FMA Logo

II. DON BOSCO, MÔ HÌNH VÀ GƯƠNG MẪU CỦA LINH ĐẠO CHÚNG TA



Chúng ta nhắc lại ở đây lược đồ của khoản 21 trong Hiến Luật Salêdiêng:

“Don Bosco, mẫu gương của chúng ta”

1.  Chúa đã ban cho chúng ta Don Bosco

làm Cha và làm Thầy.

Chúng ta học hỏi và bắt chước ngài,

chiêm ngưỡng nơi ngài:

Một sự hoà hợp tuyệt diệu giữa tự nhiên và ân sủng

* Thật sâu xa là một con người

* giàu các đức tính của dân tộc mình

*  ngài cởi mở trước các thực tại trần thế

*  thật sâu xa là người của Thiên Chúa

* đầy tràn ân huệ của Chúa Thánh Thần

* ngài đã sống ‘như thể nhìn thấy Đấng vô hình’.

Cả hai khía cạnh này được đúc kết lại trong một kế hoạch đời sống thống nhất chặt chẽ: phục vụ các thanh thiếu niên.

Kế hoạch ấy ngài đã thực hiện:

* một cách cương quyết và kiên trì

* giữa những chướng ngại và lao nhọc

* với tính nhạy bén của một con tim quảng đại.

“Ngài đã không đi một bước, không nói một lời, không bắt tay vào một việc mà không nhằm cứu vớt giới trẻ.

Thật sự ngài không chú tâm vào điều gì khác ngoài các linh hồn”.

 * MỘT LƯU Ý CẦN THIẾT

Chúng ta đã nói đến sự thánh hiến bởi ân huệ của Thánh Thần. Cái đặc trưng của đời sống tu trì là nó tập trung vào Thiên Chúa. Nó muốn là kinh nghiệm, bằng chứng và sự loan báo về Ngài.

Tuy nhiên có nhiều hình thức thánh hiến đa dạng nhờ đó Thánh Thần tiếp xúc với những con người của Thiên Chúa. Lịch sử thì phức tạp: nó cần nhiều dấu hiệu thích hợp với các hoàn cảnh khác nhau. Mặt khác, con người có những khả năng diễn tả vô hạn. Thánh Phaolô từng nói rằng có các ân điển hay ân sủng khác nhau16. Cùng kết hợp lại, chúng làm cho Hội Thánh được sẵn sàng để hoạt động trong mọi bối cảnh và mọi điều kiện. Một số người được thu hút bởi mầu nhiệm của Thiên Chúa nên tìm đến sống trong các nơi cô tịch để chuyên chăm học hỏi và cầu nguyện. Các ẩn sĩ bị ấn tượng bởi sự phù phiếm của cuộc đời hiện tại và những lợi ích của cuộc sống vĩnh cửu, nên tự giam mình trong các am cốc cách ly với đời sống xã hội. Ngược lại, những người khác cảm thấy tình yêu Thiên Chúa như động lực thúc đẩy họ can thiệp vào lịch sử để cứu rỗi con người.

Thánh Thần hoạt động trong tất cả những con người này và thông qua họ, ngài hoạt động trong nhân loại. Như thế ngài là nguồn gốc phát sinh các kiểu mẫu hay tính cách Kitô giáo đa dạng. Các kiểu mẫu không tuỳ thuộc vào ý muốn của con người, cũng không phát xuất từ một học thuyết tôn giáo được suy tư trên lý thuyết. Chúng đâm chồi từ trong các cộng đồng Kitô giáo như cây cỏ mọc lên trên mảnh đất phì nhiêu. Để mô tả các kiểu mẫu này, tốt hơn nên kể ra việc chúng đã phát sinh thế nào và đã phát triển ra sao, hơn là trình bày giáo lý thiêng liêng của chúng. Để làm việc này, các sách hạnh các thánh ngay từ ban đầu đã là một yếu tố của huấn giáo.

Làm thế nào và tại sao Chúa Thánh Thần thánh hiến một người Salêdiêng, đó là điều được tỏ lộ cho chúng ta trong lịch sử nơi Don Bosco. Chiêm ngưỡng diện mạo ngài là điều quan trọng để chúng ta khám phá ra bộ mã di truyền của mình. Nó đã phát triển thế nào nơi ngài, thì cũng sẽ phát triển nơi chúng ta y hệt như thế.

Có nhiều lối trình bày khác nhau về diện mạo thiêng liêng của Don Bosco: ngắn, vừa, và dài. Don Caviglia đã tìm cách tóm tắt các nét thiêng liêng và luân lý của Don Bosco trong một tác phẩm tổng hợp dày 150 trang giấy nhỏ. Có những tác phẩm nghệ thuật (tranh vẽ và điêu khắc) tìm cách thu nhận đặc điểm nổi bật nhất nơi tính cách ngài. Rồi mỗi người Salêdiêng mang nơi mình một hình ảnh của Don Bosco được tạo hình dần dần theo năm tháng, qua kinh nghiệm, đọc sách, suy niệm, và chọn lựa. Có khi những hình ảnh cá nhân này đã phóng đại quá mức một sự kiện theo sở thích riêng của mỗi người và bỏ lại trong bóng tối những sự kiện khác mà lịch sử ghi lại. Một số người, chẳng hạn, đã phóng đại diện mạo của ngài như người bạn của thanh thiếu niên và hầu như không biết đến ngài như “Vị Sáng lập một phong trào linh đạo”.

Tương quan giữa hai loại hình ảnh này, loại hình ảnh theo khách quan và loại hình ảnh theo cá nhân, là một sự tương quan năng động: chúng làm phong phú và sửa sai lẫn cho nhau.

Có một diện mạo của Don Bosco “thánh hiến, tông đồ, con người thiêng liêng” làm cho hai loại hình ảnh này hoà hợp và thấm nhập vào nhau, vì nó được tạo ra bởi cộng đoàn và trở thành một vật gia bảo của cộng đoàn. Chúng ta tìm thấy nó trong chương hai của Hiến Luật Salêdiêng, là chương muốn mô tả một cách hệ thống tinh thần Salêdiêng: một chương với rất nhiều đoạn trích dẫn của Don Bosco và thường xuyên nhắc đến các thái độ của ngài.

Ở phần kết chương, giống như một tổng hợp, là cố gắng trình bày tính cách của ngài trong hai mươi hàng chữ.17

Chính hình thức của khoản Hiến luật này cũng độc đáo: nó có dáng dấp của một bản thánh thi hay thánh vịnh. Các câu khi đọc lên có tiết tấu chẳng khác gì một bài thơ. Các ý tưởng được trình bày với những thành ngữ khi thì đối chọi nhau, khi thì song song nhau hay theo một triền thăng giáng được chọn lựa kỹ lưỡng. Cấu trúc toàn thể được dàn dựng với những khoảng nối tiếp nhau bằng hai chủ đề chính: sự phong phú đa dạng và sự thống nhất kỳ diệu của nhân cách ngài.

Chỉ trong một ít hàng chữ mà xuất hiện gần như đủ các nhân vật chính của đời sống Salêdiêng: Thiên Chúa, Don Bosco, giới trẻ, dân tộc của ngài. Cũng có cả chuỗi nối tiếp các hoạt động được thể hiện: việc đào luyện nhân cách, kế hoạch đời sống, việc phục vụ giới trẻ, tìm kiếm các linh hồn, sáng lập một Gia đình tông đồ.

Đây không phải kết quả của một sức cố gắng hay tài năng văn chương. Nếu là thế, người ta có thể nhận ra sự giả tạo của nó. Ngược lại, nó là kết quả của sức cuốn hút, một sự quyến rũ mà Don Bosco thể hiện trên các con cái Salêdiêng của ngài. Thực ra tự nguồn gốc của bản văn này đã có cả một chuỗi suy niệm lâu dài của cộng đoàn. Nó được phác thảo một lần đầu, được duyệt đi duyệt lại liên tục ba lần, trong một thời kỳ 12 năm liền, bởi hai trăm người, tất cả từng là những thành viên của các Tổng Tu Nghị. Vì vậy, đây là hình ảnh của Don Bosco mà Tu hội đưa vào trong ý thức cộng đoàn. Nó cống hiến cho chúng ta một ít hạt nhân suy niệm về linh đạo.

2. Tương quan của chúng ta với Don Bosco            

Hạt nhân suy niệm đầu tiên là mối quan hệ đặc biệt của mỗi người chúng ta với Don Bosco: “Chúa đã ban cho chúng ta Don Bosco làm cha và làm thầy”. Cuộc gặp gỡ với ngài đã được an bài và quyết định tất cả đời sống thiêng liêng của chúng ta. Chúng ta có thể nhớ lại cuộc gặp gỡ này đã xảy ra thực sự như thế nào và ơn sủng của việc chúng ta liên tục tiếp xúc với ngài, nó đã làm giàu chúng ta với biết bao kế hoạch, biết bao tình cảm, lý tưởng và việc thể hiện xuyên qua các giai đoạn khác nhau của cuộc đời chúng ta: khi là ứng sinh cho đời sống Salêdiêng, khi là tập sinh, trong toàn thể tiến trình đào luyện tiếp theo và trong các thời kỳ suy nghĩ lại khi chúng ta đã trưởng thành.

Có ngài đồng hành luôn luôn là nguồn cảm hứng lớn trong tâm hồn chúng ta. Nếu ngày nay chúng ta từ bỏ tất cả những gì ngài đã mang đến, thì đời sống thiêng liêng hiện tại của chúng ta sẽ chỉ còn những cái rất nghèo nàn. Vì vậy Don Bosco quả thực là quà tặng của Thiên Chúa cho đời sống chúng ta. Thực ra nếu như không có ngài, thì có thể cũng có những người khác. Nhưng đời sống không được làm thành bởi những cái nếu, mà bởi những sự kiện hiện thực. Cho nên, trong thành ngữ mà chúng ta đang cắt nghĩa, đại từ “chúng ta” không có nghĩa tập thể, mà có nghĩa phân phối đích thực: cho từng người chúng ta, một cách cá nhân, chúng ta được ơn gặp gỡ và biết Don Bosco.

“Làm Cha và làm Thầy”: quan hệ của chúng ta với ngài là quan hệ con cái và học trò. Don Bosco từng có và vẫn còn có những người ngưỡng mộ, những “fans”, những cộng tác viên, những bạn bè. Cũng như Đức Kitô đã có các người nghe ngài, đi theo ngài, bạn bè, môn đệ, và tông đồ. Mỗi từ này diễn tả một quan hệ khác nhau. Chúng ta không chỉ là những người ngưỡng mộ, những cộng tác viên và bạn bè.

Thuật ngữ diễn tả quan hệ của ngài với chúng ta là “Cha”. Sẽ là một sai lầm nếu nghĩ đây chỉ là một thành ngữ mang ý nghĩa tình cảm, đạo đức hay tu từ.

“Cha” có nghĩa một điều gì vượt lên trên lòng nhân hậu của ngài và tình cảm của chúng ta. Nó nói rằng ngài là người khởi xướng, người sáng lập đã truyền lại cho chúng ta cái kinh nghiệm thiêng liêng là đặc sủng Salêdiêng. “Cha” có chỗ đứng trong lịch sử vào lúc và nơi ngài sinh ra. “Cha” sinh ra chúng ta trong việc theo Chúa Kitô vì giới trẻ. Cha, Abba, là một thuật ngữ truyền thống trong đời tu trì để chỉ người tỏ lộ đặc sủng và làm tăng trưởng đặc sủng.

“Cha” cũng nhắc chúng ta nhớ tới khả năng ngài làm chúng ta cảm nghiệm tình phụ tử của Thiên Chúa đối với thanh thiếu niên nghèo khổ: sau kinh nghiệm sống với họ, tình phụ tử trở thành một chủ đề của hệ thống giáo dục và phong cách thi hành quyền bính của ngài. “Các giám đốc và hộ trực viên như những người cha yêu thương phải nhắc nhở, hướng dẫn trong mọi hoàn cảnh.” Nó nhắc chúng ta nhớ rằng, đối với những người Salêdiêng hôm qua cũng như hôm nay, ngài thích tước hiệu “Cha” hơn bất kỳ tước hiệu nào khác; “Hãy gọi cha là Cha, và cha sẽ thấy hạnh phúc.”18 Và nó cũng nhắc chúng ta nghĩ tới loại quan hệ mà những người theo ngài đã duy trì với ngài: thay vì như thủ lĩnh, người sáng lập, lãnh đạo đặc sủng, chúng ta biết ngài như là Cha. “Dù ở bất cứ đâu, các con hãy nhớ rằng ở Torino này các con có một người Cha yêu thương chúng con trong Chúa.”

Chúng ta còn có thể tiếp tục xem xét thêm trách nhiệm làm cha của ngài. “Từ nơi cha có mọi sự: tình yêu dịu dàng và mạnh mẽ đối với các nghĩa tử, sự chịu đựng mọi mệt nhọc và đau khổ, ý thức sâu sắc về trách nhiệm làm cha gia đình và sự hiến mình vô giới hạn mà chỉ có tình yêu mẫu tử mới sánh bằng được” (Don Caviglia).

Bên cạnh tước hiệu là “Cha” còn có tước hiệu là “Thầy”. “Thầy” không mang ý nghĩa áp đặt một giáo thuyết cho bằng nói lên nghệ thuật dạy dỗ, làm người khác hiểu mình, nói bằng ngôn ngữ của con tim, thông truyền bằng đời sống. Nó nhấn mạnh sự kiện rằng chúng ta đã theo ngài qua việc để ngài hướng dẫn bằng kinh nghiệm của ngài, và qua ngài, chúng ta đã muốn theo Chúa Giêsu là Thầy. Thầy là một chủ đề lặp đi lặp lại thường xuyên trong các lời khuyên và bình luận của ngài. Trong chúc thư ngài nói về Chúa Giêsu: “Người sẽ là thầy, là hướng đạo, và là khuôn mẫu của chúng ta. . .” Nó được liên kết với chủ đề về sự khôn ngoan, là trọng tâm trong khoa sư phạm của ngài, trong suy nghĩ của ngài, và trong đời sống thiêng liêng của ngài.

Cha và Thầy là một thành ngữ có xuất xứ trong kinh phụng vụ. Và khoản luật này có vẻ giống với một bản văn phụng vụ, một suy niệm khôn ngoan hơn là một qui luật pháp lý hay một mảng giáo thuyết.

Phản ứng và thái độ của chúng ta trước ân huệ này của Thiên Chúa là: “Chúng ta học hỏi và bắt chước ngài, chiêm ngưỡng nơi ngài. . .” Các khả năng trưởng thành của chúng ta từ nay được gắn liền với mối quan hệ sống chết của chúng ta với ngài. Thực vậy, chúng ta đang phát triển về đời sống thiêng liêng trong môi trường và với những nguồn lực của đặc sủng, cộng đoàn, và sứ mạng của ngài.

Khoản luật nói “chúng ta chiêm ngưỡng”: thái độ của chúng ta không phải là nghiên cứu khoa học và phê bình, tuy rằng không thể bỏ qua điều này; nhưng là một sự tiếp cận và gặp gỡ thường xuyên đầy tình âu yếm. Chiêm ngưỡng là động từ của sự chiêm niệm, của người ở lại để ngắm nhìn vì bị thu hút. Chúng ta hiểu được ngài nhờ tình yêu và sự đồng thanh tương ứng, chứ không phải bởi việc phân tích và chứng minh chặt chẽ các dữ kiện lịch sử.

Nhưng điều này cũng đòi hỏi một nghĩa vụ: “học hỏi ngài”. Ngày nay có những khó khăn lớn để hiểu biết Don Bosco một cách hiệu quả. Một khó khăn là sự xa cách về thời gian, nhưng nhất là sự cách biệt về văn hoá giữa chúng ta và ngài. Nguy cơ là sự quên lãng hay không có khả năng giải thích về ngài. Giữa các thế hệ tiền bối của chúng ta và thời của Don Bosco, vẫn còn có một sự giống nhau về lối sống. Cũng có những khác biệt nhưng rất giới hạn. Ngày nay để hiểu ý nghĩa thực của điều ngài đã suy nghĩ và hành động, cần phải đặt mình vào não trạng của môi trường của ngài và đặt ngài vào môi trường của chúng ta. Rồi có những khó khăn do việc thiếu thời giờ chung trong cộng đoàn để truyền thông. Trước kia những thời giờ đó rất nhiều và đều đặn: Huấn từ tối, các bài huấn đức, sách thiêng. Việc truyền thông “bằng miệng” có chỗ để thực hiện. Ngày nay đời sống làm chúng ta ngày càng phân tán hơn và nếu có nói được ít lời nào thì chúng cũng mất hút trong một rừng các hình ảnh và thông điệp mênh mông.

Đồng thời, như một yếu tố thuận lợi, ngày nay có một “văn hoá Salêdiêng” đích thực: một sự suy niệm về đời sống và đặc sủng của các vị sáng lập và của các Tu hội của các ngài, được tích lũy qua các thế hệ. Đặc biệt trong thời gần đây nhất đã có một cố gắng to lớn từ phía hai Tu hội (SDB và FMA) về ba phương diện: phương diện thiêng liêng, được thấy trong các Công báo của các Tổng Tu Nghị, các thư của các Cha Bề Trên Cả và các Mẹ Bề Trên Cả; phương diện lịch sử, với việc sáng lập một Viện Lịch Sử và việc tổ chức kho lưu trữ trung ương và ước muốn nghiên cứu lịch sử các tu hội trên khắp thế giới; phương diện sư phạm: thư tịch rất dồi dào về hệ thống dự phòng chứng tỏ tình cảm yêu mến của người Salêdiêng đối với di sản này. Người ta đang thu thập mọi đầu sách và bài viết liên quan đến Don Bosco, Mẹ Mazzarello và đặc sủng của các ngài. Ngày nay có khoảng 30.000 đầu sách. Việc học hỏi không chỉ là một hành trình của đời sống thiêng liêng, nó còn trở thành một điều kiện để có thể truyền thông và truyền đạt với sự trung thành và phong phú. Vì thế nó đã được đưa vào trong mọi giai đoạn đào luyện.

3. Diện mạo thiêng liêng của Don Bosco               

Một hạt nhân suy niệm thứ hai là kiểu mẫu con người và kiểu mẫu Kitô hữu, nhân cách của Don Bosco: một sự hoà hợp tuyệt diệu của tự nhiên và ân sủng.

Trước hết cần ghi nhận sức của tính từ “tuyệt diệu”. Đây không nói đến một sự hài hoà khiêm tốn, bình thường, chung chung. Nó là một cái gây ấn tượng mạnh. . . như một toàn cảnh kỳ vĩ, một bức hoạ hoàn hảo, một bản nhạc rung động. Không ít nhà nghiên cứu đã phát biểu theo nghĩa này. “Một trong số những con người hoàn hảo nhất mà lịch sử từng biết đến” (Joergensen). “Augustinô, Phanxicô, Catarina da Siena, Don Bosco được kể vào số những đỉnh cao của nhân loại” (Hertling).

“Ta đã nhìn thấy rất gần khuôn mặt này, trong một lần giáp mặt không ngắn, trong một cuộc trò chuyện không phải chỉ thoáng qua; một khuôn mặt kỳ diệu mà sự khiêm tốn bao la và sâu thẳm cũng không tài nào che giấu nổi ... một khuôn mặt của con người vĩ đại, dài, lộ rõ uy lực và sức quyến rũ: một khuôn mặt điềm tĩnh, khuôn mặt của những con người mà dù làm bất cứ việc gì, họ đều để lại dấu vết lớn của nhân cách họ, vì họ được trang bị một cách tuyệt vời cho cuộc đời” (Piô XI)19.

“Tông đồ Phaolô, Augustinô ở Hippô, Phanxicô Assisi, Vinh Sơn Phaolô, và Gioan Bosco rõ ràng là những con người kiệt xuất về phương diện các nguồn lực và đức tính nhân bản của họ” (Wackenheim).

Mục đích của chúng ta ở đây không phải là dệt nên một bài ca ngợi hay tán tụng, mà là khám phá ra “mô hình” về nhân cách và linh đạo: sự hoà hợp giữa bản năng sâu xa của sự sống và sự cởi mở với Thiên Chúa, niềm đam mê đối với tất cả những gì là con người và chiều sâu thiêng liêng. “Hoà hợp hay hài hoà”, thành ngữ này nói được nhiều hơn là sự thống nhất. Để có sự thống nhất, người ta có khi phải nối kết các phe lại, có khi phải hi sinh các khía cạnh: nó cho chúng ta hình ảnh của một cái gì chắp nối. Còn sự hoà hợp nói lên một sự đầy đủ đã trở nên rực rỡ giữa những mặt đối lập: không mặt nào bị hi sinh để được mặt kia hay để có sự an bình. Bản tính con người của ngài, dịu dàng và âu yếm, dễ gây tình bạn, trở thành dấu chỉ trong sáng về tình yêu Thiên Chúa. Rồi đến lượt tình yêu này lại tạo ra một sự tinh tế ngày càng lớn hơn cho nhân tính.

Một sự hoà hợp như thế toát ra nơi con người ngài: dịu dàng và nghiêm nghị, thông minh và thực tế, ngay thẳng và tinh ranh, thánh thiện và khoáng đạt giữa đời. Nó cũng toát ra trong linh đạo của ngài: lao động và chiêm niệm, Thiên Chúa và tha nhân, đức ái và tính chuyên nghiệp, vâng phục và tự do. Nó cũng toát ra trong khoa sư phạm của ngài: kỷ luật và thân mật, lý lẽ và tính tự phát, đòi hỏi và lòng tốt.

Đó cũng là chính những mặt đối lập mà chúng ta cảm thấy. Vì thế, gần đây người ta thường nhấn mạnh nét đặc trưng chính của ngài: ơn thống nhất.

Các chiều kích của nhân cách Don Bosco

Gắn liền với chủ đề hài hoà, thống nhất này, chúng ta có một hạt nhân suy niệm khác nữa: các chiều kích cơ bản của nhân cách ngài, được diễn tả bằng một hình thức song song hoàn hảo. “Thật sâu xa là một con người và là người của Thiên Chúa, giàu các đức tính của dân tộc mình và đầy tràn ân huệ của Chúa Thánh Thần, ngài cởi mở trước những thực tại trần thế và ngài đã sống “như thể nhìn thấy Đấng Vô Hình.”

Điều gây ấn tượng đầu tiên là tính nhân bản của ngài. Nó bộc lộ sự thánh thiện của ngài, trong khi sự thánh thiện này bộc lộ vẻ đẹp rực rỡ của tính nhân bản của ngài. “Mọi cái nơi Don Bosco đều là nhân bản và mọi cái đều chiếu dọi cách mầu nhiệm một ánh sáng siêu nhiên.”

Tính nhân bản được bộc lộ trong khả năng yêu mến sâu đậm và cá vị. Khả năng này trở thành hình thức quan hệ thường xuyên của ngài; không bao giờ kiểu cách, quan liêu, truyền khiến, nhưng luôn luôn gần gũi và nhìn người khác với lòng quí trọng. Người ta thấy ngài ở nguyện xá, nhưng cũng thấy ngài ở các cuộc tiếp kiến, các cuộc hành trình, trên đường phố. Tính khí ngài rất giàu tình cảm, nhưng nó đã trở thành cách thức riêng của ngài để bắt chước Chúa Giêsu. Trong hồi ký của ngài có kể chuyện hồi nhỏ ngài bắt được một con sáo và nuôi nó trong một cái lồng. Ngài chăm sóc và cho nó ăn như thể một người bạn. Một hôm con mèo lại gần chuồng và giết chết con sáo. Ngài buồn đến phát khóc. Mẹ nói: “Cần gì phải khóc? Còn có biết bao nhiêu con chim trong rừng.” Nhưng đối với cậu bé thì mọi con chim khác không đáng giá bằng con chim cậu yêu quí. Sau sự kiện ấy, ngài làm quyết định sẽ không bao giờ gắn bó quả tim mình vào bất cứ một tạo vật nào20. May thay - một tác giả bình luận - ngài đã không thực hiện quyết định ấy.

Hình thức quan hệ một cách thân thiết và tình cảm sâu đậm này là bí quyết của việc thực hành giáo dục của ngài. Có cả một sưu tập các giai thoại ghi lại điều này: từ câu ngài nói với Gastini: “Cha là một linh mục nghèo, nhưng cha mong muốn biết bao điều tốt lành cho con, đến nỗi nếu một ngày nào đó cha chỉ có một miếng bánh nhỏ, cha cũng sẽ chia sẻ với con”; cho tới lời kể lại thật cảm động của Don Albera: “Phải nói rằng Don Bosco ưu ái chúng tôi một cách hoàn toàn độc đáo theo kiểu riêng của ngài: ngài tỏ lộ tình yêu ấy bằng một sự cuốn hút không thể cưỡng lại được. Tôi từng cảm thấy mình như bị giam giữ bởi một quyền lực của tình cảm nuôi dưỡng tất cả tư tưởng, lời nói, và hành động của tôi. Tôi từng cảm thấy được yêu thương như trước đó chưa từng được yêu thương như thế bao giờ, một cách hết sức đặc biệt, vượt lên trên mọi tình cảm nào khác. Ngài như thể bao bọc tất cả chúng tôi một cách hoàn toàn trong một bầu khí của sự hài lòng và hạnh phúc. Mọi cái nơi ngài đều có lôi cuốn, tác động trên các quả tim non trẻ của chúng tôi giống như một cục nam châm mà ta không thể nào rút ra được, và cho dù có thể, chúng tôi cũng không dại gì rút mình ra khỏi đó cho dù có được tất cả vàng bạc trên thế giới, đến nỗi ngài cảm thấy hạnh phúc tràn trề vì uy lực tình yêu độc đáo này trên chúng tôi, mà ngài đã tỏ ra một cách hết sức tự nhiên mà không có vẻ gì là cầu kỳ hay phải cố gắng gì cả; và không thể khác đi được, vì mọi lời nói và việc làm của ngài đều toả ra sự thánh thiện của mối kết hiệp với Thiên Chúa, và đó là chính đức ái hoàn hảo. Ngài lôi cuốn chúng tôi về với ngài bằng tình yêu siêu nhiên sung mãn mà ngài chất chứa trong lòng. Từ sự cuốn hút đặc biệt này phát sinh công việc chinh phục cõi lòng chúng tôi. Nơi ngài các năng khiếu tự nhiên rất nhiều của ngài được nâng lên thành siêu nhiên bởi đời sống thánh thiện của ngài.”21

Cùng với tình cảm yêu thương, như một nét đặc trưng con người, còn phải thêm khả năng tình bạn. Ngài có biết bao nhiêu tình bạn khác nhau kể từ những năm đầu đời, trong thời niên thiếu, và trong tuổi trưởng thành! Niềm vui được chia sẻ, sống chung và làm việc chung là một nét đặc trưng cá tính của ngài. Là bạn thân của anh Giuse, ngài chia sẻ với anh những bữa ăn và những buổi hàn huyên tâm sự; là bạn của đám trẻ trong thôn xóm, ngài kể cho chúng các câu chuyện và đãi chúng các bữa ăn (nay được ghi nhớ bằng một tượng đài đẹp ở Colle Don Bosco); là bạn của các bạn học ở Chieri, ngài cùng với họ lập hội vui; là bạn chủng sinh của Comollo, ngài ký kết với anh một giao ước cho tới bên kia cái chết; là bạn của các trẻ nhỏ Do Thái bị phân biệt đối xử. Đặc biệt là bạn của một trẻ trong số đó, Giacomo Levi, biệt danh là Giona, mà ngài sẽ ghi nhớ lại bằng những lời này: “Có khuôn mặt rất đẹp trai, anh có một giọng hát tuyệt vời, thuộc hàng những giọng hát hay nhất. Anh chơi bi da khá giỏi. Anh rất đa cảm và điên dại vì tình bạn với tôi. Mỗi khi rảnh rỗi anh đều sang phòng tôi chơi. Chúng tôi cùng nhau ca hát, chơi đàn, đọc sách và kể chuyện.”22

Nét nhân bản này của ngài tiếp tục trong tuổi trưởng thành, vào thời này ngài nuôi dưỡng tình bạn với các linh mục, tu sĩ, cộng tác viên và thanh niên, các nhà văn, các người bị bách hại, các chính khách, và các nhà chức trách. Ngài để lại điều này bằng bút tích qua một loạt các lời khuyên nhủ các con cái ngài với nội dung như sau: “Hãy làm sao cho mọi người nói chuyện với con đều trở thành bạn con.”[1] Tình bạn sẽ là một chủ đề của khoa sư phạm của ngài. Để chứng minh điều này, chỉ cần nhớ lại chương ngài viết về tình bạn giữa Đaminh Savio và Camillo Gavio.23

Một khía cạnh khác của tính nhân bản của ngài được ghi nhận bằng thành ngữ “giàu các đức tính của dân tộc mình, ngài cởi mở trước các thực tại trần thế.” Kể ra những đức tính nào của dân tộc ngài không là điều quan trọng lắm. Có một cuốn sách nhỏ mang tựa đề này và cố gắng định nghĩa nó24. Chắc chắn có tính hào hiệp trong các kế hoạch, tính lý tưởng và thực dụng, tính kiên cường và đồng thời mềm dẻo, khả năng lao động và óc thực tế.

Có người đã định nghĩa ngài: sáng suốt trong kế hoạch, mạnh mẽ trong ý chí, chậm rãi trong quyết định, mực thước trong tiến hành. Bản thân Don Bosco đã nhìn nhận điều này: “Don Bosco không phải hạng người thích bỏ nửa chừng một khi đã bắt tay vào một công việc gì.”

Chúng ta có thể thấy phong cách này trong mọi công cuộc của ngài: nguyện xá bắt đầu với rất ít phương tiện, chỉ có những cái tối thiểu, nhưng ngay lập tức không chần chờ: ban đầu ngài chỉ thu thập một ít trẻ nhưng con số này không ngừng tăng lên. Sự tăng số khơi dậy các kế hoạch mới để thêm vào các chiều kích ngài đã dự kiến trong đầu. Công cuộc truyền giáo cũng bắt đầu như thế. Ngài bắt đầu bằng một trực giác. Ngài chuẩn bị một ít người. Một cách kiên trì và qua nhiều năm ngài tìm kiếm các cuộc tiếp xúc ích lợi. Ngài chuẩn bị tốt nhất những gì có thể bảo đảm được, nhưng nhiều điều còn không chắc chắn. Thế nhưng cứ lên đường. Cùng một điều như thế cũng sẽ diễn ra với các công cuộc giáo dục khác. Tổ chức các trường dạy nghề đã chiếm cả cuộc đời của Don Bosco và “kiểu mẫu” của chúng sẽ chín muồi trong vòng hai mươi năm.

Sự thánh thiện làm cho các giá trị trở thành phổ quát

Đây là chỗ thích hợp để đưa ra một lời bình luận: sự thánh thiện làm cho thành phổ quát một số giá trị đã được sống bởi một cộng đồng hay một môi trường đặc thù vốn đã được thấm nhuần tinh thần Kitô giáo lâu năm. Chắc chắn một số điều của Piêmôntê và của nước Ý đã đi ra thế giới qua Don Bosco, cũng như một số điều của Do Thái giáo và văn hoá Hi Lạp và La Tinh đã truyền sang cộng đồng Kitô giáo.

Nhưng tính nhân bản phong phú, nhạy cảm, cụ thể, thực tế, có khả năng hoà nhập với những vấn đề của thời đại ngài là kết quả cuối cùng của một sự quảng đại đáp ứng ân sủng: “Là người của Thiên Chúa, đầy tràn các ân huệ của Chúa Thánh Thần”. Đây là một chiều kích bị giấu ẩn một phần bởi tính khí của ngài. Thực vậy, tuy rằng Don Bosco rất dễ bộc lộ tình cảm của mình với người đối thoại, nhưng điều này hoàn toàn không phải để tỏ lộ kinh nghiệm nội tâm của ngài. Các bài viết và các lá thư của ngài cho thấy rất ít các tình cảm thâm sâu của ngài.

Don Bosco không hề để lại một “Tiểu sử một tâm hồn”, giống như Têrêxa Hài Đồng hay Gioan XXIII. Ngài để lại lịch sử của nguyện xá. Ngài không hề viết “Nhật ký thiêng liêng”, nhưng ngài để lại sổ tay các kinh nghiệm sư phạm. Điều này làm chúng ta nghĩ đến phong cách linh đạo của chúng ta được làm bằng sự đơn sơ trong cách diễn tả các cảm xúc và tình cảm và bằng một sự nội quan chừng mực.

Nhưng chiều sâu thiêng liêng một phần cũng bị giấu ẩn dưới phong cách hành động của ngài. “Quá cứng đầu và xảo quyệt, quá tham tiền và dễ nói về mình hay làm người khác nói về mình”, một hồng y đã thấy ngài như thế (Hồng y Ferrieri). Người ta nghi ngờ chiều sâu thiêng liêng của ngài khi thấy dáng vẻ bất trật tự và những giới hạn thực sự trong công cuộc giáo dục của ngài, do việc ngài muốn tăng mãi con số trẻ nghèo và vì vậy không đáp ứng những “yêu cầu” của một công cuộc giáo dục tiêu chuẩn. “Nếu Don Bosco thực sự có lòng đạo đức, ông phải ngăn cản một số điều rối trật tự trong nhà của mình”, một hồng y khác đá nói thế khi bị ấn tượng xấu trước tình trạng tự phát không được kiểm soát hoàn toàn tại Valdocco.

Thế nhưng chiều sâu thiêng liêng ấy được thấy hiển nhiên nhất là qua lòng tin vào Thiên Chúa và đức ái đối với đồng loại. “Tôi đã từng điều tra nhiều án kiện: nhưng tôi chưa từng thấy một con người đầy tràn sự siêu nhiên như thế” (Hồng y Vives).

“Để tìm lại được một khuôn mặt với những tầm cỡ như thế, cần đi ngược trở về nhiều thế kỷ lịch sử của Hội Thánh và thêm vào đó các vị thánh sáng lập các dòng tu lớn” (Hồng y Schuster).

Một khía cạnh khác của chiều kích thiêng liêng của ngài là sự đầy tràn các ân huệ của Thánh Thần: hiểu biết, mạnh  mẽ, khôn ngoan. Tất cả các ân huệ này liên quan đến hành động, việc đọc ra các dấu chỉ, hiểu biết các con người và các biến cố.

Nhưng một nét được nhấn mạnh trên tất cả: “Ngài đã sống như thể thấy Đấng Vô Hình.” Thành ngữ này lấy từ thư Do Thái. Tác giả thánh mô tả đức tin của các tổ phụ từng sống giữa những thăng trầm của cuộc đời với sự kiên trì chịu đựng những thử thách nhờ lòng cậy trông vững vàng rằng lời hứa của Thiên Chúa sẽ trở thành hiện thực. Đến chỗ nói về Môsê, thư Do Thái nhắc lại các công trình của ông và các khó khăn ông đã gặp. Và điều được khẳng định là tất cả đã được hoàn thành bởi vì “ông đã đi qua thế giới này như thể nhìn thấy Đấng Vô Hình.” Nguyên văn đoạn Kinh Thánh này là: “Nhờ đức tin, ông bỏ Ai Cập mà không sợ cơn thịnh nộ của nhà vua; ông vững vàng không nao núng, như thể xem thấy Đấng Vô Hình.”25 Câu này được áp dụng rất đúng cho Don Bosco, con người với những giấc mơ lớn về việc cứu rỗi các thanh thiếu niên khỏi sự khốn cùng vật chất hay tinh thần và việc loan truyền Tin Mừng. Nó mô tả rất hay cách xử sự của ngài trước các sự vật trần thế và các biến cố lịch sử như thể ngài nhìn thấy sự hiện diện của Thiên Chúa tác động trong chúng. Nó theo cùng triền tư tưởng với bài đọc phụng vụ, nhấn mạnh đức tin và sự đại độ của ngài.

4. Kế hoạch đời sống

Một hạt nhân suy niệm cuối cùng: điểm hoà nhập giữa tất cả sinh lực tự nhiên của ngài và các sự soi sáng của ân sủng: một kế hoạch đời sống thống nhất, phục vụ thanh thiếu niên. Khoản Hiến Luật này dành một đoạn bình luận dài, với các thành ngữ càng lúc càng mạnh hơn để cho thấy rõ cố gắng của Don Bosco nhằm thực hiện kế hoạch, những khó khăn ngài đã khắc phục bằng sự hiến mình hoàn toàn và bằng việc tận dụng mọi năng lực thể chất, tinh thần, thiêng liêng của ngài. Không còn là “giấc mơ” nữa, mà là kế hoạch được thực hiện với sự nhạy bén của một con tim quảng đại và được tiến hành với sự chắc chắn và kiên định, cuối cùng đã khuôn đúc nhân cách ngài, và trở thành quĩ đạo lịch sử cho sự trưởng thành của ngài như một vị thánh độc đáo.

Hiến Luật Salêdiêng sẽ nói rằng sự thánh hiến của chúng ta bao gồm đồng thời đời sống chung, việc theo Đức Kitô và sứ mạng giới trẻ. Nhưng chính sứ mạng này là cái tạo cho toàn thể đời sống chúng ta sắc thái cụ thể.26 Nó là cái phân biệt và hình thành con người chúng ta. Nó là nơi đòi hỏi và thể hiện các nhân đức của người Salêdiêng, là chỗ mà người Salêdiêng buộc phải tạo lại sự hoà hợp tuyệt diệu giữa tính nhân bản và tinh thần Thiên Chúa.

5. Kết luận

Sẽ khó có thể hiểu và sống linh đạo Salêdiêng trong tư cách cá nhân và cộng đoàn nếu chúng ta không thường xuyên đến với nguồn mạch và gốc gác của nó. Một nguy hiểm thực sự là cắt nghĩa linh đạo này theo các khuynh hướng tự nhiên của chúng ta.

Trong đời sống của các cộng đoàn, tình yêu đối với Don Bosco cho tới nay đã được diễn tả một cách tự nhiên và là bảo đảm cho sự hiệp nhất và nhiệt huyết tông đồ. Nó thuộc về tinh thần của chúng ta. Don Stella đã viết một cuốn sách về việc đào tạo hình ảnh của Don Bosco như một mẫu người hấp dẫn đối với thanh thiếu niên và được thế giới chấp nhận, một mẫu người nhạy bén đối với việc thăng tiến những người hèn kém nhất. Vì thế trong số những nét đặc trưng của tinh thần chúng ta, có tình con thảo đối với Don Bosco, kèm theo những tình cảm gắn bó và ngưỡng mộ ngài. Trong khi đó sự xa cách và lạnh lùng đã tạo ra các hiệu quả tiêu cực.

Tuy nhiên ngày nay chúng ta cần có một sự thay đổi về ngôn ngữ và thái độ: chúng ta đi từ việc tường thuật đơn sơ và tán dương sang sự hiểu biết sâu xa, đặt các sự kiện và lời nói vào trong bối cảnh của chúng, nỗ lực suy nghĩ lại ý nghĩa của chúng trong hoàn cảnh và văn hoá của chúng ta. Và điều này đòi hỏi thật nhiều lòng yêu mến và chú tâm, và hơn nữa, đòi hỏi một sự phân định kiên nhẫn và sáng suốt.


Chú thích

16xem Rm 12,6

17xem Hiến Luật Salêdiêng 21

18Thư viết năm 1884, MB XVII, trg 175

19MB XIX, trg 81

20xem MB I, trg 118

21P. Brocardo, Don Bosco profondamente uomo – profondamente santo, LAS, Roma 1985, trg 35

22Giovanni Bosco, Memorie dell’Oratorio, a cura di A. Da Silva Ferreira, LAS, Roma 1992, trg 66.

23Giovanni Bosco, Vita di San Domenico Savio, Cap. XVIII.

24xem N. Cerrato, Don Bosco e le virtù della sua gente, LAS, Roma 1985

25Dt 11, 27


FMA Logo

Địa chỉ: 57 Đường số 4, Khu phố 56, P. Tam Bình, TP. Hồ Chí Minh

Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về email: libraryfmavtn@gmail.com

Liên Kết

Truyền Thông FMA

Copyright Dòng Con Đức Mẹ Phù Hộ © 2026