IV. ĐỨC ÁI MỤC TỬ
Trên kia chúng ta đã thấy “kiểu mẫu” con người thiêng liêng là Don Bosco: nhân bản sâu xa và hoàn toàn cởi mở với Thiên Chúa; sự hoà hợp của hai chiều kích này được thể hiện trong một kế hoạch đời sống được đảm nhận bằng quyết định: phục vụ thanh thiếu niên. Điều này được nêu bật qua lời bình luận: “Ngài đã không đi một bước, không nói một lời, không bắt tay vào một việc gì, mà không nhắm cứu vớt giới trẻ”49.
Tuy nhiên nếu xem xét kỹ kế hoạch của ngài đối với giới trẻ, chúng ta thấy ngài có một “tấm lòng”, một yếu tố tạo cho ngài hướng đi và nét độc đáo: “Thật sự ngài không chú tâm vào điều gì khác ngoài các linh hồn”50.
Sau đó có một giải thích xa hơn và đích đáng hơn về sự thống nhất đời sống của ngài: bằng việc hiến mình cho thanh thiếu niên, ngài muốn thông truyền cho họ kinh nghiệm về Thiên Chúa. Sự hiến mình của ngài không chỉ là lòng quảng đại, mà là đức ái mục tử. Đức ái mục tử được coi là “tâm điểm và tổng hợp” của tinh thần Salêdiêng51.
“Tâm điểm và tổng hợp” là một khẳng định tích cực. Nếu chỉ liệt kê các nét đặc trưng, thậm chí cơ bản của linh đạo chúng ta, mà không tích cực thiết lập giữa chúng một tương quan hay bậc thang giá trị, thì dễ làm hơn là chọn lọc ra trong đó một nét đặc trưng chính yếu. Trong trường hợp này, cần đi vào tâm hồn của Don Bosco và của người Salêdiêng để khám phá ra điều gì cắt nghĩa phong cách của ngài.
Để hiểu đức ái mục tử bao gồm điều gì, chúng ta thực hiện ba bước sau đây: trước hết suy tư về đức ái, rồi riêng về tính chất mục tử, và sau cùng về đức ái mục tử Salêdiêng.
1. Đức Ái
Thánh Phanxicô Salê từng nói câu này: “Con người là sự hoàn thiện của vũ trụ; tình yêu là sự hoàn thiện của con người; đức ái là sự hoàn thiện của tình yêu”52.
Đó là một vũ trụ quan nhìn bốn kiểu hiện hữu theo một trật tự lên dần: hữu thể, con người, tình yêu như dạng cao hơn mọi dạng ý thức và quan hệ nhân bản nào khác, đức ái như biểu hiện lớn nhất của tình yêu.
Tình yêu là điểm tối ưu của sự trưởng thành của mọi người, bất luận là Kitô hữu hay không. Cố gắng giáo dục nhằm mục tiêu đưa con người tới chỗ có khả năng tự hiến, tới một tình yêu nhân hậu.
Không riêng gì Chúa Giêsu, các nhà tâm lý học cũng nói rằng con người hoàn hảo và hạnh phúc có khả năng sống quảng đại và vô vị lợi, và tránh thứ tình yêu thuần dục vọng, nghĩa là để thoả mãn vì được yêu. Nhiều hình thức tâm bệnh hay rối loạn nhân cách phát xuất từ việc qui về bản thân mình. Và tất cả các liệu pháp tương ứng đều nhằm mở ra để hướng về người khác.
Do đó đức ái là mục tiêu chính của linh đạo: nó không chỉ là giới luật thứ nhất và chính yếu, và do đó là chương trình chính của hành trình thiêng liêng, mà còn là nguồn năng lượng để tiến tới. Có rất nhiều suy tư về đức ái, nhất là nơi thánh Phaolô53 và thánh Gioan.54
Chúng ta nêu ra mấy điểm nòng cốt.
Đức ái được đốt lên trong lòng chúng ta là một mầu nhiệm và một ân sủng; nó không xuất phát từ sáng kiến con người nhưng là sự tham dự vào đời sống thần linh và là hiệu quả của sự hiện diện của Thánh Thần. Chúng ta không thể yêu mến Thiên Chúa nếu ngài đã không yêu chúng ta trước, bằng cách làm chúng ta cảm nghiệm ngài và cho chúng ta sự thích thú và hiểu biết để đáp ứng điều này. Chúng ta cũng không thể yêu mến đồng loại và thấy hình ảnh Thiên Chúa nơi họ, nếu chúng ta không có kinh nghiệm cá nhân về tình yêu Thiên Chúa.
“Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta.”55 Mặt khác, chính tình yêu nhân loại cũng không thể lý giải được, vì thế người ta thường nói tình yêu mù quáng. Không ai có thể lý giải cách chính xác tại sao một người lại đem lòng say mê một người khác.
Vì bản chất này của đức ái, tham dự vào sự sống thần linh và kết hiệp mầu nhiệm với Thiên Chúa, đức ái tạo ra trong chúng ta khả năng khám phá và nhận biết Thiên Chúa: tôn giáo mà không có tình yêu thì đưa người ta xa rời Thiên Chúa. Tình yêu đích thực, dù là tình yêu thuần nhân loại, đưa những con người xa cách đến với đức tin và môi trường tôn giáo. Dụ ngôn người Samari nhân hậu làm nổi bật tương quan giữa tôn giáo và đức ái bằng cách đặt đức ái lên trên.
Thánh Gioan tóm tắt điều này như sau: “Anh em thân mến, chúng ta hãy yêu thương nhau, vì tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa. Phàm ai yêu thương, thì đã được Thiên Chúa sinh ra và người ấy biết Thiên Chúa. Ai không yêu thương thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu.”56 Ý nghĩa của động từ “biết” là “có kinh nghiệm”, hơn là có những khái niệm chính xác: ai yêu mến thì có một kinh nghiệm nào đó về Thiên Chúa.
Vì vậy đức ái là khả năng cho phép chúng ta biết Thiên Chúa qua kinh nghiệm, thì cũng làm chúng ta vui hưởng ngài: “Bây giờ chúng ta thấy lờ mờ như trong một tấm gương, mai sau sẽ được mặt giáp mặt. Bây giờ tôi biết chỉ có ngần có hạn, mai sau tôi sẽ được biết hết, như Thiên Chúa biết tôi.”57
Vì đức ái không chỉ là một nhân đức đặc thù, mà là mô thể và chất thể của mọi nhân đức và của tất cả những gì tạo thành con người: “Giả như tôi có nói được các thứ tiếng của loài người và của các thiên thần đi nữa. . . Giả như tôi được ơn nói tiên tri hay có được tất cả đức tin đến chuyển núi dời non ... và giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí. . . mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi.”58
Vì vậy đức ái và những gì phát xuất từ nó là những thực tại sẽ tồn tại mãi, không bị mai một theo thời gian: “Đức mến không bao giờ mất được. Ơn nói tiên tri ư? Cũng chỉ nhất thời. Nói tiếng lạ chăng? Có ngày sẽ hết. Ơn hiểu biết ư? Rồi cũng chẳng còn. . . Khi cái hoàn hảo tới, thì cái có ngần có hạn sẽ biến đi.”59 Điều này không chỉ áp dụng cho đời sống, mà cho cả lịch sử chúng ta. Những gì xây dựng trên tình yêu thì tồn tại và kiến tạo con người chúng ta, cộng đoàn chúng ta, xã hội chúng ta. Trong khi những gì xây dựng trên sự giận ghét và ích kỷ thì sẽ tiêu tan.
Cho nên đức ái là đặc sủng lớn nhất và là gốc của mọi đặc sủng khác, nhờ đó Hội Thánh được xây dựng và hoạt động. Ngay sau khi cắt nghĩa mục đích và nhiệm vụ của các đặc sủng khác nhau, thánh Phaolô bắt đầu một bài giảng về đức ái với những lời này: “Anh em cứ thiết tha tìm kiếm những ơn cao trọng nhất. Nhưng đây tôi xin chỉ cho anh em con đường trổi vượt hơn cả.”60
Nó là đặc sủng chính cả khi nó được diễn tả qua những cử chỉ hằng ngày và không tỏ ra điều gì phi thường hay ngoạn mục: đức mến “thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, chịu đựng tất cả.”
Đối với Don Bosco và Mẹ Mazzarello, cũng như đối với mọi vị thánh, đức ái là trung tâm. Nó là điều chính yếu được nhấn mạnh trong cuộc đời các ngài. Chúng ta cần biết và nói lên điều này. Trong thực tế, thỉnh thoảng có một vài người Salêdiêng có kinh nghiệm về nó, khám phá tầm quan trọng của đức ái trong một phong trào Hội Thánh, sau nhiều năm sống trong Tu Hội. Có vẻ như trong Tu Hội chúng ta đã không được nghe nói về đức ái một cách hiệu quả, và đã không có thể sống nó một cách sâu đậm.
Trong giấc mơ mười viên ngọc — là một dụ ngôn về tinh thần Salêdiêng — đức ái được đặt ở phía trước và ngay trên quả tim của nhân vật: “Ba trong số các viên ngọc ở phía trước ngực, viên ở trên quả tim có hàng chữ: ĐỨC ÁI”61. Qua giấc mơ hay dụ ngôn này, chúng ta biết cái được đặt phía trước chính là phần nền tảng của tinh thần chúng ta.
Hơn nữa, đức ái được các đấng sáng lập của chúng ta khuyên dạy theo rất nhiều hình thức: như nền tảng của đời sống cộng đoàn, như nguyên tắc sư phạm, như nguồn mạch lòng đạo đức, điều kiện để có sự quân bình và hạnh phúc cá nhân, thực hành các nhân đức đặc biệt, như tình bạn, nền giáo dục tốt, sự từ khước các lợi ích cá nhân.
Cả trong Hiến Luật chúng ta, học biết yêu mến là mục đích của chính đời sống tu trì: “Một con đường dẫn tới tình yêu”62. Toàn thể các việc thực hành và kỷ luật, các qui tắc và giáo huấn thiêng liêng đều chỉ nhằm đạt một điều duy nhất: làm chúng ta có khả năng đón nhận mọi người và dấn mình phục vụ với lòng quảng đại.
2. Đức Ái Mục Tử
Đức ái có nhiều cách biểu hiện: tình mẫu tử, tình vợ chồng, lòng nhân đạo, sự cảm thông. Trong lịch sử của sự thánh thiện, các cách diễn tả bao gồm mọi lãnh vực của đời sống con người.
Các người Salêdiêng (SDB) và Con Đức Mẹ Phù Hộ (FMA) nói về một đức ái “mục tử”.
Cách diễn tả này xuất hiện nhiều lần trong các Hiến Luật, văn kiện và bài giảng của họ. Công Đồng đã nêu rõ ý nghĩa của đức ái mục tử là gì khi nhắc đến những người chuyên lo công việc giáo dục đức tin: “Họ được ban ân sủng bí tích, để khi cầu nguyện, thánh hoá và rao giảng. . . họ thể hiện một thừa tác vụ đức ái mục tử hoàn hảo: do đó họ không ngại hiến mạng sống mình cho đàn chiên, và trong khi trở thành mẫu mực cho đàn chiên, họ cũng dùng gương sáng của mình để làm cho Hội Thánh ngày càng trở nên thánh thiện hơn”63.
Lời này có ý vạch ra một hình thức của đức ái. Nó làm chúng ta hình dung ra khuôn mặt của Đức Giêsu Mục Tử Tốt Lành64. Tuy nhiên không chỉ ở các hình thức của các hoạt động của nó: nhân hậu, tìm kiếm kẻ lạc, đối thoại, tha thứ. Mà cũng là và nhất là ở chính bản chất thừa tác vụ của họ: mặc khải Thiên Chúa cho mọi người, nam cũng như nữ.
Và chúng ta thấy quá rõ nó khác với các hình thức bác ái xoay quanh việc quan tâm đặc biệt tới các nhu cầu khác nhau của con người: sức khoẻ, lương thực, việc làm.
Yếu tố điển hình của đức ái mục tử là loan báo Tin Mừng, giáo dục đức tin, thiết lập cộng đồng Kitô giáo, làm dậy men Tin Mừng trong môi trường sống. Vì thế nó đòi hỏi sự sẵn sàng hiến mình hoàn toàn vì sự cứu rỗi của mọi con người, của từng người, dù là của chỉ một người mà thôi. Don Bosco và các người Salêdiêng theo sau ngài diễn tả đức ái này bằng một câu: Da mihi animas, coetera tolle.
Các tu hội lớn và các trào lưu linh đạo lớn đã cô đọng tâm điểm của đặc sủng này vào một câu vắn gọn. Dòng Tên có câu: “Vì Vinh Quang Cao Cả của Thiên Chúa”; dòng Phanxicô có lời chào chúc “Bình An và Tốt Lành”; dòng Biển Đức có chủ trương “Cầu Nguyện và Làm Việc”; và dòng Đaminh có qui tắc: “Chiêm ngắm và truyền lại cho người khác điều đã chiêm ngắm”.
Các chứng nhân thời kỳ đầu và suy tư thời sau của Tu Hội đã dẫn đến niềm xác tín rằng châm ngôn tóm tắt linh đạo Salêdiêng chính là “Da mihi animas”.
Chắc chắn thành ngữ này đã thường xuyên xuất hiện trên cửa miệng Don Bosco và đã tác động trên diện mạo thiêng liêng của ngài. Đó là châm ngôn đã gây ấn tượng mạnh cho Đaminh Saviô trong phòng làm việc của Don Bosco khi ngài còn là một linh mục trẻ (34 tuổi) và đã khiến cậu đưa ra lời bình luận đã trở thành nổi tiếng: “Con hiểu ở đây người ta không lo chuyện tiền bạc, mà lo mua các linh hồn. Con hiểu rồi: con hi vọng linh hồn con cũng có phần trong chuyện mua bán này.”65 Vì vậy, đối với cậu bé Saviô, rõ ràng Don Bosco không chỉ cống hiến sự dạy dỗ và chỗ ăn chỗ ở, nhưng trên hết ngài cống hiến một cơ hội tăng trưởng thiêng liêng.
Cách diễn tả này đã được đưa vào trong Phụng vụ: “Chúa cũng khơi dậy nơi chúng con chính đức ái tông đồ ấy để thúc đẩy chúng con tìm kiếm các linh hồn để phụng sự Chúa, là mối lợi duy nhất và cao nhất”.
Quả đúng như thế, vì Don Bosco đã luôn luôn mang ý hướng đó trong việc thiết lập các hiệp hội: “Mục đích của hội này, đối với các hội viên của hội, không là gì khác hơn một lời mời gọi cùng nhau hiệp lực theo lời thánh Augustinô: divinorum divinissimum est in lucrum animarum operare (điều linh thiêng nhất trong các điều linh thiêng là làm việc vì lợi ích các linh hồn)”66.
Chúng ta đọc trong lịch sử: “Chiều ngày 26 tháng 1, 1854, chúng tôi cùng tụ tập trong phòng Don Bosco và ngài đề nghị chúng tôi thử thực hiện việc thi hành đức ái nhờ sự trợ giúp của Chúa và thánh Phanxicô Salê. . . và thế là những người đã tự nguyện hay sẽ tự nguyện việc thực hành này được gọi là Salêdiêng”67.
Sau Don Bosco, từng vị Bề Trên Cả, theo các nhân chứng đáng tin cậy, đều tái xác nhận niềm xác tín ấy. Điều thú vị là sự kiện tất cả các nhân chứng đều đồng tình xác nhận điều này một cách nghiêm túc khiến chúng ta không còn chút nghi ngờ.
“Don Rua đã có thể khẳng định trong các án kiện: Ngài mặc cho những người khác thu tích của cải. . .và chạy theo danh vọng; Don Bosco thực sự không để tâm tới gì khác ngoài các linh hồn: Ngài nói bằng việc làm, không chỉ bằng lời: Da mihi animas, coetera tolle”.
Don Albera cũng vậy, người từng sống chung với Don Bosco lâu năm, làm chứng: “Khái niệm làm sinh động tất cả đời sống ngài là làm việc vì các linh hồn cho tới mức tiêu hao bản thân mình hoàn toàn. . . Cứu rỗi các linh hồn. . . có thể nói là lý do duy nhất của đời ngài”68. Một cách quả quyết hơn, cũng vì muốn nhấn mạnh các động cơ sâu xa của hành động của Don Bosco, Don Philippo Rinaldi thấy châm ngôn “Da mihi animas” là bí quyết của tình yêu, sức mạnh, và nhiệt tình của đức ái của Don Bosco.
Liên quan tới nhận thức ngày nay, sau cuộc suy tư lại về đời sống Salêdiêng trong ánh sáng Công Đồng, cha Bề Trên Cả Don Egidio Viganò diễn tả như sau: “Tôi xác tín rằng không có thành ngữ tổng hợp nào diễn tả tinh thần Salêdiêng hay hơn thành ngữ mà chính Don Bosco đã chọn: Da mihi animas, coetera tolle.
Châm ngôn này diễn tả một sự kết hợp nồng cháy với Thiên Chúa làm chúng ta thấm nhập vào trong mầu nhiệm của đời sống Ba Ngôi của ngài được tỏ lộ trong lịch sử nơi sứ mạng của Chúa Con và Chúa Thánh Thần như là Tình Yêu vô biên nhằm cứu rỗi các linh hồn”69.
Thành ngữ hay châm ngôn này có xuất xứ từ đâu và nó có thể có ý nghĩa chính xác nào cho chúng ta hôm nay? Tôi nói hôm nay, khi từ linh hồn không diễn tả và không gợi ra cùng một ý nghĩa như nó đã có trong các thời đại trước.
Thành ngữ này được gặp thấy trong sách Sáng Thế, chương 14. Bốn ông vua liên minh tiến đánh năm ông vua khác, trong đó có vua của Sôđôma. Trong cuộc vây hãm thành phố, Lot cháu của Abraham cũng bị bắt cùng cả gia đình. Abraham được tin báo. Ông cùng cả bộ lạc trang bị khí giới lên đường. Ông đánh bại quân địch, chiếm lại chiến lợi phẩm và chuộc lại người. Lúc ấy vua Sôđôma tạ ơn ông và nói, “Xin cho lại tôi những người của tôi, tất cả những cái khác ông cứ việc lấy.” Sự xuất hiện của Melchisedech, vị tư tế mà không ai biết lai lịch, tạo một ý nghĩa tôn giáo và thiên sai đặc biệt cho câu truyện, nhất là qua việc ông này chúc phúc cho Abraham. Đây là một tình huống hoàn toàn không có nghĩa gì là “thiêng liêng”. Tuy nhiên trong lời yêu cầu của vua có sự phân biệt rõ rệt giữa những con người và các “cái khác”, tức là các sự vật.
Don Bosco gán cho câu nói này một giải thích cá nhân của ngài qua quan niệm tôn giáo-văn hoá của thế kỷ trước. “Linh hồn” chỉ yếu tố thiêng liêng của con người, là trung tâm của tự do và lý do của nhân phẩm họ, là nơi để họ mở ra với Thiên Chúa.
Sự pha trộn của hai ý nghĩa, ý nghĩa Kinh Thánh và ý nghĩa do Don Bosco gán cho, gần với nền văn hoá chúng ta, cho thấy những chọn lựa rất cụ thể.
Trước hết, đức ái mục tử quan tâm đến con người và xoay quanh con người: con người toàn diện; trước hết và trên hết nó quan tâm đến con người, phát triển các nguồn lực của con người. Rồi mới đến các “cái khác”; cống hiến việc phục vụ là vì mục đích tăng trưởng ý thức và ý nghĩa của chính nhân phẩm.
Hơn nữa, đức ái liên quan trước hết tới con người là đức ái được huớng dẫn bởi một “quan niệm” về con người. Con người không chỉ sống vì cơm bánh; họ có những nhu cầu trực tiếp, nhưng cũng có những khát vọng vô biên. Họ ước muốn những của cải vật chất nhưng cũng muốn những giá trị thiêng liêng. Theo cách nói của thánh Augustinô, con người “được dựng nên cho Thiên Chúa, khao khát Thiên Chúa.”
Cho nên sự cứu rỗi mà đức ái mục tử tìm kiếm và cống hiến là sự cứu rỗi toàn diện và dứt khoát. Tất cả các cái khác được nhắm đến là vì sự cứu rỗi này: được hưởng sự giáo dục tốt đẹp; sự khai tâm vào đời sống tôn giáo; sự khai tâm tôn giáo vào đời sống ân sủng và hiệp thông với Thiên Chúa.
Có thể nói cách khác rằng trong nền giáo dục hay thăng tiến của chúng ta, chúng ta dành ưu tiên cho chiều kích tôn giáo. Không phải để dụ dỗ người ta theo đạo, mà để chúng ta xác tín rằng nó là nguồn mạch sâu xa hơn của sự trưởng thành nhân vị. Trong thời đại tục hoá hôm nay, không dễ gì thể hiện ý hướng này.
Châm ngôn cũng hàm chứa một chỉ dẫn về phương pháp: trong việc đào luyện hay tái tạo con người cần phải nỗ lực và làm sống lại các sức mạnh thiêng liêng của con người, lương tâm, sự mở lòng ra với Thiên Chúa, tư tưởng về số phận vĩnh cửu của con người. Khoa sư phạm của Don Bosco là khoa sư phạm của linh hồn, của sự siêu nhiên. Khi người ta chạm tới được điểm này, mới gọi là bắt đầu công việc giáo dục thực sự. Các cái khác chỉ là giai đoạn dự bị hay chuẩn bị.
Don Bosco nói rõ điều này trong tiểu sử Micae Magone. Cậu bé từ đường phố đến sống tại nguyện xá. Cậu thấy hài lòng, và về nhân bản là một đứa bé tốt: hồn nhiên và thành thật, chơi đùa, học tập, có nhiều bạn bè. Cậu chỉ thiếu một cái: hiểu biết đời sống ân sủng, quan hệ với Thiên Chúa, và sống quan hệ ấy. Cậu mù tịt về tôn giáo. Cậu gặp khủng hoảng và trở nên buồn rầu khi so sánh mình với các bạn và nhận thấy mình thiếu điều ấy. Don Bosco nói chuyện với cậu. Từ lúc ấy bắt đầu cuộc hành trình giáo dục được mô tả trong cuốn tiểu sử: dẫn đến nhận thức và chấp nhận chiều kích tôn giáo và Kitô giáo.
Do đó có một sự chọn lựa và một khoa tu đức cho những ai được thúc đẩy bởi đức ái mục tử: “Cetera tolle”, “Mọi thứ khác cứ lấy đi”. Cần phải từ bỏ nhiều cái để cứu rỗi cái chính yếu; có thể giao phó cho những người khác và thậm chí bỏ mặc nhiều hoạt động khác để có thời giờ và điều kiện mở lòng các thanh thiếu niên ra cho Thiên Chúa. Và không chỉ trong đời sống cá nhân mà cả trong các chương trình và các công cuộc tông đồ.
“Những ai tìm hiểu đời sống của Don Bosco, bằng cách lần theo các cơ cấu tinh thần và khám phá các dấu vết tư tưởng của ngài đều nhận ra một điểm then chốt: ơn cứu độ của Hội Thánh công giáo, kho tàng trữ duy nhất các phương tiện cứu rỗi. Ngài cảm thấy mối thách thức của giới trẻ bị bỏ rơi, nghèo khổ và lang thang như đánh thức nơi ngài nhu cầu khẩn trương giáo dục để giúp những thanh thiếu niên này hội nhập vào thế giới và Hội Thánh nhờ phương pháp của lòng hiền từ và bác ái; nhưng với một ý hướng bắt nguồn từ niềm ao ước ơn cứu độ vĩnh cửu của giới trẻ”70.
3. Gợi ý suy tư
Chúng ta tổng hợp lại những điều là nòng cốt để suy tư.
* Linh đạo chúng ta là một linh đạo tông đồ: được diễn tả và phát triển trong hoạt động mục vụ.
* Để hoạt động tông đồ trở thành một “linh đạo” chứ không chỉ là những hoạt động có thể hao mòn, phải có một cái hồn: đó là đức ái. Đức ái tạo sự dễ dàng, tin tưởng, và niềm vui trong hoạt động tông đồ.
* Đức ái thể hiện sự thống nhất đời sống của người Salêdiêng. Nó làm dịu những căng thẳng phát sinh giữa hoạt động và cầu nguyện, giữa đời sống cộng đoàn và sứ mạng, giữa giáo dục và mục vụ, giữa tính chuyên môn và việc tông đồ.
* Tất cả cố gắng của chúng ta trong đời sống thiêng liêng hệ tại việc làm sinh động, thanh tẩy, và kiện cường đức ái: “Ama et fac quod vis”, “Hãy yêu và làm những gì bạn thích”.
Chú thích
49HL SDB 21
50HL SDB 21
51HL SDB 10; HL FMA 80
52xem San Francesco di Sales, Trattato dell’amore di Dio, Vol. II, libro X, c. 1
53xe, 2 Cr 12,13-14
541 Ga 4.
55Rm 5,5
561 Ga 4,7-8
571 Cr 13,12
581 Cr 13,1-3
591 Cr 13,8-10.
601 Cr 12,31
61MB XV, trg 183 (Tất cả Giấc mơ nổi tiếng này)
62HL SDB 196
63LG 41
64xem Ga 10
65Giovanni Bosco, Vita di San Domenico Savio, SEI, Torino 1963, capo VIII, trg 34
66MB VII, trg 622
67MB V, trg 9
68P. Brocardo, Don Bosco profondemente uomo – profondemente santo, LAS Roma 1985, trg 84
69P. Brocardo, Don Bosco profondemente uomo – profondemente santo, LAS Roma 1985, trg 85
70P. Stella, Don Bosco nella storia della religiosità cattolica, Vol. II, Pas Verlag, Zurigo 1969, trg 13