu bà nhìn thấy trong giây phút ấy thật khác so với những nữ tu mà trong quá khứ bà đã từng tưởng tượng. Trước hết, họ rất vui tươi và không sợ hãi biểu lộ điều đó. Họ đơn sơ, sống như mọi người trong tất cả mọi ngày. Những khổ chế của họ ẩn sâu bên trong con tim đã được hiến dâng với sàng như một chiếc khăn mùi xoa trong tay đưa lên vẫy chào cuộc sống. Và đối với người mẹ, điều này là mạc khải được xem như một ân huệ của Thiên Chúa.

          Dẫu cho bà không hề diễn tả cách rõ ràng, nhưng chắc chắn bà đã chúc lành cho con gái mình khi biết rằng chị sẽ khởi hành đi truyền giáo.

          Sr. Teresa viết cho mẹ một lá thư đầy trìu mến và nồng nàn tinh thần tông đồ. Chị viết: “Sau khi thử thách con - sự gian truân trước khi con bước chân vào đời sống t Thiên Chúa đã ban cho con những niềm an ủi lớn lao và tốt lành mà ngôn ngữ con người không thể diễn tả được... Con chẳng tìm thấy điều gì khác ngoài niềm hạnh phúc. Tuy vậy, mọi ước mơ của con vẫn còn chưa được thành sự đâu. Vẫn còn một mong mỏi liên lý trong con. Ôi Lạy Chúa! Đấng vô cùng tốt lành, bây giờ, Ngài muốn làm cho con hài lòng ngay cả trong điều này. Mẹ hãy tưởng tượng xem đó là điều gì thế? Đó là đi đến Châu Mỹ sau một thời gian ngắn nữa thôi... Ngày được chọn để khởi hành là ngày 14.11 sắp tới. Lòng con chan chứa niềm vui mà con không biết phải diễn tả với thế nào...”.95

---o0o---

          Như thế, sau chuyến đi lịch sử vượt Đại Tây Dương, sáu vị truyền giáo FMA đầu tiên đã đặt chân đến Uruguay, tại Montevideo.

          Sr. Teresa Gedda đến Montevideo trong một hoàn cảnh hoàn toàn trái ngược với mong ước, bởi suốt sáu tiếng đi trên biển để đến đảo Flores, do việc cách ly khỏi bệnh dịch, chị đã bị cảm nặng nghiêm trọng.

          Các nhà truyền giáo ngồi trên một chiếc xà lan không có mái che, dưới ánh nắng mặt trời từ 11 giờ đến 17 giờ, chị phải chiến đấu với tất cả sức mạnh của mình.

          Trong một hồi ký được các nhà sử gia thuật lại, tuy không trích dẫn nguồn tài liệu, đã cho biết Sr. Giovanna Borgna nói như sau: “Chúng tôi phải “thưởng thức” thứ ánh nắng như thiêu đốt ấy. Tuy vậy chẳng có ai gặp vấn đề gì về điều đó, ngoại trừ sr. Gedda. Chị cảm thấy đau đầu như búa bổ và đến một lúc, chị làm cho chúng tôi lo sợ rằng chị sẽ nổi điên, mãi đến khi thời gian kiểm dịch kết thúc chúng tôi mới có thể chăm sóc cho chị được”.96

          Trong một lá thư đề ngày 15.07.1878 do cha Luigi Lasagna viết cho cha Giovanni Cagliero, chúng ta đọc được những lời này: “Sr. Gedda luôn luôn hoảng hốt và bối rối. Nhiều lần, chị muốn chạy trốn, những lần khác, chị khóc vì lo sợ rằng chúng tôi sẽ gửi chị về”.97

          Chị khỏi bệnh, nhưng cơn đau đầu trở thành bạn đồng hành thường xuyên của chị, và chị không thiếu những thời điểm lo lắng bồn chồn. Sr. Teresa là một trong những thành viên đầu tiên của ngôi nhà nhỏ tại Villa Colon. Chị đã chứng kiến ngôi nhà được mở rộng và trổ sinh hoa trái trong các viên đầu tiên của ngôi nhà nhỏ tại Villa Colón. Chị đã chứng khó khăn và hy vọng nhiều hơn các chị em khác, bởi chị ở đó công cuộc dành cho giới trẻ. Chị cũng sống cùng với những thời gian dài, kể từ ngày 03.02.1878 cho đến đầu năm 1892 khi một bài sai mới dẫn đưa chị tiếp tục sứ mệnh của mình tại thành phố Las Piedras. Năm 1883, sau sáu năm khởi hành từ nước Ý, chị khấn trọn đời theo luật định dù lời khấn dòng đã ăn sâu trong cõi lòng chị ngay từ những khoảnh khắc đầu tiên.98

---o0o---

          Khoảng thời gian đầu sống tại Villa Colón là giai đoạn hết sức khó khăn với sr. Teresa. Sức khỏe của chị chịu ảnh hưởng nặng nề do cơn cảm nắng. Thỉnh sinh Laura Rodríguez nổi rằng em thường xuyên nhìn thấy chị khóc, nhưng không bao giờ sao lãng sự bền tâm dâng hiến với niềm vui và hân hoan.

          Những giới hạn của đời sống cộng đoàn, cơn gió hung tợn muốn quật ngã ngôi nhà yếu ớt, cả điều kiện thể lý không cho phép chị ra đi hầu giúp đỡ hay để loan báo Tin Mừng. phục vụ những người nghèo bần cùng đang sinh sống trên mảnh đất mà chị đã liều mạng vượt đại dương đến, đều là nguyên nhân đau khổ đối với chị.

          Tuy nhiên, trong một lá thư viết cho mẹ, chị diễn tả như sau: “Con luôn hài lòng, mỗi ngày một hơn vì được đến ở trong ngôi nhà thánh thiện này, hơn nữa, vì con được sống tại một vùng được gọi là Tân thế giới này”.99 Chị đã hài lòng, rất hài lòng, bởi vì chị sống sứ mệnh truyền giáo trong chính hiện hữu của mình: Trao ban chính bản thân nhiều hơn và trao ban trước khi bắt tay vào hành động.

          Nhưng rồi chị đã hành động. Mọi việc âm thầm đều là của chị. Hơn cả một người phụ nữ quán xuyến mọi sự, chị còn là bà giáo của thỉnh sinh và tập sinh trong một thời gian khá dài, trong suốt thời gian dài sr. Teresina Mazzarello là người có trách nhiệm chính thức việc đào luyện trở về Ý. Sr. Teresa còn giữ vai trò y tá và quản lý. Chị lau khô dòng nước mắt và xoa dịu những vết thương sâu về thể lý lẫn luân lý.

          Rất nhiều nhân chứng đã nhấn mạnh đến tinh thần hy sinh mang nét vui tươi và không giới hạn của chị. Sr. Giuseppina Pacotto, trong số các chị em khác, nói rằng mọi người hầu như không thể hiểu được “Sr. Gedda làm thế nào để chu toàn được nhiều bổn phận và công tác như thế; chị luôn kiên nhẫn chu đáo và sẵn sàng”. Sử gia đầu tiên của chị là Antonio Minellono nhớ lại rằng Sr. Teresa đã nội tâm hóa những lời nói của thánh nữ Teresa Avila và coi như một chương trình đời sống cá nhân: “Tôi không muốn phục vụ Thiên Chúa như một người đầy tớ tồi tệ, được trả lương thấp”100. Chị muốn phục vụ Ngài như một hiền thê hạnh phúc, đầy tế nhị và với tình yêu tiên liệu.

          Một lá thư của Mẹ Mazzarello gửi cho chị như một tiếng vang với nội dung như sau: “Gedda mến, con sao rồi? Mẹ hy vọng rằng con vẫn khỏe mạnh, để làm việc và để nên thánh. Con hãy làm cho mọi chị em vui tươi và hãy cầu nguyện cho Mẹ”101. Trong những thời điểm ban đầu này, nước mắt của sr. Teresa luôn chảy trên má vì cái chết của nhiều người rất thân thương với chị: ở Ý, cha xứ đã giúp chị thấy rõ ơn gọi tu trì của mình, em trai Domenico đang chuẩn bị trở thành linh mục; và ở đó, tại Villa Colón, tháng 09.1880, nữ tu truyền giáo Virginia Magone vừa mới đến Châu Mỹ được một năm đã qua đời trong tay của chị, và ngày 13.12.1881, đến lượt sr. Angela Denegri 21 tuổi, một trong sáu chị em đã khai mở luống cày dẫn đến việc gieo trồng ơn gọi truyền giáo adgentes cho các FMA.

          Tuy nhiên, trước cái chết này, còn có một “cuộc sinh ra cho Sự Sống” lớn lao hơn: đó là cái chết của mẹ Mazzarello.

          Và cái chết của người mẹ thân yêu xảy ra vào năm 1893, vào đúng đêm vọng Giáng Sinh, sau ba năm bị bệnh nghiêm trọng. Bà bị ngã, sau đó phải ngồi yên bất động trên một chiếc ghế đẩy, luôn cầm tràng hạt trên tay và dường như đôi mắt luôn hướng ánh nhìn về cõi đời đời. Sr. Teresa đã viết cho mẹ những lời lẽ vô cùng đơn sơ.

---o0o---

          Năm 1891, sr. Teresa mặc dù vẫn còn ở lại Villa Colón nhưng chị vẫn qua lại với cộng đoàn mới như một phụ trách. Cộng đoàn này đang thành lập hầu đảm nhận khối lượng lớn công việc nội trợ tại “Lưu xá Pio” (nối với một ngôi đền thờ mới được cung hiến cho Đức Maria Phù Hộ), nơi dành cho các thiếu niên trong vùng dưới sự coi sóc của các anh em Salêdiêng. Đối với Sr. Teresa, đây là một cánh đồng thực sự làm gia tăng những hy sinh vốn đã không ít, và có lẽ sau này khi nhìn lại cách kỹ càng, chẳng ai đã có thể nghĩ mình lại có thể làm được như thế. Một năm sau, Sr. Teresa chuyển đến Las Piedras.

          Chị nhận một bài sai thực sự mang tính thách đố và không bình thường. Chị phải giúp cho chị bề trên cộng đoàn trong việc đào luyện bản thân mình để trở nên một bề trên.

Điều này có nghĩa là gì? Bề trên cộng đoàn là st. Rosa Kiste là người có năng lực nhưng lại chưa có kinh nghiệm Chị là một nữ tu trẻ vừa mới kết thúc thời kỳ tập viện. Chị rất giỏi nhưng có một chút vội vàng, hấp tấp. Do đó Sr. Teresa là phó nhà cần phải đồng hành cùng chị bề trên trẻ để làm cho chị có thể nhìn thấy rõ ràng đường đi nước bước, những viên đá vấp hay những thương tích của cá tính cùng tất cả những thứ còn lại.

          Nhưng vì lý do nào mà người ta lại trao trách nhiệm trực tiếp cho chị Teresa?

          Có những lý do có giá trị hơn, nhưng hơn hết là bởi những lý do ngoại tại. Do ở Las Piedra không thiếu người rơi vào tâm trạng chán nản phiền não vì gặp phải những khó khăn trong đời thánh hiến. Bên cạnh đó cũng có vấn đề về bằng cấp học vị, thứ mà ngay cả Sr. Teresa cũng thực sự không có!

          Tuy là thế, nhưng có lẽ chính Sr. Teresa không hề đặt vẫn để về tất cả những câu hỏi “tại sao” ấy. Khi đức vâng phục đòi hỏi thì hẳn nó đã mang dấu ấn của thánh ý Thiên Chúa. Và thế là quá đủ.

          Tuy nhiên, chúng ta được biết qua Sr. Laura Rogriguez rằng ở đó, sr. Teresa “phải gánh chịu những thử thách và chống đối mạnh mẽ, và chị đã vượt qua tất cả bằng nhân đức”.

          Tại Villa Colón, ai nấy đều tiếc nuối chị. Và không chỉ riêng các sr thôi đâu! Sr. Laura Rogríguez còn nói tiếp rằng giữa mọi người, Sr. Teresa có tầm ảnh hưởng lớn trên môi trường bên ngoài hơn tất cả: Bởi sự đơn sơ, đáng mến, bởi nội tâm sâu xa đã tỏa chiếu qua tất cả mọi cách thức hiện hữu và thể hiện của chị.

          Sr. Teodora Castañeda nói: “Năm 1885, cộng đoàn chúng tôi có ba chị em; từ giây phút đầu tiên khi chúng tôi nói chuyện với chị ấy, chúng tôi đã nghĩ rằng mình đang nói chuyện với một vị thánh. Chúng tôi rất thích cách cư xử đầy khiêm tốn, tế nhị và trìu mến của chị đến nỗi chúng tôi bắt đầu gọi chị là “chị nữ tu tốt lành”, và giữa chúng tôi, chị đã luôn luôn mang tên gọi ấy”.

          Mọi người thấy chị làm việc gấp bốn lần người khác: Thức dậy ban đêm để an ủi bệnh nhân, ngay cả trong mùa đông giá rét. Chị thắp lên một cái đèn dầu và đi đến nhà bếp với đôi chân đau nhức cần chữa trị, rồi chị mang theo một ly nước nóng đến cho họ. Tất cả những ai được chị chăm sóc đều nghĩ rằng mình là người được chị ưu ái hơn cả.

          Chúng ta còn chưa nói đến những người trẻ là thỉnh sinh hoặc tập sinh nhận được sự hướng dẫn khôn ngoan của chị. “Sr. Teresa là người nữ tu đầu tiên mà tôi biết đến – một em chia sẻ - Tôi sẽ không bao giờ quên được chị. Với sự dịu dàng, chị làm cho những ngày đau khổ khủng khiếp vì phải xa cách gia đình của tôi trở nên ngọt ngào. Chị thật là một mẫu gương của tất cả mọi nhân đức tu sĩ; tuy vậy, tôi ngưỡng mộ trên hết là đức bác ái của chị”.

          Và một em khác nhớ lại: “Đối với em, chị là một người mẹ, một bà giáo và người cố vấn thực thụ. Chị lúc nào cũng bề bộn công việc, rất nhiều công tác trong nhà, nhưng chỉ đong đầy tất cả bằng sự thinh lặng và sẵn sàng [...] với cùng một tinh thần nhẫn nại, khiêm tốn, nhân ái không thể sánh bị Chị không bao giờ bỏ qua khi nhìn thấy một dòng lệ, nhưng luôn tìm cách để giúp họ lau khô nó”.

          Và còn nữa, còn nhiều nữa. “Sr. Teresa là hiện thân của sự dịu dàng”; “Chúng tôi gọi chị là “chim bồ câu nhỏ”, bởi vì chị đi như bay để chu toàn được nhiều công việc như thế “Chị trở nên tất cả cho mọi người, nhưng chị lại không đòi người khác phải làm như thế với mình...”.

          Và Sr. Emilia Borgna là chị gái của Sr. Giovanna đã đến Châu Mỹ sau Sr. Teresa hai năm. Chị nói: “Tôi tự hỏi tại sao khi tôi còn là bề trên ở Villa Colón lại có đôi lần khiển trách Sr. Teresa Gedda công khai nhỉ? Có lẽ điều này đã xảy ra với mục đích nêu gương cho các chị em trẻ hơn bài học của đức khiêm nhường, bởi thực sự tôi không thể nhớ ra được người chị em rất thân mến này đã làm gì để bị trách cứ. Chị luôn nếu gương sáng trong tất cả mọi sự”.102

          Đầu năm 1894, công đoàn ở Las Piedras đã bắt đầu một tiến trình có nhiều hứa hẹn về một tương lai tốt đẹp, thì tại nhà “Escuela Taller” ở Montevideo, nhà này đã được mở ba năm trước, người ta cần đến Sr. Teresa. Và chị đã đến đó.

          Nơi này có khu riêng biệt dành để cưu mang các thiếu nữ gặp nguy hiểm bởi sự nghèo đói và bị bỏ rơi. Sr. Teresa đảm nhận nhiệm vụ coi sóc và nuôi dưỡng các em. Với con số không dưới 100 em, các thiếu nữ đã không để chị có một giây phút nào mà thở, nhất là sau khi chị được đề cử làm quản lý.

          Ngay cả ở nơi đây, ngày càng gia tăng những nhân chứng về khả năng tự hiến nổi bật của chị.

          Căn bệnh thấp khớp chân vô cùng phiền toái đã góp phần thêm vào những chứng bệnh đã có của chị, thế mà chị lại luôn phải đi bộ.

          Sr. Joaquina Vélez và Sr. Isabel Baena còn nói đến những cơn ngất xỉu và cơn đau đầu ngày càng nặng nề hơn. Nhưng chị Teresa không đầu hàng mà chỉ nghĩ đến Thiên đàng. Chị nhắc đến điều ấy, như một hơi thở, trong nhiều lá thư chị viết cho những người thân của mình.

          Sau đó, chị cũng đã được gặp lại mọi anh chị em, các cháu chắt... những người rất thương mến chị, dẫu cho một người chị gái đã cố gắng thuyết phục bà mẹ rằng chị Teresa không có phần trong gia tài của gia đình bởi vì chị đã ra đi rất xa...

          Tại sao chị gặp lại tất cả gia đình như thế?

          Người ta có thể nói rằng chị đã có một kỳ nghỉ như một phần thưởng hay không?

          Có lẽ không phải thế, bởi vì trong đời sống thánh hiến. không bao giờ có sự đổi chác, chỉ có một lời “vâng, con đi của đức vâng phục mà thôi.

          Thế là năm 1900, chị nhận đức vâng phục. Một bài sai được soi sáng từ các bề trên gửi Sr. Teresa đến nước Ý. Chị về Ý với nhiệm vụ đồng hành trong chuyến đi với một chị em, Sr. Maria Catelli, người phải trở về Ý bởi những lý do cấp bách và không thể trì hoãn.

          Sử gia Minellono bị cám dỗ diễn tả những cảm xúc của Sr. Teresa khi chị gặp lại những người thân yêu, khi lần đầu tiên nhìn thấy các cháu, khi bước đi trên những nẻo đường làng, nhưng có lẽ chị đã bay lượn trên đó. Những cảm xúc là điều thật thâm sâu và thánh thiêng đến nỗi chỉ có ai đã sống thì mới kinh nghiệm được, và khi những cảm xúc dâng cao mãnh liệt thì người ta không thể diễn tả ra bên ngoài.

          Và một việc thật bất ngờ xảy đến. Một ít ngày sau khi chị về Ý, các bề trên lại xin chị lên đường, nhưng lần này chị sẽ không trở về Uruguay, nơi chị đã phục vụ hơn 20 năm, mà đến một nơi khác hoàn toàn xa lạ. Chị được phái đến Mexico.

Tin này đã đến Montevideo tựa như một cú sấm sét giáng xuống. Bề trên của Escuela Taller đã phản kháng (rất tế nhị nhưng cũng đầy quyết liệt) và kêu xin, nhiều nữ tu cũng hậu thuẫn với chị. “Thật thế, thưa Mẹ Bề trên Tổng quyền, Mẹ muốn lấy đi người chị em tốt lành nhất của đất nước Cộng hòa kém may mắn này sao? ... [Sr. Teresa] là người chị em đã luôn làm cho tất cả chúng con thêm can đảm” 103

          Còn chị Teresa đã làm gì? Chị đi Torino để chào Don Rua, và chị lắng nghe những lời của Don Rua nói với chị:”Ô, Sr. Teresa! Con có biết rằng Đức Maria gửi con đến đó không? Chúng ta đã không biết làm thế nào để tìm được một bề trên cho nhà mới mở tại Mexico, và con đến đó để tháo gỡ sự lộn xộn ấy. Thế đó... chúng ta có thể nhanh chóng khởi hành đến đó, đúng không?”.

          Sr. Teresa hôn tay của ngài và nói: “Con luôn là một người con của đức vâng phục”.

          Tất cả mọi nhân chứng đều xác quyết rằng đây thực là một bài sai “đầy đau khổ” và trong thời điểm đó, chắc chắn rằng một vết dao đã xuyên qua lòng chị. Chị phải đi đến một nơi hoàn toàn xa lạ. Các nữ tu cùng khởi hành với chị đã nghe chị lặp đi lặp lại nhiều lần lời kêu nài thống thiết, với những giọt nước mắt giàn giụa trong những đêm không ngủ rằng: “Lạy Chúa Giê-su của con! Lạy Chúa Giê-su của con!”.

          Trong thời gian đó, đám mây đen của cuộc bách hại tín hữu đang xảy ra tại Mexico. Tuy thế, người ta vẫn bàn đến việc mở một nhà mới ở Morelia.

          Cùng khởi hành với chị có sr. Francesca Lang, sr. Caterina Mainardi và sr. Teresa Ferraris.104

          Chuyến hành trình dài đăng đẳng, với một trạm dừng chân tại Bercellona trong một tuần. Cuối cùng, mọi người cũng đến được bến cảng Vera Cruz, Mexico, họ còn phải trải qua 15 tiếng đồng hồ trên chuyến xe lửa đáng sợ.

          Ngày 09.01.1901, cả đoàn đến Morelia và bắt đầu công việc tại “Collegio San Vicenzo de’ Paoli” với ba thiếu nữ đầu tiên, những người Ochoa tên là Delfina, Giacoma và Mercedes.105

          Ngày 29 trong tháng ấy, theo một lá thư mà Sr. Teresa gửi cho Mẹ Cả Caterina Daghero, số học sinh nội trú là 12, trong khi đó các em ngoại trú tăng lên hơn 400 em. “Ở đây có 8 giáo viên, và tất cả thuộc về Hội “Con Đức Mẹ Vô Nhiễm”.

          Sr. Teresa tiếp tục: “Cho đến bây giờ, chúng con chỉ bận tâm về các thiếu nữ mà thôi, chúng con chỉ đi thăm các em vài lần trong suốt tuần. Vào Chúa nhật, chúng con có Nguyện xá vào buổi sáng và chiều. Nhìn chung, tất cả chỉ cần biết chúng con là con cái của Don Bosco mà thôi, họ khen ngợi chúng con đến nỗi làm cho chúng con phải đỏ mặt tía tai...”. 106

---o0o---

          Trong cuốn sách nhỏ này chúng tôi không thể kể lại nhiều chứng từ khác được kể lại bởi sử gia Antonio Minellono trong mười sáu trang cuốn tài liệu gốc về “trái tim mẫu tử” mà s Teresa đã sống trong việc phục vụ quyền bính đối với tất cả chị em và với mỗi người được trao phó cho chị.

          Chị Teresa đã chẳng có những nghiên cứu đào sâu về xã hội học hay sư phạm, tuy thế, chị đã đồng hóa Tin Mừng tình yêu của Chúa Giê-su trong xương thịt và máu huyết của mình.

          Yêu thương thì kính trọng, tham gia, tiên liệu, khiêm nhường kín đáo và biết bao viên ngọc cuộc sống quí giá khác đưa dẫn đến “sự phục vụ” mọi người cách chân thành, không hề cảm thấy chút dấu vết nào của cấp bậc trên dưới, không có sự riêng tư thận trọng; vâng, giống như một người mẹ đối xử với con của mình: Ngay cả khi người con đã trưởng thành, hay khi người con được kêu gọi để thực hiện một nhiệm vụ đặc biệt, và ngay cả khi người con phải tìm gặp vinh trên cây thánh giá gỗ.

          Sr. Teresa phục vụ với trọn cõi lòng, với ngôn từ dịu dàng và không bao giờ “sáo ngữ”. Chị phục vụ bằng đôi tay của mình, chị làm tất cả mọi việc trong nhà, ủi an hay nâng đỡ và phục vụ từng người tùy theo độ tuổi và điều kiện rất riêng của họ. Những người mà chị ưu ái nhất luôn là các bệnh nhân và chị tiếp tục là y tá của họ.

          Từ những lá thư mà người nữ tỳ bé nhỏ này của Thiên Chúa viết cho Bề Trên Tổng Quyền trong thời gian ấy, chúng ta có thể rút ra một suy tư: “Như con vẫn nói với Mẹ rằng con cảm thấy hài lòng mỗi ngày một hơn về mọi nơi mà con hiện diện, bởi vì con rất xác tín rằng ý muốn riêng tư của con không hề can hệ gì, và như thế, con có thể gìn giữ được niềm hy vọng vững bền là thánh ý của Thiên Chúa tốt lành [...] Tuy nhiên, con không muốn giấu diếm Mẹ một điều rằng một vài lần, con đã đau khổ chút ít vì con cảm thấy thiếu khả năng để làm vài điều gì đó hữu ích”.107

          Năm 1905. Hội dòng mừng Tổng Tu Nghị lần thứ V và Sr. Teresa Gedda trở về Ý. Chị đã được bầu chọn làm đại biểu của tỉnh dòng Mexico. Ngày 06.06.1905, chị lên đường trở về cùng với Kinh lý viên/ Giám tỉnh, Sr. Ottavia Bussolino.

          Tổng Tu Nghị diễn ra từ ngày 08-20.09. Sr. Teresa đã ở lại cho đến tháng 11.

          Chị trở về thăm cha mẹ ở Pecco với thời gian nghỉ ngơi dài hơn. Một người họ hàng nói rằng chị đã đổ đầy ánh sáng vào ngôi nhà.

          Chị ở lại Torino vài ngày với chị gái Lucia và sau đó về lại Nizza. Ngay cả tại đó, trong nhà Mẹ Cả, chị cũng để lại dấu ấn do bởi lòng tốt của mình.

          Sr. Nazzarina Galli kể lại, một tháng lênh đênh trên biển để trở về Châu Mỹ, trên làn hơi nước của vùng Monserrat thật là vất vả cho Sr. Teresa, bởi chị có một người bạn đồng hành ngồi trên buồng lái vốn bị suy sụp về sức khỏe và thực sự có những đòi hỏi thất thường vào cả ngày lẫn đêm. Người ta không biết nhiều về con người này 108; tuy thế, người ta biết rằng Sr. Teresa luôn luôn dễ mến và sẵn sàng, không chỉ với người ấy mà cả với những hành khách khác mà chị là y tá của họ trong những thời điểm tồi tệ của chuyến hải trình.

          Mọi người lên tàu ngày 21.11 và cập bến ngày 22.12.

Năm sau đó đong đầy thách đố. Những công trình xây dựng mới được khởi công nhưng lại thiếu tiền. Có những thành viên trong chính quyền luôn muốn giẫm chân lên công việc... Cho đến một lúc, có lẽ do thiếu sót một vài giấy tờ hành chính, họ đã xung công ngôi nhà ấy. Và rồi các chị em phải bỏ đợt tĩnh tâm năm của các học sinh do không xin phép thời gian tiến hành một cách rõ ràng chính xác.

          Trong hoàn cảnh đó, Sr. Teresa luôn thắng cuộc nhờ bởi lòng tốt của mình. Đến khi khánh thành nhà, Sr Giám tỉnh Antonietta Ivaldi muốn dành cho chị một lời khen chân thành, nhưng... chị đã nhìn thấy Sr. Teresa “biến mất hoàn toàn trước mắt mọi người, để cho những người khác xuất hiện và đáp lời”.109

          Trong mọi sự, Sr. Teresa nhắm thẳng vào tình yêu Thiên Chúa. Mọi người thường nghe thấy chị nói và thấy chị viết trong các lá thư rằng: “Chúa Giê-su tốt lành yêu mến tôi nhiều lắm”. Không phải là một nhưng cả hai nữ tu nói rằng đã nghe thấy, có lẽ từ chính vị linh mục hoặc một người khác, rằng thỉnh thoảng, Bánh Thánh được truyền phép đã chạy trốn khỏi tay của ngài “cách vội vã”, hầu như rất sốt ruột, để đến kết hợp “với một nữ tu của cộng đoàn đó”. Với họ, người nữ tu được nói đến trong chuyện này không thể là một ai khác ngoài sr. Teresa. Ai mà lại không biết điều đó?110

          Tình yêu Thiên Chúa dành cho chị không còn là tình yêu của chị dành cho Thiên Chúa nữa. Điều này đáng để chúng ta suy nghĩ. Sr. Teresa thưởng nếm sự khao khát yêu mến Thiên Chúa, nhưng liệu chị có thể làm được điều đó không? Tuy nhiên, chị biết rằng chị hiện diện trong cuộc sống để đón nhận một tình yêu tuyệt đối nhưng không: một tình yêu vượt lên trên mọi sự.

          Các sử gia nói về điều này căn cứ vào những chứng nhân khách quan.

---o0o---

          Sau đó, vào năm 1906, chị đã kết thúc nhiệm kỳ phục vụ, cũng bởi chị đã hoàn tất sáu năm trong trách nhiệm bề trên.

          Tháng 12, chị tham dự khóa Tĩnh tâm năm và tại đó, chị nhận bài sai mới. Chị sẽ phải đi đến Puebla trong trách nhiệm bề trên, tại một cộng đoàn có năm chị em, nhưng với một cánh đồng làm việc vô cùng rộng lớn. Đó là việc chân tay, may vá, giặt ủi phục vụ cho ngôi trường do các anh em Sa-lê- diêng quản lý.

          So với Morelia, Puebla nằm ở phía đông nam ở độ cao hơn 2000m. Người ta đến đó bằng xe lửa. Nơi đây đã từng và hiện là một thành phố xinh đẹp.

          Nhưng ngôi nhà của các sơ lại nhỏ bé, không có nhà nguyện để cầu nguyện. Sr. Teresa ở đó sáu năm, với cường độ quen thuộc của đời sống thiêng liêng, cộng đoàn và làm việc. Không có các thiếu nữ, nhưng lại có Thánh ý Thiên Chúa để tôn thờ.

          Ngay cả trong giai đoạn này của cuộc đời sr Teresa, sử gia Antonio Minellono tặng cho chúng ta rất nhiều trang viết của các chứng nhân và một chuỗi những lá thư mà chị viết cho Bề Trên Tổng Quyền là Mẹ Catarine Daghero. Nguồn tài liệu quí giá này không nhằm mục đích nào khác hơn là nhấn mạnh thêm một lần nữa tất cả sự cởi mở mang tính mục vụ tông đồ của nhà truyền giáo vĩ đại này.

          Một trong những chứng từ ấy đến từ tiếng nói của cha Bề Trên Cả, Don Paolo Albera, sau khi sr. Teresa qua đời: “Cha tin rằng chưa từng có một nữ tu Con Đức Mẹ Phù Hộ quí mến các Salêdiêng và quan tâm đến họ, đến các nhu cầu của họ với biết bao nỗ lực, sự tốt lành, vô vị lợi... nhiều hơn sr. Teresa Gedda".111

          Khi kết thúc nhiệm kỳ, sr. Teresa được gửi tới Thành phố Mexico và cộng đoàn của chị cũng không gặt hái được nhiều thành công.

          Và đã xảy ra một điều vô cùng đơn sơ; Các Salêdiêng của Puebla cần lấy lại ngôi nhà nhỏ của các nữ tu để dành cho các tập sinh. Họ sẽ không từ bỏ sự hỗ trợ quí giá của các FMA hết sức trung thành đã dành cho lưu xá của họ, nhưng họ sẽ đón nhận sự giúp đỡ của các chị trong một phương cách mới. Nghĩa là các sơ sẽ đến cư ngụ trong “nhà Mẹ Phù Hộ” của họ và các chị sẽ tiếp tục công việc tại lưu xá bằng cách đi đi về về liên tục trong sự gần gũi giữa hai Hội dòng,

          Sr. Teresa không liên quan đến sự việc này... nhưng chị ở đó, trong nhà chính của Tỉnh dòng, với những công việc mà chị đã làm trong quá khứ: Coi sóc các tấm drap trải giường, nhà giặt và các đồ đạc khác của lưu xá Sa-lê-diêng gần đó.

          Một năm trôi qua và sau đó điều bất ngờ khác lại xảy ra.

          Mẹ phó tổng quyền Enrichetta Sorbone thăm viếng các chị em sống tại các vùng đất khác nhau của Châu Mỹ. Các chị em xin được mở ngay một điểm hiện diện mới tại Nicaragua, chính xác là tại thành phố Granada. Điều này không thể thực hiện được với những người địa phương, nhưng cần phải tìm một người khác. Và thế là, khi đến Mexico, mẹ Enrichetta thấy rằng sr. Francesca Lang và sr. Teresa Gedda có thể lên đường.

          Sr. Lang còn vẫn còn trẻ, sr. Teresa thì không. Tuy vậy, chị là một nhà truyền giáo.

          Khi mẹ Enrichetta nói điều đó với chị, những giọt nước mắt chảy tràn xuống từ đôi mắt của chị, nhưng câu trả lời của chị là “vâng”.

          Và lại một lần nữa, chị phải thay đổi thế giới của mình.

          Chuyến đi khá dài, trải qua nhiều ngày trên đất liền và trên biển.

          Rồi thì mọi người cũng đến nơi, đầy mệt mỏi nhưng được đợi chờ với rất nhiều thiện cảm.

          Sr. Teresa bắt đầu mọi sự. Chị được giao nhiệm vụ coi công của lưu xá: Đó là một vị trí quan trọng vô cùng, một căn phòng nhỏ điều khiển mọi hoạt động của các công cuộc và các cuộc gặp gỡ với mọi người.

          Hãy lắng nghe sr. Maria Bernardini, hiệu phó của lưu xá, sơ đã quan sát sự hiện diện của sr. Teresa trong cộng đoàn: “Chị xuất hiện ở đó, nơi có hai hoặc ba người đang có những cuộc đối thoại không thích hợp, chị trả lời chậm rãi với những ai nói lớn tiếng trong thời gian qui định phải thinh lặng, chị cầm tay một bé gái bị đuổi ra khỏi lớp và dẫn bé vào với bà giáo để được nhận lại vào lớp học, chị có mặt trong mọi ngõ ngách không phải để giám sát, nhưng chị ở đó cho đến khi hộ trực xuất hiện. Chị dừng lại trước cửa chính của lớp học nơi mà giáo viên đi ra vào thời khắc phù hợp, và chị nói với giáo viên ấy với một sự dễ thương vô cùng rằng bé gái này sẽ rất hạnh phúc để nhận được một công việc nhỏ nào đó... và chị làm mọi sự mà hầu như chẳng nói gì.... 112

          Những điều này cũng có thể gây phiền hà, nhưng sự, Teresa làm tất cả mà không hề đòi hòi điều gì ở bất cứ ai và cũng không có bất cứ một vẻ chê bai hay lên án nào.

          Và cứ thê, một năm, hai năm, ba năm... trôi qua. Sức khỏe của sr. Teresa từ từ giảm sút cho đến khi rơi vào mức cùng cực: một vực thẳm đen kịt ngấu nghiến sự sống con người. Những biến chứng về tim và dạ dày bất ngờ xảy đến. Chị hiểu rằng bức màn sắp sửa khép lại và chị cho phép những chị em khác cũng hiểu ra điều ấy với những cử chỉ nhỏ bé cuối cùng.

          Tuy nhiên, chị biết rằng bên ngoài kia là ánh sáng, và một bình an mới mẻ dần lớn lên trong chị.

          Chị chỉ nằm trên giường vỏn vẹn 14 ngày, với những thử thách mới và đầy bất ngờ. Chị biết rằng chị sẽ không thể tham dự ngày lễ Mẹ Truyền Tin đang đến rất gần. Chị nói: “Tôi sẽ gặp Mẹ Maria trên Thiên đàng”.

          Chị trả lời các câu hỏi mà người này hay người kia đặt ra cho chị và chị tái xác nhận niềm tin tưởng của mình vào sự tốt lành đầy thương xót của Thiên Chúa.

          Chị bắt đầu hấp hối vào đêm ngày 22.05.1917 và chị trút hơi thở cuối cùng chỉ sau ba mươi sáu tiếng đồng hồ chịu đựng sự đau khổ lớn lao, lúc 9g00 ngày 24.05.1917.


Chú thích

92 x. MINELLONE Antonio, Suor Teresa Gedda. Figlia di Maria Ausiliatrice, Alba, Scuola Tip. Editrice 1926; GEDDA Mary, Suor Teresa Gedda. Figlia di Maria Ausiliatrice missionaria, Torino, Societa' Editrice Internazionale 1937; GILLA GREMIGNI Vincenzo, Una missionaria Salesiana. Suor Teresa Gedda FMA, Torino, Libreria Dottrina Cristiana 1958.

93 x. MINELLONO, Suor Teresa Gedda 8.

94 X. GEDDA, Suor Teresa Gedda 16.

95 Trích dẫn trong MINELLONO, Suor Teresa Gedda 31

96 nt 43 và v.v...

97 Lá thu từr Villa Colón, 15.07.1878, trong LASAGNA Luigi, Epistolario. Introduzione, note e testo critico a cura di Antonio Da Silva Ferreira. Volume POCO/C40 (1873-1882), Roma. LAS 1995, 206 (thư 49).

98 Trong Cronaca của Buenos Aires Almagro, người ta đọc thấy: “Vào cuối tuần tĩnh tâm năm, trong giờ Kinh Chiều lễ thánh Phan-xi-cô Sale, với sự tham dự của tất cả các nữ tu từ Almagro, La Boca, S. Isidro, Morón và một vài chị em từ Villa Colón, sr. Teresa Mazzarello và sr. Teresa Gedda đã tuyên khấn trọn đời”.

99 Lá thư, đề ngày 05.10.1878, còn viết rằng: “Chúng con có một nhà nguyện trong cộng đoàn, Chúa Giê-su tốt lành sống cùng chúng con cả ngày lẫn đêm. Cách đây không xa, có một lưu xá của các linh mục, mỗi ngày, một linh mục đến để cử thành Thánh lễ và giảng tĩnh tâm cho chúng con nữa. Mẹ thân yêu, con thật là may mắn quá! [...] Ở đây, chúng con có ít người nhưng lại có rất nhiều việc. Giá mà mẹ được nhìn thấy những người dân nghèo khổ này, thực sự, họ khiến chúng ta phải động lòng trắc ẩn. Thật là đáng thương! Họ không biết gì về tôn giáo. Con chắc chắn rằng nếu mẹ nhìn thấy thì mẹ sẽ chẳng thể làm gì khác hơn là thốt lên rằng chúng ta thực sự may mắn. Chúng ta hãy tạ ơn Chúa thật nhiều, đúng thế, mẹ thân yêu, đúng như thế, chúng ta hãy cảm tạ Ngài mọi ngày vì đã cho chúng ta được sinh ra trong đạo giáo thánh thiện này... Mẹ hãy tạ ơn thay cho cả cho con nữa và hãy cầu xin ăn sủng của Ngài để con có thể làm thật nhiều việc cho Chúa Giê-su tốt lành, để con sẵn sàng trước bất cứ một hi sinh nào vì tình yêu mến Ngài, Ngài là đấng đã đau khổ vì con rất nhiều..”. (Trích trong MINELLONO, Suor Teresa Gedda 49)

100 Trích trong MINELLONO, Suor Teresa Gedda 57.

101 Lettere MM 22, 14.

102 Cho tất cả mọi đối chiếu phía trên, x. MINELLONO, Suor Teresa Gedda 58-67.

103 Thư gửi cho Mẹ Daghero, 22.11.1990, được trích dẫn trong MINELLONO, Suor Teresa Gedda 89.

104 X. GILLA GREMIGNI Vincenzo, Una missionaria Salesiana. Suor Teresa Gedda FMA, Torino, Libreria Dottrina Cristiana 1958, 118. Trong phần lời tựa trích dẫn tiểu sử của A. Minellono.

105 Khi thuật lại một bản báo cáo của sr. Giám tỉnh Ottavia Bussolino, Minellono khẳng định rằng: khi bốn nữ tu FMA đến lưu xá “San Vincenzo”, chị đã đếm được khoảng 400 học sinh ngoại trú thường xuyên đến trường, do khoảng 15 giáo dân quản lý, trong đó có các giáo viên, hộ trực và người giúp việc; tất cả họ khoảng chừng 50 đến 70 tuổi. Những góp ý cho việc tổ chức nội bộ của các chị thường bị giới hạn và đôi khi bị bác bỏ. Các chị không có bất kỳ một sự can thiệp nào vào việc giảng dạy và đào tạo luân lý cho các thiếu nữ, và các chị cũng không hề sở hữu một gang tay đất đai nào để có thể nói rằng: “Chúng tôi đang đứng trên đất của chúng tôi”. Sau sáu năm “điều hành trong sự khiêm tốn và hòa bình” của sr. Teresa, vốn luôn hành động với sự khôn ngoan, tế nhị và lòng tốt, người ta đã “hài lòng nhìn thấy số lượng học sinh tăng lên đến 500 em ngoại trú, 45 em nội trú, một khánh lễ viện đang phát triển mạnh, các nữ tu đảm nhận việc giảng dạy trong các trường tiểu học chính qui, tăng lên đến 14 trường, và một trung tâm đào tạo mà lúc bấy giờ, tất cả đã thuộc sở hữu riêng”. Và những điều này không hềgặp phải một sự oán hận nhỏ nhoi nào từ phía những nhà quản lý trước đó, những người mà thậm chí còn ngưỡng mộ sự tốt lành đầy khôn ngoan của chị bề trên (X. MINELLONO, Suor Teresa Gedda 142-143).

106 Nt. 107.

107 04.09.1902, nt. 129.

108 “Một nữ tu nhỏ tội nghiệp, yếu ớt về sức khỏe và căng thẳng ở mức cao nhất... do sự tử đạo liên lý. Chị này không đồng ý cho sr. Teresa nghỉ ngơi ban ngày lẫn ban đêm... Một sự chán nản gia tăng đến tận cùng (GILLA GREMIGNI, Una missionaria salesiana 147). Chúng ta già thiết rằng đó là sr. Giuseppina Giandoni khấn dòng ngày 24.10.1990, nhưng chị POCO C4 rời bỏ Tu Hội năm 1907 từ Mexico, nơi mà chị đã đến để truyền giáo trong khoảng thời gian hơn một năm.

109 MINELLONO, Suor Teresa Gedda 142.

110 nt. 152.

111 GEDDA, Suor Teresa Gedda 63.

112 MINELLONO, Suor Teresa Gedda 213.


FMA Logo

Địa chỉ: 57 Đường số 4, Khu phố 56, P. Tam Bình, TP. Hồ Chí Minh

Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về email: libraryfmavtn@gmail.com

Liên Kết

Truyền Thông FMA

Copyright Dòng Con Đức Mẹ Phù Hộ © 2026