FMA Logo

III. CHÚA HIẾN THÁNH CHÚNG TA BẰNG ƠN THẦN KHÍ CỦA NGÀI



 1.  Nền tảng linh đạo của chúng ta: sự thánh hiến

Chúa Thánh Thần thúc đẩy lịch sử tới chỗ hoàn thành và hiệp thông với Thiên Chúa. Ngài làm điều này nhờ lương tâm của mỗi người, như Đức Gioan Phaolô II nói: “Chúa Thánh Thần không ngừng đi vào lịch sử thông qua cõi lòng của con người.”27 Nhưng ngài làm điều này cách đặc biệt thông qua những con người và những cộng đoàn có ý thức về sự hiện diện của ngài, đi theo các gợi ý của ngài, và để mình bị lôi kéo bởi các hứng khởi của ngài.

Ví dụ điển hình trong Kinh Thánh là Abraham: phát xuất từ ông, sự hiểu biết về một Thiên Chúa duy nhất và đức tin đã trở thành di sản của một dân tộc.

Còn có các ví dụ khác là các ngôn sứ: từ các cử chỉ và lời nói của họ phát sinh niềm hi vọng, ánh sáng và sự nâng đỡ cho mọi người.

Trong lịch sử hiện đại, các ví dụ về hoạt động này của Chúa Thánh Thần, thông qua những con người và cộng đoàn, là các Giáo Hội, các thánh và các đặc sủng, các nhà tư tưởng tôn giáo, các mục tử: họ giống như một sự hội tụ hay những điểm từ đó phát toả năng lực của Chúa Thánh Thần.

Giữa những người này cũng có chúng ta, những Kitô hữu, tu sĩ, và linh mục: chúng ta được tháp nhập vào Đức Kitô nhờ Phép Rửa và chúng ta đã chọn theo ngài bằng việc tuyên giữ các lời khuyên phúc âm, đời sống chúng ta diễn ra dưới tác động của Thần Khí mà Đức Kitô ban cho các môn đệ ngài. Điều quan trọng là có ý thức về điều này và không để ý thức ấy hao mòn theo năm tháng.

Một trong những nét ấn tượng nhất trong cuộc đời Don Bosco là việc ngài xác tín mình được Thiên Chúa chọn để thực hiện một sứ mạng. Đây là chủ đề của giấc mơ đầu tiên, nó sẽ tạo thành kịch bản của tác phẩm “Memorie dell’Oratorio” của ngài. Nhưng cũng chính nhận thức này cho thấy điều đó khi ngài tóm tắt lịch sử của các tu hội.

Don Stella diễn tả điều này qua mấy câu: “Sự xác tín rằng mình chịu một sức ép đặc biệt của Thiên Chúa đã chi phối cả cuộc đời Don Bosco, nó là gốc rễ của những quyết định táo bạo nhất của ngài và nó sẵn sàng bùng nổ thành những hành vi khác thường. Niềm tin chắc mình là một dụng cụ của Chúa cho một sứ mạng đặc biệt đã ăn rễ sâu và vững chắc nơi ngài. (. . .) Nó xây nơi ngài nền tảng của thái độ tôn giáo đặc trưng của Người Tôi Tớ trong Kinh Thánh, của người ngôn sứ không thể nào gỡ mình ra khỏi ý muốn của Thiên Chúa.”28

Vì vậy, đối với ngài, làm việc cho những thanh thiếu niên nghèo khổ nhất không chỉ là đi theo một khuynh hướng tự nhiên hay đáp ứng một sự nhạy cảm xã hội đặc thù nào, mà là hoàn thành một nhiệm vụ mà ngài coi là được Thiên Chúa uỷ thác.

Nhận thức này chính là cơ sở cho mọi sự phát triển của linh đạo Salêdiêng chúng ta.

2.  Sự thánh hiến của chúng ta

Tông huấn Vita Consecrata nhấn mạnh rất nhiều về sự kiện tu sĩ là những con người được hiến thánh. Hai số nói rõ điều này ngay trong tiêu đề: “In Spiritu: Được hiến thánh bởi Chúa Thánh Thần”29. Khi nói về Chúa Cha, tông huấn nhấn mạnh “Sáng kiến của Thiên Chúa”30; khi nói về Chúa Con, tông huấn nêu rõ nhu cầu theo ngài “Theo chân Đức Kitô”31. Nhưng tông huấn khẳng định rõ ràng rằng cả hai điều này có thể thực hiện được là vì Thần Khí làm sống động bên trong chúng ta. “Được hiến thánh như Đức Kitô vì Nước Thiên Chúa”32 là tiêu đề của một số khác trong tông huấn nói một cách minh nhiên về sự thánh hiến.

Tông huấn cũng có số 32 nói về “Giá trị đặc biệt của đời sống thánh hiến”.

Không phải hết mọi người đều hài lòng với sự nhấn mạnh này, nhất là vì sợ rằng nó khiến người ta nghĩ các tu sĩ như là những con người thánh thiêng trong môi trường văn hoá xã hội. Thực vậy, não trạng ngày nay có khuynh hướng nghĩ về chúng ta như là những công dân như mọi người, chỉ khác là chúng ta đã chọn Thiên Chúa.

Không ai phải lo lắng hay sợ hãi, dù là một nghị viên Quốc hội hay bộ trưởng nội vụ. . . Sự chọn lựa này nằm trong lãnh vực các chọn lựa cá nhân, tuy rằng sau đó chúng ta diễn tả nó trong cộng đồng. Tuy nhiên ý nghĩ rằng điều này có thể khơi dậy trở lại sự hiện diện của những con người thánh thiêng nào đó trong xã hội đã đặt một số người vào thế tự vệ.

Ngay trong Hội Thánh cũng có một số người nghi ngờ khi nghĩ rằng các người thánh hiến có thể tự nghĩ về mình, hay người khác có thể nghĩ về họ, như là trổi vượt hơn những người khác (sự “trổi vượt khách quan” của đời thánh hiến). Do đó, thái độ không thích nhấn mạnh vào sự thánh hiến phát xuất từ mối lo sợ rằng những con người thánh hiến, về mặt xã hội, có thể được coi là những con người đặc biệt và thánh thiêng, và trong Hội Thánh, tương phản với quan niệm về Hội Thánh ngày nay, là những con người trổi vượt. 

Hiển nhiên ngôn ngữ có những giới hạn nội tại của nó, nhưng không điều nào trong hai điều ấy nói lên ý nghĩa của sự thánh hiến. Ở đây có một chân lý cần thấu triệt.

Sự nhấn mạnh của Tông huấn vào sự thánh hiến như là nét đặc trưng và phân biệt của tu sĩ, chúng ta cũng gặp thấy trong Hiến Luật chúng ta. Không thể không lưu ý đến sự giống nhau giữa hai bản văn. Hiến Luật giới thiệu chúng ta thực tại này khi nó lặp đi lặp lại rằng chúng ta được hiến thánh bằng ân huệ của Thần Khí. Hiến Luật SDB nói: “Chúa Cha hiến thánh chúng ta bằng ơn Thần Khí của ngài và sai chúng ta đi làm tông đồ cho thanh thiếu niên.”33 Còn trong Hiến Luật FMA chúng ta đọc thấy: “Chúa Cha mời gọi chúng ta sống bí tích Thánh Tẩy cách sung mãn hơn và thánh hiến chúng ta bằng hồng ân của Thánh Thần.”34

Cũng không thể không lưu ý đến sự giống nhau của thành ngữ mà thánh Luca sử dụng khi nói về Chúa Giêsu: “Thần Khí Chúa ngự trên tôi; . . . Người đã xức dầu hiến thánh tôi và sai tôi đi ...”35 Điều đó cho thấy một sự ý thức mạnh về một sự kiện của hiện hữu xảy ra nơi chúng ta mà chúng ta hoàn toàn không phủ nhận, thậm chí còn cảm thấy mình được Chúa yêu thương cách đặc biệt.

Khi chăm chú đọc toàn thể bản văn Hiến Luật, chúng ta thấy chủ đề hay động cơ này được trình bày rất thường xuyên, gần như lặp đi lặp lại một cách thái quá. Điều đó muốn nói rằng nó tạo thành nền tảng của toàn bộ kế hoạch đời sống chúng ta. Nó cũng còn được diễn tả bằng những lời khác tương tự như thế: ơn gọi, giao ước với Thiên Chúa, hiến mình hoàn toàn, tình ưu ái, chọn lựa triệt để. Tất cả chỉ diễn tả một điều duy nhất: một mối quan hệ hoàn toàn đặc biệt với Thiên Chúa Đấng ghi dấu ấn của ngài vào kinh nghiệm cá nhân của chúng ta và hoạt động giáo dục của chúng ta36.

Ngoài sự nhấn mạnh này, việc sử dụng động từ ở dạng bị động cũng đáng chú ý. Hiến Luật không nói “chúng ta tự hiến thánh mình” mà nói “chúng ta được hiến thánh”: chúng ta được hiến thánh không phải bởi một người, một nghi thức hay một tổ chức nhân loại hay thần linh nào, mà bởi Thần Khí: “Thiên Chúa hiến thánh chúng ta bằng ơn của Thần Khí.”

Sự thánh hiến không phải một cố gắng của chúng ta để đạt một mức nhân đức nào đó hay đạt được chính Thiên Chúa, và để hoàn toàn thuộc về ngài. Nhưng nó là một sự viếng thăm, một quà tặng, là việc ngài đến với chúng ta, là sự tuôn đổ hồng ân của ngài trên đời sống chúng ta. Chúng ta thấy rõ điều này trong các ơn gọi ngôn sứ. Các ơn gọi này xảy ra đột xuất và không thể đoán trước. Không phải vị ngôn sứ cất bước đi tìm Thiên Chúa, mà là Thiên Chúa bao phủ họ, chiếm đoạt họ. Ngôn sứ Amos nói ông đang chăn đoàn chiên thì nghe tiếng Chúa gọi37.

Ít năm trước, Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin xuất bản một văn kiện về “Một vài khía cạnh của việc suy niệm Kitô giáo” (15 tháng 10, 1989). Lý do dẫn tới việc xuất bản văn kiện này là sự phổ biến tràn ngập các lối thực hành suy niệm của phương Đông. Đọc văn kiện này chúng ta hiểu rõ sự khác biệt giữa một nền linh đạo duy lý-tự nhiên và nền linh đạo Kitô giáo. Nền linh đạo tự nhiên có vẻ là một sự chinh phục thuần tuý: qua một nỗ lực tìm kiếm tri thức và làm chủ các cử động bản năng, con người đạt tới giác ngộ. Ngược lại, đời sống thiêng liêng Kitô giáo được quan niệm như một ân huệ của Thánh Thần. Nó là một sự mở lòng lắng nghe, đáp lời, để mình bị chiếm hữu, đón nhận. Nó là ân sủng. Sáng kiến và các khả năng không ở trong chúng ta.

Cho nên trong linh đạo phương Đông, con đường chính yếu là sự ý thức về mình, sự tu luyện để làm mình tin tưởng vào khả năng của chính mình và sự thoả mãn vì có những thành công tiếp theo. Trong nền linh đạo Kitô giáo, con đuờng chính là đức ái. Đó là việc cảm thấy một sự hiện diện biến chúng ta thành đối tượng của tình yêu ưu ái và đáp lại bằng tình yêu. Nó hoàn toàn đặt nền trên mối quan hệ này. Điều quan trọng không phải là ý thức về giá trị của mình cho bằng tâm tình biết ơn. Người Kitô giáo là một hữu thể biết ơn: “Chúng con tạ ơn Cha vì vinh quang vô biên của Người.”

Còn một điểm đặc thù nữa cần rút ra từ các lời của Hiến Luật: ý nghĩa toàn diện được gán cho từ này. Thánh hiến không phải “một” yếu tố của đời sống Salêdiêng, mà nó bao gồm “toàn thể” đời sống chúng ta. Nó không chỉ bao gồm các lời khấn; nó là tất cả hữu thể và hành động của một người, trong suốt cuộc đời, được ghi dấu ấn bởi sự chọn lựa của Thiên Chúa.

Về điểm này chúng ta phải ghi nhận sự khác biệt giữa một cô y tá giỏi, thậm chí dễ thương và ân cần, với một chị nữ tu làm y tá. Vấn đề không hệ tại chất lượng phục vụ hay thậm chí hệ tại cung cách bác ái, bởi có những cô y tá thật tuyệt vời cả trong phương diện này. Chất lượng của chị nữ tu nằm ở chỗ khác: ở những giá trị bên trong thực tại chị nữ tu, mà chị phải tìm cách biểu lộ qua đức ái.

Trong thực tại và nhận thức về sự thánh hiến này, sau một thời kỳ suy tư và tranh luận, người ta tìm ra nền tảng và nét đặc trưng của đời sống tu trì: một đời sống cảm thấy bị lôi kéo về Thiên Chúa và tập trung vào ngài, dù là tìm kiếm ngài trong kinh nguyện, trong thinh lặng và cô tịch, hay là dấn thân phục vụ ngài trong đồng loại qua đức ái.

Suy tư của Thượng Hội Đồng nhấn mạnh rằng không một yếu tố nào, ngoài yếu tố này, có thể tạo căn tính cho đời sống tu trì trong thế giới hiện đại: không phải các hoạt động giáo dục hay xã hội, không phải việc tình nguyện phục vụ các nước nghèo, cũng không phải việc đấu tranh cho chính nghĩa của con người; chỉ có sự kiện người ta nhìn nhận quyền tối thượng của Thiên Chúa trong việc định hướng và tổ chức đời sống của chính mình. Ngày nay hơn bao giờ, đời tu đòi hỏi sự trong sáng.

Từ đó chúng ta thấy sự yếu kém của một ơn gọi khi động cơ của nó chỉ là hoạt động giới trẻ hay công cuộc truyền giáo. Các động cơ này sẽ cạn kiệt dần nếu chúng không đâm rễ sâu nơi những động cơ khác vững chắc và lâu bền hơn.

3. Sự thánh hiến: ân huệ của Thiên Chúa và kinh nghiệm bản thân

Rõ ràng ngày nay khi nói về thánh hiến, người ta nghĩ đến một kinh nghiệm cá nhân và nội tâm, hơn là nghĩ đến các yếu tố bên ngoài, xã hội, tổ chức, nghi thức, là những cái có thể đưa những con người vào một tình trạng đặc biệt trong xã hội hay trong cộng đồng Kitô giáo.

Khi chúng ta nói về sự thánh hiến của mình, chúng ta nghĩ đến ba sự kiện của đời sống chúng ta.

Sự kiện thứ nhất là ân sủng, ân huệ, linh hứng, ơn gọi, sáng kiến, sự xâm nhập của Thiên Chúa. Ngài làm chúng ta cảm nghiệm được ngài trong đời sống chúng ta đến độ bao trùm toàn diện đời sống chúng ta và ở đó ngài trở thành “động cơ” chính. Ngài là người chúng ta nghe  nhiều nhất và một cách chăm chú và hứng thú nhất. Sự quyến rũ hay say đắm Thiên Chúa này là một sự kiện và một kinh nghiệm mà chúng ta có thể khơi dậy trở lại.

Chắc chắn chúng ta nhớ rõ khi nào và như thế nào chúng ta đã quyết định chọn ngài, giống như các cặp vợ chồng nhớ rõ họ đã gặp nhau và phải lòng nhau như thế nào. Với một số người có thể là một sự soi sáng bất ngờ và đầy ấn tượng vào một giờ phút thiêng liêng sâu đậm nào đó, một cuộc tĩnh tâm chẳng hạn. Với đa số, mọi sự diễn ra một cách tiệm tiến: một cuộc tiếp xúc thử đầu tiên với các môi trường hay các con người có liên quan tới đời tu, mà nơi họ mình nhận ra một giá trị đặc biệt nào đó. Rồi sau đó, từng bước, khám phá ra nguồn mạch của các giá trị đó; tham dự vào kinh nghiệm của những người đã gây ấn tượng mạnh đối với mình, bằng tình bạn, sự cộng tác và tin cậy. Sau cùng, người ta cảm thấy bị “bắt chộp”, theo thành ngữ thánh Phaolô đã dùng: “Tôi đã được Đức Kitô chiếm đoạt.”38

Đó là kinh nghiệm Kinh Thánh của việc thuộc về Thiên Chúa và không thể nào gỡ mình ra khỏi ngài: “Ngài đã quyến rũ con, lạy Chúa, và con đã để cho ngài quyến rũ. . . Lời ngài cứ như ngọn lửa bừng cháy trong tim, âm ỉ trong xương cốt. Con nén chịu đến phải hao mòn, nhưng không làm sao nén được!”39

Thế là trong thâm tâm chúng ta có sự xác tín mình được Thiên Chúa chú ý và yêu mến, không phải một cách chung chung như trong một đám đông, mà một cách cá nhân: “Ta đã gọi đích danh ngươi”40 “Ta đã yêu ngươi bằng mối tình muôn thuở”41.

“Người đã chọn ta trước cả khi tạo thành vũ trụ, để chúng ta được làm nghĩa tử của Người”42. Các thành ngữ mang âm giọng này thì đầy dẫy trong Kinh Thánh khi mô tả thái độ của Thiên Chúa đối với chúng ta. Thiên Chúa đi vào cuộc đời chúng ta, đã lập cư trong lòng chúng ta và chúng ta đã nói: đây là điều làm tôi thuyết phục, đây là con đường tôi phải đi.

Đồng thời chúng ta có bằng chứng đây là một ân sủng, một điều gì mà chúng ta không đáng được cũng không tìm kiếm, nhưng nó đã đến gặp chúng ta, đã đi vào đời sống chúng ta. Thỉnh thoảng chúng ta nghe kể những câu chuyện cá nhân này khi trong các cuộc giao lưu giới trẻ, một giáo sư trẻ nào đó kể lại cho bạn bè làm thế nào và tại sao họ đã quyết định bước vào đời tu.

Năm 1993 các chị dòng Clarít mừng 900 năm dòng của họ. TV đã phỏng vấn một vài chị. Câu hỏi mà các nhà báo tò mò muốn biết nhất là đâu là các lý do hay sự kiện đã dẫn các chị đến quyết định chọn một nếp sống như thế. Các câu trả lời cho thấy các giai thoại hay các hoàn cảnh rất đa dạng. Nhưng ẩn bên dưới tất cả vẫn là cùng một ý tưởng: sau một tia sáng đầu tiên loé lên từ giá trị của Đức Kitô, của Thiên Chúa Cha đối với đời sống của mình, sự suy tư đã dẫn họ tới việc chọn các ngài làm “tình yêu” của cuộc đời họ, họ yêu thích các ngài hơn tất cả mọi sự và mọi kinh nghiệm nhân loại nào khác.

Kinh nghiệm này không suy giảm dần theo tuổi tác hay thói quen, nhưng trưởng thành và phải làm đầy cuộc sống. Nếu nó suy tàn, đời tu sẽ mất đi động cơ của nó và sẽ bị kéo lê trong thái độ của nghĩa vụ, nghĩa là chỉ làm đúng những bổn phận của mình.

Khi kinh nghiệm này mất đi, sự căng thẳng sẽ xảy ra cho chúng ta giống như xảy ra cho các cặp vợ chồng mệt mỏi phải tiếp tục sống chung trong hoà bình, vì họ không còn cảm nhận được tình yêu của nhau và đời sống không còn hứng thú nữa.

Sự thánh hiến không chủ yếu hệ tại một sắc lệnh, một tập hợp các dấu hiệu bề ngoài, một địa vị xã hội hay một sự cách ly khỏi thế gian; mà trên hết nó hệ tại sự kiện Thiên Chúa đã đi vào trong cuộc đời của một người và đã lấy nó làm nơi cư ngụ chính, ngài ngự ở đó và làm cho nó thành người đối thoại và đối tác của ngài. Cho nên sự thánh hiến không là độc quyền của các tu sĩ và thậm chí của các người Kitô giáo. Bất cứ ở đâu Thiên Chúa can thiệp, bằng việc sáng tạo hay cứu độ, ngài đều hiến thánh bằng sự hiện diện của tình yêu Người và ban cho phẩm giá bất khả xâm phạm. Sự thánh hiến đầu tiên là sự hiện hữu của con người: nó là hành vi tình yêu đầu tiên thiết lập tính chất bất khả xâm phạm của con người và địa vị của con người trên mọi tạo vật.

Nhờ đức tin và phép rửa, là sự Thiên Chúa tự thông truyền qua thừa tác viên của Hội Thánh, việc chúng ta thuộc về Thiên Chúa trở nên ý thức và biến đổi thành nguyên lý phát triển con người chúng ta. Chính chúng ta từng nhiều lần cắt nghĩa cho thanh thiếu niên khi nói về sự thánh hiến của phép rửa rằng nó làm chúng ta trở thành con cái Thiên Chúa, thành viên của dân ngài, và đền thờ của Chúa Thánh Thần.

Cái đặc sắc của người tu sĩ là họ cảm thấy tất cả điều này như là yếu tố chính, một điểm không thể từ chối để thể hiện bản thân mình. Sáng kiến của Thiên Chúa đến với họ vào lúc họ lập kế hoạch đời sống mình: nhờ ân huệ của Chúa Thánh Thần, họ lôi kéo sáng kiến ấy về với mình một cách triệt để và tuyệt đối. Cũng có thể họ không tuyên khấn tu trì và Hội Thánh không sát nhập sự kiện này của đời sống vào sứ mạng và sự hiệp thông hữu hình, nhưng sự kiện này tự nó vẫn tồn tại. Tất nhiên nó có ít sức mạnh và ý nghĩa. Sự kiện gia nhập một dòng tu cũng là sự tỏ lộ công khai việc gắn bó với một kế hoạch đời sống, là một chọn lựa tốt hơn và một con đường thoả đáng hơn. Tuy nhiên sự thánh hiến trước tiên là chỗ ở mà Thiên Chúa đã lấy trong một cuộc đời, trong trí khôn, trong con tim, v.v... Điều này là để nhấn mạnh rằng chúng ta hoàn toàn không phải như quan niệm của những người coi chúng ta là những con người thánh thiêng trong xã hội. ... Chính chúng ta cũng không hề tự nghĩ về mình như thế!

4.  Một chọn lựa và một kế hoạch đời sống

Từ sự kiện đầu tiên này, trong đó nhân vật chính là Thiên Chúa, phát sinh một sự kiện thứ hai: sự chọn lựa đời sống của chúng ta. Chín muồi nơi chúng ta sự xác tín, sự hiểu biết hay cảm giác rằng chúng ta thuộc về ngài, rằng “trong ngài chúng ta sống, cử động và hiện hữu”43, rằng ngài là trên hết và quan trọng duy nhất, không phải một cách trừu tượng hay chung chung, cho thế giới hay cho loài người, mà cho chúng ta. Chúng ta tư duy trong ngài. Chúng ta tìm kiếm ngài “từ rạng đông”44, nghĩa là không ngừng.

Từ đó phát xuất một mối tương quan sẽ đổ đầy đời sống chúng ta bằng ý nghĩa và sự an bình, kể cả trên bình diện tâm lý, và tạo nét đặc trưng cho chúng ta trước mặt thế giới. Người thánh hiến là người đã đặt Thiên Chúa và giá trị tôn giáo (đức tin) vào trung tâm hiện hữu của mình. “Chúa là phần gia nghiệp con”45. Thế là người ấy tự trao ban mình, hiến mình hoàn toàn, tự hiến thánh mình theo nghĩa tương tự của từ này. Cố gắng của họ là đạt đến chỗ trở thành tạo vật chỉ có một ước muốn duy nhất, sống tình yêu Thiên Chúa hay mầu nhiệm Thiên Chúa không như một dịp nghỉ ngắn cuối tuần hay một chốc lát nghỉ ngơi trong ngày, ví dụ, trong thánh lễ hay lúc cầu nguyện, mà như một tình trạng và một sự quan hệ thường hằng, là nền tảng cho mọi chọn lựa của họ.

Nhiều người không hiểu được các lý do hay ý nghĩa của sự chọn lựa này. Nhưng họ lãnh hội được sự nhất quán nội tại của nó. Họ cảm phục những ai có khả năng diễn tả nó bằng đời sống và hành động, và ngược lại họ phê bình những ai, sau khi có sự chọn lựa này, đã đặt vào trung tâm hiện hữu của mình những giá trị không phù hợp hay xa lạ với nó.

Chúng ta đảm nhận một kế hoạch cụ thể, một hình thức hiện hữu hữu hình mang dấu ấn của Thiên Chúa, chúng ta sát nhập mình vào một cộng đoàn đã có cùng sự chọn lựa này và đã dọn sẵn một hành trình để phát triển nó. Cả kiểu sống này cũng là một kiểu “thánh hiến” không phải vì sự cách ly thể lý khỏi thế giới, khỏi các dấu hiệu hay việc thực hành bề ngoài (đây sẽ là một quan niệm xa lạ với đức tin Kitô giáo), nhưng bởi vì nó được hoạch định và tổ chức trong ánh sáng của mối tương quan với Thiên Chúa và Nước ngài, một mối tương quan có sức biến đổi con người chúng ta.

Về điểm này, người ta thường nhấn mạnh việc bắt chước Đức Kitô, được diễn tả trong các lời khấn. Cần phải thêm vào hai đòi hỏi khác. Trước hết là tình thân mật với Chúa Kitô. Chấp nhận những ưu tiên hành động và những thái độ của ngài mà thôi không đủ. Ngài muốn chúng ta quan hệ với ngài. Đức Giêsu là một con người sống mà chúng ta phải gặp gỡ và sống trong ngài. Giữa người thánh hiến và ngài có một mối quan hệ sâu xa. Đời sống của các tông đồ dạy chúng ta biết điều đó. Thực vậy, Chúa Giêsu từng có các người nghe ngài, ngưỡng mộ ngài, theo ngài, các môn đệ và một số người đặc biệt thân mật và nghĩa thiết với ngài: “Anh em là bạn hữu của thầy”46.

Ngày nay khi mọi yếu tố cơ chế tỏ ra suy yếu và mọi sự liên kết hình thức có vẻ “tạm bợ”, lối diễn tả phúc âm này về sự trung thành và tình yêu có thể gợi ý cho chúng ta nhiều điều. 

Đây là chỗ thích hợp cho một lời bình luận: nên dành chỗ cho những biểu hiện tình cảm bằng hữu thân mật với Đức Kitô ngoài những biểu hiện thực tiễn. Cần tránh hai thái cực: biến đổi tình yêu thành một tình cảm hời hợt bên ngoài, một chuyển động thuần tuý của sự nhậy cảm gần như của tuổi thiếu niên; và ở thái cực kia, làm quả tim chúng ta khô cằn với một thái độ nặng về lý trí. Nếu nhiều lần ý chí bị kìm hãm trong tình yêu Thiên Chúa, đó là vì sự nhậy cảm con người của chúng ta bị khô héo. Bao lâu đức tin hay tư tưởng về Thiên Chúa còn chưa đạt tới các tình cảm, nó vẫn chỉ là phụ thuộc và cằn cỗi. Đã từng có những vị thánh bộc lộ một tình yêu rất dịu dàng đối với Thiên Chúa. Chúng ta có thể nhớ đến thánh Phanxicô Assisi, và cũng không kém, tuy với một phong cách khác, thánh Phanxicô Salê, vị thánh mà linh đạo của chúng ta từ đó phát sinh.

Ngoài việc bắt chước và tình thân mật với Chúa Giêsu, còn có sự tham dự tích cực vào mục đích của ngài, nghĩa là tiêu hao đời mình vì những người mà ngài đã làm việc và chịu đau khổ cho.

Ba yếu tố này chúng ta diễn tả bằng việc tuyên khấn. Các văn thức tuyên khấn xưa kia thì cô đọng và súc tích. Các văn thức ngày nay ngược lại dài dòng và phân tích hơn. Tuy nhiên tất cả đều mang tính đặc trưng bởi vì chúng nhấn mạnh rằng đối tượng của sự thánh hiến không phải là các sự vật, cũng không phải các hoạt động hay các bó buộc đạo đức, mà là con người; rằng lý do là tình yêu Thiên Chúa được nhận ra và ước muốn đáp lại tình yêu ấy. Vì vậy các đòi hỏi của sự thánh hiến là toàn diện, độc quyền, trọn đời: hoàn toàn, một mình, mãi mãi. Có một thời công thức phổ biến được viết là “cho đến chết”.  Nó không phải mang ý nghĩa về thời gian mà mang ý nghĩa về cường độ: cho tới mức toàn thiêu, bị đốt cháy hoàn toàn.

Việc tuyên khấn có một tầm quan trọng đặc biệt trong tổ chức và sự phát triển đời sống thiêng liêng của chúng ta. Vì thế phụng vụ ngày nay làm tăng giá trị việc tuyên khấn bằng một cuộc cử hành phong phú. Sự hiện diện đông đảo của cộng đoàn làm nổi bật khía cạnh xã hội của nó. Thời kỳ chuẩn bị trực tiếp xác nhận cho nó một nét cá biệt độc đáo. Thực vậy, cùng một lúc có sự nhìn nhận công khai của cộng đồng Hội Thánh về sự đổ tràn Thiên Chúa vào đời sống một con người, lời đáp tình yêu của người này trước lời mời của Thiên Chúa, việc đảm nhận một kế hoạch đời sống. Trên nền tảng của sự cam kết mà họ thực hiện, họ sẽ xây dựng hiện hữu của mình.

Đây không phải một hành vi thoáng qua, một chữ ký vào một văn bản, mà là khởi điểm của một mối quan hệ lâu dài, giống như quan hệ của hôn nhân. Từ nó sẽ phải trào vọt ra các thái độ, cử chỉ và lời nói. Vì thế kết quả không phải chỉ là một ý hướng nên thánh mà còn là một nguồn mạch ân sủng, giống như đối với vợ chồng là lời hứa ban đầu sẽ thuộc về nhau.

5. Các hệ quả quan trọng

Từ những điều nói trên, chúng ta có thể rút ra một ít suy tư cho đời sống chúng ta.

Những người thánh hiến:

Là những người đàn ông và đàn bà theo nghĩa tôn giáo, và điều này bao gồm mọi người, dù là tín hữu hay không. Đời sống cá nhân và tập thể dựa trên một tập hợp các giá trị mà mọi người chấp nhận: tôn trọng người khác, lao động, sức khoẻ, lương thiện, trách nhiệm xã hội. Nói đến tập hợp là cho thấy giữa chúng có một tổ chức và một bậc thang để có thể coi chúng như một hệ thống. Mỗi người chúng ta đặt một số giá trị mình ưa thích hơn vào trung tâm, và tổ chức toàn bộ các giá trị một cách nhất quán các giá trị trung tâm này.

Những người thánh hiến chú tâm vào giá trị tôn giáo và từ đó họ dọi phóng ra các giá trị khác, đồng thời luôn quay trở về với giá trị tôn giáo như lý do biện minh và điểm xuất phát của tất cả những gì họ làm. Vì giá trị này, họ đảm nhận việc giáo dục, chăm sóc bệnh nhân, chuyên lo công việc nghiên cứu. Mọi lãnh vực hoạt động của con người đều mở rộng cho những người thánh hiến, miễn là sự gợi hứng và động cơ của chúng phù hợp với người đã lấy Thiên Chúa làm sự lựa chọn chính của mình. Có sự khác biệt lớn giữa một nhà giáo dục lương thiện và giỏi chuyên môn với một nhà giáo dục là tu sĩ.

Sẽ có sự bất thường khi một chiều kích khác lấn át và ý thức tôn giáo trở thành thứ yếu. Đặc biệt trong các tu hội chuyên lo giáo dục hay các việc phục vụ khác, có thể có một sự mất cân đối giữa vai trò chuyên môn và việc chứng tá tôn giáo. Tillard nói rằng ý thức tôn giáo đối với người thánh hiến là vệ sinh đối với bác sĩ. Một sự thiếu sạch sẽ có thể dung thứ được nơi bất cứ ai, nhưng nơi một bác sĩ phẫu thuật thì là điều thiếu nghiêm túc.

* Họ tỏ ra là những nhà chuyên môn trong kinh nghiệm về Thiên Chúa. Họ không chỉ chọn linh đạo làm con đường sống chính của họ; mà họ còn tự nguyện trở thành những người đối thoại cho tất cả những ai trên thế giới đang đi tìm Thiên Chúa. Với những ai đã là Kitô hữu, họ cống hiến những người này khả năng để cùng với họ có kinh nghiệm tôn giáo, và với những ai chưa là Kitô hữu họ đứng bên cạnh và đồng hành trên con đường tìm kiếm. Kinh nghiệm tôn giáo là nguồn gốc ơn gọi của họ. Kế hoạch đời sống mà họ đảm nhận giúp vun trồng ơn gọi này và đặt nó ưu tiên về thời gian và hoạt động. Đàng khác, mọi Kitô hữu đều phải và muốn có kinh nghiệm nào đó về Thiên Chúa; nhưng vì họ chỉ có thể dành phần nào thời gian và ở trong những điều kiện sống kém thuận lợi hơn, nên dễ có nguy cơ chểnh mảng việc này.

Các người thánh hiến đồng thời cũng là một sự nhắc nhở về Thiên Chúa cho những người Kitô hữu và không Kitô hữu, và một sự trợ lực cho những người muốn tìm kiếm, nhận ra và nếm cảm sự hiện diện của ngài.

Trong đời sống có một qui luật áp dụng cho mọi lãnh vực: không một giá trị nào tồn tại trong xã hội mà không có một nhóm người hoàn toàn hiến mình để phát triển và duy trì nó. Không có giới thầy thuốc và tổ chức của các bệnh viện thì không thể nào có sức khoẻ. Không có các nghệ sĩ và các tổ chức nghệ thuật thì óc nghệ thuật của dân chúng sẽ mai một. Điều này cũng xảy ra như thế với ý thức về Thiên Chúa: các tu sĩ, dù là người chiêm niệm hay hoạt động, là tập thể những con người thần bí có khả năng giúp đỡ đồng loại đọc được ý nghĩa đời sống của họ trong ánh sáng của cái tuyệt đối và kinh nghiệm cái tuyệt đối.

Đó là điều thuộc về các mục tiêu chính của đời tu. Vì thế các đấng sáng lập đã đặt ý thức về Thiên Chúa vượt lên trên mọi hoạt động và mọi khía cạnh khác. Những người tin đạo cũng như không tin đạo đều nhận ra tình trạng đạo đức tầm thường của các tu sĩ như là một sự thoái hoá. Bản thân các tu sĩ này cũng cảm nhận một sự trống rỗng không thể lấp đầy khi họ mất ý thức về Thiên Chúa. Lúc ấy bắt đầu có các khủng hoảng và chúng cứ lớn dần.

Tông huấn Vita Consecrata đã nhìn đời sống tu trì như là nơi ưu việt cho cuộc đối thoại giữa các tôn giáo lớn47, bởi vì tự nguồn gốc của nó có một sự chọn lựa được chia sẻ chung giữa mọi người có tình cảm tôn giáo sâu xa.

Hiến Luật Salêdiêng nhắc nhớ điểm này ở khoản 62: “Trong một thế giới bị quyến rũ bởi thuyết vô thần và việc sùng bái các ngẫu tượng khoái lạc, của cải và quyền lực, lối sống của chúng ta làm chứng, đặc biệt cho thanh thiếu niên, rằng Thiên Chúa hiện hữu và tình yêu ngài có thể lấp đầy một cuộc sống.”

Diện mạo chuyên nghiệp này của chúng ta được chứng tỏ bằng kinh nghiệm cá nhân của chúng ta về Thiên Chúa được nhận ra, trở nên ý thức, đào sâu, tìm kiếm và chín muồi nơi con người trưởng thành. Và bằng khả năng khơi dậy kinh nghiệm về Thiên Chúa nơi những người khác, đặc biệt các thanh thiếu niên. Họ ước ao, ít là vì tò mò hay vì một cảm giác thoáng qua, có những khoảnh khắc cảm nghiệm thiêng liêng. Sự kiện này được thấy rõ trong các nhà tĩnh tâm. Thế nhưng trong nhiều nhà tĩnh tâm, các hội viên Salêdiêng thường quan tâm nhiều tới việc điều hành hơn là việc hướng dẫn thanh thiếu niên khám phá Thiên Chúa, cảm nhận ngài trong cuộc đời họ.

Đảm nhận sự thánh thiện như mục tiêu chính của cuộc đời. Không chỉ hướng tới nó như một sự đúng đắn tinh thần hay một nỗ lực tu đức, mà như một lối sống và quan hệ, qua đó chúng ta tỏ lộ một cách nào đó mầu nhiệm Thiên Chúa có sức giải phóng và gần gũi.

Các thánh thường được gọi là sự tỏ lộ khuôn mặt của Đức Kitô hôm nay. Thánh Vinh Sơn Phaolô từng nói: “Nếu Đức cha Phanxicô Salê dễ mến như thế, thì Chúa Giêsu còn tốt lành biết chừng nào.”

Hiến Luật nói sự thánh thiện là quà tặng quí báu nhất mà chúng ta có thể trao ban cho thanh thiếu niên. Trong thực tế, việc xây dựng nhân bản của họ là công việc rất khó khăn. Họ bị chìm ngập bởi biết bao những thông điệp và gợi ý từ bên ngoài, khiến họ rất khó có thể phân định và chọn lựa.

Không dễ để các thanh thiếu niên nhận ra được ý nghĩa rõ ràng trong bối cảnh trần tục, và bầu khí phóng khoáng của xã hội ngày nay làm họ khó có được các chuẩn mực đạo đức chín chắn; và cũng không dễ để họ tin rằng Đức Kitô hiện đang sống hôm nay chứ không phải chỉ là một câu truyện của quá khứ.

Có thể nói thêm rằng sự thánh thiện cũng là sự cống hiến của tu sĩ cho văn hoá và việc thăng tiến con người. Thực vậy, sự thánh thiện cũng có một giá trị trần thế không chỉ nhờ các công cuộc bác ái cho người nghèo, mà còn nhờ ý nghĩa và phẩm giá nó đưa vào trong cuộc sống chung của loài người.

Congar viết: “Cái mới to lớn nhất của Công Đồng là: nếu Hội Thánh ở trong thế giới và trong thế giới có các vấn đề, thì sự thánh thiện là một hiện tượng mà nền văn hóa phải quan tâm đến. Đây có vẻ là một khái niệm có thể tranh cãi, nhưng một trực giác trọng tâm của Công Đồng là sự thánh thiện có liên quan với lịch sử. Với biến cố Nhập Thể, lịch sử của con người là nơi bộc lộ tình yêu của Thiên Chúa; do đó sự thánh thiện không phát sinh từ việc trốn tránh hay phủ nhận thế giới, bởi vì tuỳ theo mức độ tôi dấn mình vào trong thế giới để cứu rỗi nó mà tôi tìm thấy món quà tặng lớn của Thiên Chúa”48.

Chúng ta đã suy tư đôi chút về sự thánh hiến và việc tuyên khấn của chúng ta; những suy tư này cho chúng ta thấy rõ ràng những hệ lụy cho đời sống chúng ta. Từ đó, những người thi hành quyền bính có nhiệm vụ cấp bách sinh động hoá việc thánh hiến tu trì, để sống nó trong sự sung mãn các ý nghĩa và tầm quan trọng của nó.


Chú thích

26xem HL SDB 3

27ĐGH Gioan Phaolô 2, Thông điệp “Dominum et Vivificantem”, số 59

28P. Stella, Don Bosco nella storia della religiosità cattolica, Vol. II, PAS-Verlag, Zurigo 1969, trg 32.

29VC số 19

30VC số 17

31VC số 18

32VC số 22

33HL SDB 3

34HL FMA 5

35Lc 4,18

36Hiện có một nhóm đang suy tư về phần đóng góp chuyên biệt của người tu sĩ trong hoạt động giáo dục

37xem Am 1,1

38Pl 3,12

39Gr 20,7-9

40Is 41,8

41Gr 31,3

42Ep 1,19

43Cv 17,28

44Tv 62,2

45Tv 16,15

46xem Ga 15,14

47xem VC số 101-102

48Radio Vaticana, 20-02-84; “Avvenire”, 22-2-84


FMA Logo

Địa chỉ: 57 Đường số 4, Khu phố 56, P. Tam Bình, TP. Hồ Chí Minh

Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về email: libraryfmavtn@gmail.com

Liên Kết

Truyền Thông FMA

Copyright Dòng Con Đức Mẹ Phù Hộ © 2026