I. ĐỜI SỐNG TRONG THẦN KHÍ
1. Một nếp sống hay một dấu chỉ?
Suy tư về đời thánh hiến bắt nguồn trong lịch sử của nó với những lý do đa dạng: bảo đảm sự cứu rỗi linh hồn, trốn tránh thế gian, theo gương Chúa Giêsu trong lối sống của Ngài, tìm sự hoàn thiện Kitô giáo, hiến mình hoàn toàn cho Nước Trời.
Các văn kiện chuẩn bị cho Thượng Hội Đồng đã nhấn mạnh hai tiêu điểm: đặc sủng và thánh hiến. Điều này được diễn tả trong phát biểu của chủ đề: “Đời thánh hiến, các đặc sủng trong Hội Thánh vì thế giới”. Tu sĩ là những con người “đặc sủng”. Họ có một ơn huệ để phát triển sự sống của Hội Thánh và lo việc phục vụ của Hội Thánh đối với thế giới. Họ không diễn tả điều này qua việc sử dụng quyền bính nhưng qua đời sống chứng tá và qua sự hiến mình tự do của họ.
Và họ có ơn huệ này vì họ được “thánh hiến” bởi một sự hiện diện đặc biệt của Thánh Thần và đời sống của họ diễn ra dưới sự thúc đẩy và sức mạnh của Thánh Thần.
Ý thức về sự hiện diện của Thánh Thần có thể nói là đã bùng nổ trong thời đại cuối này của Hội Thánh. Bằng chứng của sự kiện này là phong trào canh tân trong Thánh Thần, hoặc nhiều nhóm đặc sủng và các sự nhấn mạnh trong hầu như mọi văn kiện của Huấn Quyền Hội Thánh.
Đức Gioan Phaolô II tóm lược và khai triển sự ý thức này trong thông điệp “Dominum et Vivificantem”. Đó là một cái nhìn về lịch sử loài người trên đường tiến tới sự hoàn thành, được thúc đẩy bởi một sức mạnh và một sự soi sáng hoạt động trong lương tâm con người: Chúa Thánh Thần. Có thể nói đây là một sự giải thích “thiêng liêng” về lịch sử, giống như người ta có một sự giải thích “kinh tế”, “tâm lý”, “văn hoá”. Thông điệp tuyên bố điều đó trong số 2: “Bằng cách ấy, Hội Thánh đáp ứng các đòi hỏi thâm sâu mà Hội Thánh cho là đọc được trong thâm tâm con người ngày nay: một sự khám phá mới về Thiên Chúa trong thực tại siêu việt của Thần Khí vô biên. . . nhu cầu thờ phụng Thiên Chúa trong Thần Khí và sự thật, niềm hi vọng tìm thấy nơi Ngài bí mật của tình yêu và sức mạnh của một ‘cuộc tạo thành mới’”.
Các ‘đòi hỏi thâm sâu’ mà bản văn nói tới tương ứng với các điều kiện sống của con người thời nay.
Trước hết về phía con người, và chúng ta thấy điều này nơi giới trẻ, đó là sự tìm kiếm ý nghĩa cho đời sống mình. Nhưng đồng thời con người khó có thể nhận ra Thiên Chúa từ những gì là vật chất, bên ngoài con người. Thiên nhiên đã bị kiến thức khoa học và kỹ thuật làm mất đi tính thánh thiêng. Thiên nhiên cung cấp các tài nguyên để khai thác và các hiện tượng để nghiên cứu, nhưng không khơi dậy được những câu hỏi về thực tại siêu việt. Lịch sử và các truyền thống đã bị tương đối hoá. Các cơ chế xã hội và tôn giáo đã mất uy quyền tuyệt đối. Bầu khí tục hoá không cống hiến các dấu chỉ, lý do và kích thích để gán cho đời sống một ý nghĩa trong viễn tượng là sự hiện diện của Thiên Chúa và định mệnh cuối cùng của chúng ta.
Kinh nghiệm tôn giáo tự thấy mình mất chỗ đứng trong đời sống xã hội. Thế nên con người tìm kiếm những dấu vết của Thiên Chúa trong kinh nghiệm nội tâm của mình, trong những tiếng nói vang lên trong trí khôn và cõi lòng mình. Thiên Chúa ở trong tâm khảm của họ như là tư tưởng, lương tâm, quả tim, thực tại tâm lý và siêu hình. Quả tim con người là nơi kín ẩn của cuộc gặp gỡ cứu độ với Chúa Thánh Thần, với vị Thiên Chúa ẩn mình, và chính nơi đây mà Chúa Thánh Thần trở thành mạch nước vọt ra sự sống đời đời.
Chúng ta ở trong thời đại ưu việt của lương tâm trong các chọn lựa liên quan tới chính đời sống mình. Tự lương tâm phải phát xuất các câu trả lời tương xứng với các thách thức luân lý lớn của thời đại chúng ta: việc xử lý sự sống, sử dụng các phương tiện truyền thông, phân phối của cải công bằng, tôn trọng nhân phẩm mỗi người, tôn trọng thiên nhiên và môi trường.
Nói về linh đạo là nói về đời sống theo Thần Khí và việc phục vụ Thần Khí trong bối cảnh hiện tại. Nghĩa là muốn nói đến ba điều: nhìn nhận và tuyên xưng Thiên Chúa hiện diện trong nhân loại; sống đời sống mình hướng tới đức ái; khẳng định trong lịch sử tính ưu việt của con người và các giá trị con người. Thực vậy, ở đây phát sinh hành động của Thần Khí.
2. Chúa Thánh Thần làm gì?
Chúa Thánh Thần ban cho chúng ta cảm thức về Thiên Chúa. Ngài thiết lập một sự thông truyền huyền nhiệm giữa Thiên Chúa với con người và giữa con người với Thiên Chúa. Tất cả những gì trong thế giới hướng tới Thiên Chúa, tất cả những gì một cách minh nhiên hay mặc nhiên khơi dậy sự hiện diện hay can thiệp của Thiên Chúa, tất cả những gì thúc đẩy con người đi tìm Thiên Chúa, đều có Thần Khí như là một lực kín ẩn.
Thần Khí làm chúng ta nhận thức điều thần linh, cho dù chỉ như là “mầu nhiệm” mà chúng ta không thể cắt nghĩa. Ngài ban cho chúng ta đồng thanh tương ứng với sự hiện diện và hoạt động của Thiên Chúa. Và sâu hơn nữa, ngài làm chúng ta cảm nhận mối tương quan của chúng ta với Thiên Chúa như là những thụ tạo và con cái của Thiên Chúa: “Những ai được Thần Khí hướng dẫn thì là con cái của Thiên Chúa.”
Ai nhận thức thế giới mà không có Thiên Chúa, thì không được Thần Khí hướng dẫn. Ai nhận thức Thiên Chúa mà không có thế giới, người ấy cũng không được Thần Khí hướng dẫn. Còn người được Thần Khí thúc đẩy là người mà khi nhìn ngắm thế giới, thì đồng thời mở lòng thờ phượng Thiên Chúa hay thậm chí chỉ đặt câu hỏi về Thiên Chúa. Cho nên đức tin tuyên bố và xưng nhận rằng Thiên Chúa là Tạo hoá và Cha. Thần Khí là ánh sáng chiếu soi mối tương quan giữa con người, thế giới, và Thiên Chúa.
Nhưng còn hơn thế nữa, Thần Khí được cảm nhận trong lịch sử loài người, trong lịch sử bé nhỏ của một thành phố hay một khu phố, trong lịch sử to lớn của các dân tộc và toàn thể nhân loại. Suy tư này ngày nay thúc đẩy Hội Thánh khám phá ra những “hạt giống của Lời” trong các nền văn hóa, để hiểu được các con đường khác nhau mà các dân tộc đi theo để đạt tới ơn cứu độ.
Điều này được diễn tả rất hay trong một đoạn của “Redemptoris Missio”: “Sự hiện diện và hành động của ngài là phổ quát, không bị giới hạn trong không gian hay thời gian ... Ngài ở chính cội nguồn của câu hỏi hiện sinh và tôn giáo của con người, câu hỏi không chỉ phát sinh từ những hoàn cảnh phụ thuộc, mà phát sinh từ chính cơ cấu hữu thể của con người.” ... Ngài “là nguồn phát sinh các lý tưởng cao quí và các sáng kiến đem lại sự tốt lành cho nhân loại trên đường lữ hành.”
Vì thế cái nhìn của con người thấy được sự hiện diện của Thần Khí trong việc tìm kiếm tôn giáo dù chỉ là mơ hồ, niềm ao ước về nhân phẩm, và các sáng kiến cao quí.
Điều này được thấy rõ trong lịch sử của Dân Riêng, là mô hình lịch sử của mọi dân tộc. Có một lúc Thiên Chúa đích thân tự mặc khải, bằng cách tỏ lộ tên ngài, sự quan hệ của ngài với loài người và kế hoạch của ngài. Sự mặc khải này của một Thiên Chúa cá vị, nhân hậu với loài người, khác với các yếu tố của thế giới, là một sự kiện có hậu quả cao hơn các khám phá kỹ thuật vĩ đại trong sự phát triển của con người. Nó đã tạo ra một bước nhảy vọt về phẩm trong ý thức con người, được giải phóng khỏi sự lệ thuộc các tinh tú và các yếu tố vật chất, đã khắc phục được sự sợ hãi những điều không biết và làm người ta cảm thấy mình được Thiên Chúa bảo vệ. Thần Khí ban cho trí khôn khả năng nhận biết tầm mức và ý nghĩa của các lời nói và các sự việc mà Thiên Chúa dùng để mặc khải Ngài, và khơi dậy sự đáp lại là mối quan hệ của con người với Thiên Chúa mà chúng ta gọi là đức tin.
Với những người có khả năng chấp nhận phép lạ hoá bánh ra nhiều nhưng không hiểu ý nghĩa của phép lạ ấy, Chúa Giêsu nói: “Thần Khí mới làm cho sống, chứ xác thịt chẳng có ích gì. Lời Thầy nói với anh em là Thần Khí và sự sống.” Ai dừng lại ở bình diện vật chất của các sự kiện kịch tính hay kỳ lạ thì không được hướng dẫn bởi Thần Khí; còn ai nhận ra được ý nghĩa của chúng thì được Ngài hướng dẫn.
Trên cơ sở của niềm tin này, Thần Khí khơi dậy một sự khôn ngoan, một hình thức suy nghĩ và sống tạo nên khuôn mặt cho một cộng đồng nhân loại, có khả năng tổ chức mọi đời sống riêng tư và công cộng xung quanh giao ước với Thiên Chúa: đó là dân Israel. Dân Israel kinh nghiệm Thần Khí như nguồn sức mạnh biến đổi từ bên trong con người, và làm họ có khả năng thể hiện các hành vi phi thường để giải phóng dân tộc hay để củng cố dân tộc trong ơn gọi và phẩm giá. Thần Khí tự mặc khải như là linh hứng, quyền năng, nguồn sự sống, sự hiện diện giải phóng khỏi mọi lệ thuộc, hoạt động một cách không thể lường trước được. Sức mạnh của ngài được mô tả bằng hình ảnh của gió, để nói lên nguồn gốc bí nhiệm, của lửa, để nói lên quyền lực không gì có thể chế ngự. Điều nghịch với Thần Khí không phải là vật chất hay thân xác, mà là sự ù lỳ, vô hiệu quả trong lịch sử, sự cằn cỗi, sự chết, sự nô lệ. Chúng ta đọc trong kinh Tin Kính: “Tôi tin Chúa Thánh Thần ... là Chúa và là Đấng ban sự sống.”
Có ba hướng hành động mà Thần Khí tác động như là “sức mạnh” hoạt động:
— hướng thiên sai hoặc cứu rỗi, thúc đẩy một số người thực hiện công cuộc giải phóng; chúng ta có thể nghĩ đến cuộc xuất hành, Ghêđêôn hay Samson, những nhân vật mà người ta gọi là “bị Thần Khí Thiên Chúa bắt chộp”;
— hướng sứ ngôn, của lời soi sáng và giáo hoá: đại diện là các ngôn sứ và các bậc khôn ngoan có vai trò duy trì sống động niềm cậy trông của dân và soi sáng ý nghĩa các sự kiện lịch sử;
— hướng tư tế, cổ võ kinh nghiệm tôn giáo, việc phụng tự, cầu nguyện, phục vụ và thực tại vật chất của đền thờ.
Như vậy, Thần Khí là Đấng mở ra cho chúng ta mối quan hệ với Thiên Chúa, thì cũng là Đấng soi sáng cho chúng ta biết sống thế nào trong thế giới và ban cho chúng ta sức mạnh để thể hiện một kiểu sống.
3. Chúa Giêsu, biến cố của Thần Khí
Nhưng nếu đúng Chúa Thánh Thần là Đấng tác động về mọi phương diện, thì mặt khác cũng đúng là những ai đã nhận biết và nghe lời Đức Kitô thì biết sự hiện diện của Ngài và có khả năng giải thích các dấu chỉ.
Thực vậy, hoạt động của Chúa Thánh Thần đạt tới tột đỉnh nơi con người Đức Giêsu Kitô. Các tác giả Tin Mừng giải thích toàn thể đời sống của Đức Kitô như một biến cố của Thần Khí. Họ trình bày điều này như là “con người thiêng liêng” đối chọi với con người “phải chết hay xác thịt”.
Chúa Thánh Thần can thiệp trực tiếp vào các khả năng sinh sản của Đức Maria để hình thành thân xác và linh hồn Chúa Giêsu vào chính lúc Ngài được thụ thai: “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà.” Vì thế nhân tính của Đức Giêsu được Thánh Thần xây dựng để biến Ngài thành con người thiêng liêng hoàn toàn cởi mở với Thiên Chúa và hoàn toàn phục vụ con người.
Trước khi giáng sinh và để chuẩn bị cho cuộc giáng sinh, Thánh Thần đã ban ơn dồi dào và soi sáng cho các chứng nhân của cuộc Nhập thể. Biến cố này càng bị giấu ẩn đối với thế giới bao nhiêu, Thánh Thần càng mặc khải nhiều bấy nhiêu cho những con người tham dự gần gũi vào biến cố và thúc đẩy họ tuyên xưng biến cố: Êlidabét, Dacaria, Maria, Simêon. Thế nên cho tới ngày nay, việc nhận biết mầu nhiệm nhập thể nơi những con người, những biến cố lịch sử, vẫn còn là hoạt động của Thánh Thần.
Trong Phép rửa, Thánh Thần công bố Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa: “Sau khi Đức Giêsu cũng chịu phép rửa, và khi Người đang cầu nguyện thì trời mở ra, và Thánh Thần ngự xuống trên Người dưới hình thể chim bồ câu, rồi có tiếng từ trời phán ra: Con là Con Ta yêu dấu, Ta hài lòng về Con”1. Như thế Chúa Thánh Thần làm tỏ lộ ý thức thần linh nơi nhân tính của Đức Kitô.
Chính Thánh Thần dẫn Đức Giêsu vào hoang địa, để kinh nghiệm về Thiên Chúa, giao ước, thử thách và đức tin. Nơi đây Ngài chiến thắng các cám dỗ điển hình của con người và của dân Thiên Chúa: cám dỗ của việc theo đuổi các nhu cầu trước mắt và tìm kiếm đời sống độc lập với Thiên Chúa, muốn bắt Thiên Chúa phục vụ mình, tôn thờ hay biến mình thành nô lệ của các ước muốn loài người hay quyền lực trần tục.
Sứ mạng của Ngài bắt đầu dưới sự thúc đẩy của Thánh Thần. Ngài thi hành sứ mạng với sức mạnh của Thánh Thần: “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn ... ”2. Với sức mạnh Thánh Thần, Ngài trừ quỉ3. Nhưng nhất là trong Thánh Thần phát sinh các lời nói và các tình cảm của Ngài : “Đúng lúc ấy, Đức Giêsu tràn đầy hoan lạc trong Thánh Thần, Ngài nói: Lạy Cha là Chúa tể trời đất, con ngợi khen Cha, vì đã giấu kín không cho các bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn”4.
Chúa Thánh Thần là ân huệ của cuộc phục sinh. Các môn đệ sống tất cả cuộc mạo hiểm rao giảng Tin Mừng và thành lập các cộng đồng trong niềm tin chắc chắn vào sự hiện diện của Ngài. Họ thậm chí nhận biết sự hiện diện ấy một cách trực tiếp như là điều chắc chắn, là nguồn sinh lực nội tâm, là khả năng thuyết phục. Ngài đặt họ làm những chứng nhân hiệu quả và người rao giảng can đảm.
Ngài là Thần Khí của Lời. Các môn đệ không còn cần đến sự hiện diện thể chất của Chúa Giêsu nữa. Thánh Thần nhắc họ nhớ lại những điều Chúa Giêsu đã giảng dạy. Tuy nhiên Ngài không phải là Thần Khí của việc nhớ lại từng chữ. Ngài làm cho họ hiểu lời loan báo của Chúa Giêsu dưới hình thức mới trong ánh sáng của các biến cố và các tình huống mới. Ngài giúp họ rút ra từ lời loan báo ấy sự phong phú và ý nghĩa mới. Và Ngài làm như thế là để Tin Mừng không trở thành một bản văn cổ kính hay khảo cổ, mà là một nguồn ánh sáng cho hiện tại. Ngài không chỉ là Thần Khí của việc nhắc nhớ và thấu hiểu một cách mới mẻ, mà Ngài còn là Thần khí của sự sáng tạo. Ngài sẽ dạy các con biết phải nói gì.
Thần Khí của Lời cũng là Thần Khí của sứ mạng. Ngài thúc đẩy các môn đệ đến với thế giới lương dân, và thậm chí Ngài còn đi trước họ. Trong sách Công vụ các Tông đồ, có kể lại sự kiện viên sĩ quan Cornêliô, được nhiều người coi như là “lễ Ngũ tuần của lương dân”. Thánh Thần đi trước Phêrô và đến nhà viên sĩ quan này. Phêrô ngần ngại đến nhà ông ta và ăn uống những thức ăn mà người Do Thái không được ăn. Nhưng sau một thị kiến và nhìn thấy Thánh Thần đổ xuống trên những người nghe bài giảng của mình, ông đã phải qui phục. Để lý giải hành động của mình trước cộng đồng Do Thái, ông nói: “Những người này đã nhận được Thánh Thần cũng như chúng ta, thì ai có thể ngăn cản chúng ta lấy nước làm phép rửa cho họ?”[1] “Vậy nếu Thiên Chúa đã ban cho họ cùng một ân huệ như Người đã ban cho chúng ta, vì chúng ta tin vào Chúa Giêsu Kitô, thì tôi là ai mà dám ngăn cản Thiên Chúa?”[1] Thế là Hội Thánh “thận trọng”, khi để mình ràng buộc với Do Thái giáo và sợ mở ra cho thế giới, đã buộc phải hoàn thành bước quá độ. Ngài cũng là Thần Khí của sự hiệp thông. Ngài gợi ý thiết lập các thừa tác viên mới khi một mình các tông đồ không đủ sức thoả mãn tất cả các nhu cầu của cộng đoàn. Thế là phát sinh các chức phụ tá (diaconi) và trưởng lão (presbyteri). Ngài ban dồi dào các đặc sủng mới cho các cộng đoàn. Ngài thúc đẩy các cộng đoàn ấy biểu lộ các dấu chỉ để phân biệt họ là các môn đệ Chúa Giêsu: cầu nguyện, bẻ bánh, lắng nghe Lời, bác ái huynh đệ, chia sẻ của cải. Ngài ban cho họ quyền năng không chỉ thuộc lãnh vực pháp lý, mà có quyền biến đổi sâu xa để giao hoà con người với Thiên Chúa và với người khác: “Hãy nhận lấy Thánh Thần; các con tha tội cho ai, thì tội người ấy được tha. . .”
Như thế Hội Thánh trở thành không phải một tổ chức tôn giáo như biết bao tôn giáo vốn có trước đó, chỉ để giữ các nghi thức và các lời thánh, mà trở thành sự ý thức về lịch sử cứu độ và một sức mạnh mới được ban cho để biến đổi thế giới nhờ tình yêu.
Ngay cả hôm nay chúng ta vẫn đang chứng kiến sự hiện diện liên tục này. Nó có thể được thấy qua các biến cố hiện tại. Chúng ta đã dừng lại ở quá khứ vì thời đại và kinh nghiệm Tin Mừng là những sự kiện mẫu mực. Chúng ta có thể nghĩ đến Công đồng Vaticanô II, các Thượng Hội Đồng, các phong trào giáo hội, đời tu, sự hiện diện của sự thánh thiện, sự mới mẻ của đức tin.
Ngày nay Lumen Gentium tổng hợp rất hay điều đó bằng các lời này: “Thánh Thần cư ngụ trong Hội Thánh và trong lòng các tín hữu như trong một đền thờ. Ngài dẫn Hội Thánh tới toàn thể sự thật (xem Ga 16,13), hiệp nhất Hội Thánh trong sự hiệp thông và trong thừa tác vụ, dạy dỗ và hướng dẫn Hội Thánh với các ân huệ phẩm trật và đặc sủng đa dạng, trang điểm Hội Thánh bằng những hoa trái của Ngài (xem Ep 4,11-12); 1 Cr 12,4; Gl 5,22). Với sức mạnh Tin Mừng, Ngài làm Hội Thánh nên tươi trẻ, liên tục đổi mới và dẫn dắt Hội Thánh tới sự kết hiệp hoàn hảo với phu quân của mình. . . Như thế Hội Thánh hoàn vũ được trình bày như là một dân được thống nhất trong sự hiệp nhất của Cha, Con và Thánh Thần.”
4. Linh đạo: sống theo Thần Khí
Nhưng có lẽ chủ đề sự sống mới mà Thánh Thần làm phát sinh nơi con người, là chủ đề đã từng được khai triển nhiều nhất trong suy tư Kitô giáo. Thánh Phaolô cắt nghĩa chủ đề này như là sự cư ngụ của Thánh Thần: “Anh em không ở dưới quyền thống trị của xác thịt, mà của Thần Khí từ lúc Thần Khí cư ngụ trong anh em.”5
Ở đây chúng ta nói tới một nhân cách mới mẻ đích thực được xây dựng, thống nhất và tổ chức một cách hoàn toàn độc đáo trong người tín hữu. Thánh Thần sáng tạo nơi họ một ý thức mới: ý thức mình được làm con cái Thiên Chúa, là ý thức được tỏ lộ nơi Chúa Giêsu và cũng hiển hiện trên bình diện tâm lý. Chúa Giêsu, trong giờ phút bề ngoài có vẻ cô đơn nhất, đã nói: “Lạy Cha, con phó thác hồn con trong tay Cha.”6 Cho nên phải khẳng định rằng Đức Giêsu không bao giờ có cảm giác bị Cha bỏ rơi. Trong khi bị mọi người khác bỏ rơi, ngài vẫn cảm thấy được Cha nghe thấu. Như thế người tín hữu khi phát triển ý thức làm con này, trong bất cứ hoàn cảnh khó khăn nào đều cảm thấy và diễn tả lòng tin tưởng phó thác vào Thiên Chúa.
Chúa Thánh Thần còn làm phát sinh nơi tín hữu một sự hiểu biết mới; đó là sự hiểu biết của đức tin có khả năng nhận biết mầu nhiệm Thiên Chúa, khám phá ý nghĩa của thế giới và các biến cố lịch sử. Đức tin thường vẫn được coi là một sự khôn ngoan đến từ Thánh Thần. Ai quan niệm đời sống mình và lịch sử mà không có Thiên Chúa thì không được Thánh Thần thúc đẩy. Ai tìm thấy Thiên Chúa trong lịch sử đời sống mình và lịch sử nhân loại thì được Thánh Thần hướng dẫn, bởi vì Thiên Chúa tự mặc khải trong sự kiện chính yếu của lịch sử, sự kiện Chúa Giêsu.
Thánh Thần khơi dậy một quan hệ mới giữa con người, vượt qua mọi biên giới quốc gia, chủng tộc, văn hoá, tôn giáo, tình trạng kinh tế: đó là tình yêu, sự tham dự vào tình yêu Thiên Chúa; đối với ngài không còn phân biệt người Hi Lạp hay man di, lương hay giáo, đàn ông hay đàn bà . . . nhưng tất cả là một tạo thành duy nhất.7 Đó là việc khắc phục các thói kỳ thị, óc thống trị, ý thức tự tôn.
Thánh Thần dạy chúng ta một ngôn ngữ mới để làm chúng ta đồng tâm nhất trí quay về Thiên Chúa và diễn tả các tâm tình con thảo và gợi hứng cho chúng ta những điều phải nói. Ngài cho chúng ta ngôn từ để truyền lời loan báo và mở lòng người ta hiểu lời loan báo. Chính vì thế người ta nói rất nhiều về Thánh Thần trong bối cảnh việc loan báo Tin Mừng.8
Tóm lại, Thánh Thần tái tạo cơ cấu nội tâm của con người: ngài cho nó ý nghĩa về căn tính của nó, khả năng hoạt động trong thế giới với phong cách của các mối phúc thật, khả năng mong đợi sự tỏ lộ vĩ đại trong đó toàn thể tạo thành sẽ đạt tới tình trạng hoàn hảo của nó.9
Nhưng chưa hết. Ai sinh ra bởi Thánh Thần thì được kêu gọi phát triển sự sống mình theo một kế hoạch đời sống. Họ không chỉ nhận được một số đức tính cố định, như thể các quà tặng quí giá hay các bữa tiệc sinh nhật. Ngược lại, họ có một loại mã di truyền mà theo đó họ sẽ lớn lên.
Như mọi đời sống, đời sống Kitô hữu có một luật nội tại: luật phát triển. Trong phép rửa tội, chúng ta đón nhận hạt giống phát triển: khi chết chúng ta có kết quả cuối cùng. Những gì nằm giữa hai điểm này được giao phó cho ý chí và khả năng của chúng ta để làm phát triển, giống như đối với trí khôn và nhân cách của chúng ta. Có một tình trạng nảy mầm, có một sự trưởng thành: “Thưa anh em, về phần tôi, cho tới nay tôi đã không thể nói với anh em như với những con người sống theo Thần Khí, nhưng như với những con người sống theo xác thịt, như với những trẻ nhỏ trong Đức Kitô. Tôi đã cho anh em uống sữa chứ không cho dùng thức ăn, vì anh em chưa chịu nổi.”10 Thánh Phaolô nói về những trẻ nhỏ và những người lớn, những người bất toàn và những người thành toàn, những người mê muội và những người khôn ngoan, những người sống theo xác thịt và những người sống theo Thần Khí.
Chúng ta bước từ sự thiếu trưởng thành sang tình trạng trưởng thành nhờ sự soi sáng tiệm tiến và sự gắn bó với sự thật. Những điều này giúp chúng ta thấy ý nghĩa của đời sống và của thế giới, với một sự xác tín ngày càng vững chắc hơn, trong ánh sáng của biến cố Đức Kitô. Tiếp theo là sự thanh tẩy khỏi các mối lệ thuộc và nô lệ, các thói ích kỷ, các đam mê tệ hại, cho tới khi đạt tới tự do nội tâm. Và chúng ta còn được đưa tới sự trưởng thành trong nỗ lực làm cho đời sống chúng ta hoà hợp với đời sống Chúa Giêsu bằng cách sát nhập chúng ta vào mầu nhiệm của ngài. Sách Hướng dẫn Huấn giáo Tổng quát (DCG), khi nhắc đến người tín hữu, nói rằng mục đích của sự khai tâm Kitô giáo là “Giáo dục chúng ta biết suy nghĩ như Đức Kitô, nhìn lịch sử như ngài, chọn lựa và yêu mến như ngài, hi vọng như ngài dạy, sống sự hiệp thông với Cha như Ngài.”11 Nói cách khác, đó là điều mà thánh Phaolô đã diễn tả: “Không phải tôi sống mà là Đức Kitô sống trong tôi”12.
Kết quả đạt được là con người thiêng liêng. Trong ngôn ngữ Kitô giáo, “thiêng liêng” có một nghĩa đặc thù. Nó không đối chọi với vật chất, như các nhà triết học nghĩ, nhưng đối chọi với xác thịt. Vì vậy nó không có nghĩa là “phi vật chất”, mà là “thấm nhuần Thiên Chúa và được ngài điều khiển”, bất kể bản chất vật lý của nó là gì. Con người thiêng liêng vì thế không phải là người từ chối, trốn tránh hay lơ là phần thể xác của mình, mà là người đảm nhận và điều khiển mọi sự trong đức ái. Thực ra chính đức ái lan toả trong cõi lòng chúng ta bằng Thánh Thần đã được ban cho chúng ta, bằng cách thấm nhuần toàn diện con người, thân xác và ý thức của chúng ta.
Chúng ta học được nhiều điều khi nghe thánh Phaolô nói về những biểu hiện của tình trạng trẻ nhỏ của đời sống chúng ta trong Thánh Thần hay của bình diện “xác thịt” trong lối suy nghĩ của chúng ta. Một biểu hiện là sự thiếu khả năng chấp nhận Tin Mừng trong toàn thể các đòi hỏi và tính độc đáo của Tin Mừng. Thánh Phaolô gọi những người Corinthô là thiếu trưởng thành bởi vì họ say mê theo đuổi sự hùng biện loài người và những sự cắt nghĩa phức tạp mà không đón nhận sự khôn ngoan đơn sơ được Thiên Chúa linh hứng, là sự khôn ngoan có trong biến cố Đức Kitô13.
Một dấu hiệu của tình trạng con nít là bị lôi kéo bởi những lý do người phàm như sự ganh tị, ước muốn trổi vượt trong cộng đồng với các đặc sủng nổi bật. Cũng thế là tư tưởng cho rằng tự do hệ tại thể hiện được sở thích riêng mình, hay sự không có khả năng khắc phục các xung đột bằng việc hi sinh bản thân mình. Trên hết là tình trạng chao đảo hay thay đổi của đức tin chưa được ăn rễ sâu trong Lời Chúa, khiến dễ bị lôi kéo bởi các lối sống trần tục, hay bởi các tư tưởng tôn giáo viễn vông, hay các học thuyết nhất thời.
Còn có những trang sách xuất sắc về sự trưởng thành của con người sống theo Thần Khí, đó là sự thanh tẩy khỏi sự dữ và khắc phục những gì bất toàn; nhưng cũng có sự phát triển tối đa các tiềm năng có trong chúng ta. Các dấu hiệu của sự trưởng thành trước hết là sự bảo đảm hay rõ ràng về tình yêu mà Thiên Chúa dành cho chúng ta và từ đó có sự bình an và thanh thản nội tâm nhờ đó chúng ta biết rằng “dù sự chết hay sự sống, dù thiên thần hay bất cứ tạo vật nào cũng không thể tách lìa chúng ta ra khỏi lòng mến của Đức Kitô”14.
Cũng có lòng quảng đại nhờ đó chúng ta không chỉ giới hạn mình làm những điều luật buộc, mà còn hiến mình một cách tự do và vui vẻ. Đó là đòi hỏi triệt để và toàn diện của Tin Mừng. Có tình bác ái huynh đệ như qui luật để hành động trong mọi hoàn cảnh vượt trên các tính toán và các tục lệ xã hội, vượt trên các quyền lợi của chúng ta và của chính việc thờ phượng.
Khi những động năng và những thái độ này phát triển, người ta đạt tới tầm thước của Đức Kitô. Thần Khí ban sự thống nhất trong các tư tưởng, tình cảm, ước muốn, hành động. Và nơi con người biểu hiện các trái chín của ngài: tình yêu, niềm vui, bình an, kiên nhẫn, nhân hậu, ân cần, trung thành, dịu dàng, tự chủ15.
5. Gợi ý suy tư
Những điều vừa nói trên gợi ra cho chúng ta một vài dòng suy niệm cá nhân sau đây.
— Trước hết là tìm cách nhìn đời sống chúng ta là Kitô hữu và tu sĩ trong dòng chảy này của nguồn sinh lực phát xuất từ Thiên Chúa và, từ lương tâm của những con người, nó hướng nhân loại tiến tới một tình trạng tốt đẹp hơn và hướng tới sự hiệp thông với Thiên Chúa.
— Rồi chúng ta tìm cách cắt nghĩa lịch sử, lịch sử riêng của bối cảnh chúng ta và lịch sử lớn của đất nước chúng ta và của thế giới, bằng chìa khoá của Thánh Thần: trong các ước vọng, các cố gắng cao thượng, và các bước tiến nho nhỏ của lịch sử.
— Chúng ta suy tư về nhiệm vụ mình như là các nhà giáo dục phục vụ sự tăng trưởng đời sống trong Thánh Thần này. Hiến Luật FMA khẳng định rằng sự hộ trực Salêdiêng phải được coi như một sự hợp tác với Thánh Thần là Đấng hoạt động trong tâm hồn của mỗi người.
— Và sau cùng chúng ta thờ lạy Thánh Thần nơi những con người mà nơi họ biểu lộ ý thức là con Thiên Chúa, những người mang danh Thiên Chúa ghi trên trán và trong lòng, và họ diễn tả đỉnh cao nhất của nhân loại.
Chú thích
1Lc 3,21
2Lc 4,18
3xem Lc 11,20
4Lc 10,21
5Rm 8, 8.
6Lc 23,46
7xem Gl 3,28.
8xem EN 75
9xem Rm 8,19-22
101 Cr 3,1-2
11DCG 38
12Gl 2,20
13xem 1 Cr 2,1tt
14Rm 8,38-39
15xem Gl 5,22-23