V. CỘNG THỂ: NƠI, DẤU CHỈ VÀ TRƯỜNG HỌC CỦA LINH ĐẠO SALÊDIÊNG
1. Sự cấp bách của đời sống “huynh đệ”
Nơi để chúng ta kinh nghiệm đời sống thánh hiến và bổn phận giáo dục hằng ngày là cộng đoàn: cộng đoàn tu trì, cộng đoàn giáo dục và cộng đoàn nhân loại rộng lớn hơn mà chúng ta hiến mình phục vụ. Khi cộng đoàn hoạt động tốt, mọi cái khác đều trôi chảy. Khi chúng ta tự giáo dục mình cho và trong cộng đoàn, chúng ta sẽ thấy ảnh hưởng tốt trên đời sống thánh hiến và sứ mạng.
Tông huấn Vita Consecrata dành phần thứ hai trong ba phần để nói về tình huynh đệ và đời sống cộng đoàn, và cho thấy tính chất thiết yếu của nó. “Đời sống huynh đệ đóng vai trò cơ bản trong hành trình thiêng liêng của những người thánh hiến, qua việc không ngừng canh tân họ cũng như qua việc thể hiện đầy đủ sứ mạng của họ trong thế giới. Vì vậy tôi khuyên những người nam và nữ thánh hiến cố gắng vun trồng nó, noi gương các Kitô hữu đầu tiên ở Giêrusalem, từng chuyên cần nghe các Tông đồ giảng dạy, cầu nguyện chung, tham dự tiệc Thánh Thể, chia sẻ của cải vật chất và ân sủng (xem Cv 2,42-47)”71.
Mọi hình thức đời tu, do đó, đều có yếu tố không thể thiếu là cộng đoàn. Tuy nhiên mỗi loại đời tu thể hiện nó dưới một dạng riêng biệt và khác nhau. Có thể nói các dạng cộng đoàn khác nhau đều được gợi hứng từ ba mô hình trong Tin Mừng.
* Mô hình thứ nhất là Nadarét, Thánh Gia: nhấn mạnh trên các mối quan hệ yêu thương lẫn nhau sâu đậm, dựa trên sự ý thức về Thiên Chúa, như các mối quan hệ giữa Đức Maria, thánh Giuse, và Chúa Giêsu.
* Mô hình thứ hai là cộng đoàn tín hữu, được mô tả trong sách Công vụ Tông đồ72 : nhấn mạnh việc cầu nguyện chung, để chung của cải, chứng tá các giá trị Tin Mừng.
* Mô hình thứ ba là cộng đoàn của Chúa Giêsu và các tông đồ: nhấn mạnh việc sống với Chúa Giêsu, người rao giảng Nước Thiên Chúa và cùng ngài lo việc phục vụ dân chúng.
Đời sống cộng đoàn của chúng ta được gợi hứng trên hết từ mô hình cộng đoàn mà Chúa Giêsu và các tông đồ đã sống: đó là một cộng đoàn vì Nước Trời, vì Tin Mừng, vì việc phục vụ dân chúng.
Thực vậy, sứ mạng mang lại cho tất cả đời sống chúng ta sắc thái cụ thể và hướng đi của nó. Các cộng đoàn chúng ta là các cộng đoàn trong sứ mạng và vì sứ mạng, nhưng không vì thế mà coi nhẹ khía cạnh tình huynh đệ. Nếu trong các nhà của chúng ta mất đi ý thức về sứ mạng, thì chính tình huynh đệ cũng mất đi màu sắc và sức mạnh của nó.
Mặt khác, cộng đoàn chúng ta không phải là một sứ mạng bao gồm các cá nhân chỉ trở về cộng đoàn vào dịp này hay dịp khác để cầu nguyện và nghỉ ngơi, nhưng là một sự chia sẻ đời sống với nhau: “sống và làm việc chung đối với chúng ta là một đòi hỏi của ơn gọi chúng ta”73.
Sứ mạng Salêdiêng tự bản chất là sứ mạng cộng đoàn. Hiến Luật nói rất rõ điều này, thậm chí diễn tả thành một định nghĩa: “sứ mạng được trao phó cho một cộng thể”74.
Đó là vì chính phương pháp của hệ thống giáo dục dự phòng đòi hỏi một bầu khí gia đình và do đó một mạng lưới các mối quan hệ. Chúng ta không phải là những người dạy học tư, cũng không phải những nhà giáo dục riêng lẻ: chúng ta hoạt động trong và qua một cộng đoàn và chúng ta tìm cách xây dựng những môi trường giới trẻ rộng lớn.
Toàn bộ nội dung và các kinh nghiệm mà hệ thống dự phòng cho là đáp ứng đầy đủ nhu cầu tăng trưởng nhân bản và đức tin, cũng đòi hỏi một sự hiệp lực can thiệp của nhiều người mà một cá nhân không thể hiện được.
Cũng cần nói thêm rằng thanh thiếu niên phải được dẫn dắt tới trưởng thành về các mối quan hệ và đời sống xã hội với tất cả những gì nó bao gồm, và hành trình đức tin mà chúng ta đề nghị có mục tiêu là đưa các thanh thiếu niên tới một kinh nghiệm Hội Thánh và kinh nghiệm cộng đoàn Kitô hữu được sống theo các chiều kích đặc trưng của nó.
Các chương trên đã nêu ra một loạt các gợi ý đáng quan tâm về việc giáo dục đức tin cho giới trẻ và việc thông truyền tinh thần Salêdiêng cho người thường. Chúng giả thiết có sự thể hiện các mục tiêu khác cũng rất đáng chú ý: thành lập cộng đồng giáo dục mục vụ, sinh động hoá cộng đồng này do một tập thể Salêdiêng, một kế hoạch giáo dục mục vụ đặt trọng tâm vào việc tăng trưởng đức tin của thanh thiếu niên.
Khi xem xét kỹ các mục tiêu này, chúng ta thấy chúng được thể hiện dựa trên một yếu tố được coi là chắc chắn và hiệu quả: cộng đoàn Salêdiêng.
Cộng đoàn được mời gọi đọc ra những thách đố đến từ giới trẻ. Cộng đoàn phải suy tư về hành trình đề ra để đức tin của họ được trưởng thành. Cộng đoàn phải sống và thông truyền linh đạo Salêdiêng mà thiếu nó thì sẽ trở thành vô ích mọi cố gắng giúp giới trẻ tiếp xúc với mầu nhiệm Chúa Giêsu và những mục đích kết hợp loài người.
Cộng đoàn có mặt khắp nơi trong các mục đích này cho dù đề tài này không luôn luôn được nói ra một cách minh nhiên. Chúng ta nói với cộng đoàn, hơn là nói về cộng đoàn.
Bản văn HL nói về loại cộng đoàn nào? Cộng đoàn địa phương, cộng đoàn tỉnh, hay cộng đoàn thế giới? Nó nói về ba cấp cộng đoàn cùng hoạt động và có quan hệ hỗ tương, như được nói tới trong các khoản 58 và 59 của Hiến Luật.
Tuy nhiên khi xem xét kỹ hơn các điều khoản Hiến Luật, chúng ta thấy chúng tập trung vào cộng đoàn địa phương và cộng đoàn tỉnh. Cộng đoàn địa phương được trao phó nhiều nhiệm vụ có tính quyết định hơn. Cộng đoàn tỉnh có nhiệm vụ bảo đảm các điều kiện để cộng đoàn địa phương hoạt động tốt, lên kế hoạch cho sứ mạng trong phạm vi tỉnh, sinh động hoá, hỗ trợ và kích thích, đồng thời tạo ra một vòng truyền thông phong phú giữa các cộng đoàn địa phương.
Quan tâm chính không phải là sự thịnh vượng hay việc canh tân tổ chức toàn thể của tu hội, như khi bàn về bản chất của sứ mạng Salêdiêng, đời sống tu trì hay cơ cấu quản trị. Điều được nhấn mạnh bây giờ là khả năng phản ứng, sinh lực của cái mà chúng ta gọi là tế bào và các cơ quan của cơ thể lớn này: các cộng đoàn địa phương và tỉnh.
Hiểu các lý do của điều này không khó. Đó là các cộng đoàn phải tiếp xúc với thanh thiếu niên và dân chúng. Đó là các cộng đoàn tự cảm thấy nơi xương thịt mình những khó khăn để giúp họ thực hiện cuộc hành trình đức tin, và phải nghĩ ra những sáng kiến để đáp ứng các khó khăn ấy. Vì vậy trong các cộng đoàn địa phương chúng ta có thể thấy rõ những dấu chỉ hoạt động và thẩm định được giá trị và tính thực tiễn của các hoạt động ấy trong các hoàn cảnh hiện thời của chúng ta.
Còn một lý do khác nữa. Chỉ khi có sự dấn mình của các cộng đoàn địa phương thì mới có thể làm cho mọi hội viên hay ít là đa số hội viên nỗ lực suy tư lại một khoa sư phạm đức tin và một sức năng động mới của cộng đoàn. Chúng ta biết rằng trên cấp tỉnh và thế giới, chỉ có sự tham dự của một số ít hội viên, tuy rằng các sáng kiến của họ có tầm quan trọng và ảnh hưởng lớn.
2. Cộng đoàn huynh đệ hôm nay
Thời gian gần đây người ta suy tư khá nhiều về cộng đoàn thánh hiến, về hai phương diện:
* phát triển nội bộ, nghĩa là các đòi hỏi, các điều kiện sống và khả năng diễn tả mới được biểu hiện trong các cộng đoàn như hậu quả của nền văn hoá mà các cộng đoàn đang sống, của việc canh tân Hội Thánh và của sự nhạy cảm hiện nay về con người;
* mở rộng sự hiệp thông với bên ngoài: là một chiều kích mới rất được nhấn mạnh hôm nay sau khi có sự đào sâu hiểu biết về Hội Thánh như mầu nhiệm hiệp thông.
Văn kiện Đời sống huynh đệ trong cộng đoàn năm 1994 triển khai khá nhiều về khía cạnh thứ nhất. Tông huấn Vita Consecrata dành nhiều chỗ cho khía cạnh thứ hai.
Trong phần suy tư này, chúng ta xem xét một chút những gì liên quan tới khía cạnh thứ nhất.
Việc xem xét đời sống nội bộ của cộng đoàn tu trì hôm nay không đơn giản. Có nhiều khía cạnh được tập trung chú ý và giải quyết theo các tiêu chuẩn đức tin, nhưng cũng một cách thực tế: việc phục vụ của quyền bính, sự đồng trách nhiệm và tham dự, các mối quan hệ liên vị, tương quan lao động-đời sống hay cộng đoàn tu trì-hoạt động của công cuộc, sự quân bình giữa kế hoạch cộng đoàn và đặc sủng cá nhân, bầu khí riêng tư, sự truyền thông giữa các thế hệ.
Không dễ đề cập đến tất cả các khía cạnh ấy chỉ trong một bài nói chuyện, vì chúng đòi hỏi sự đào sâu và phân tích. Mặt khác để xử lý chúng một cách chín chắn, chỉ nghiên cứu lý thuyết mà thôi không đủ. Trong cộng đoàn có sự tương tác của các cá nhân rất khác biệt nhau. Vì thế đôi khi “tập thể” phải tìm ra một thế quân bình đúng đắn trong một tiến trình suy tư chung hơn là trong các lời khuyên tổng quát có ích cho mỗi cá nhân. Cần có các thái độ quảng đại và các cố gắng kiên trì đối với ai có, biết hay có thể đôi khi bù đắp cho những giới hạn của những người khác: đó là cố gắng của tình yêu biết thích ứng, giúp đỡ, kiên nhẫn, tạo điều kiện, lưu tâm vào lúc thuận lợi của cá nhân, hướng dẫn. Các kiến thức nhân văn và các phương tiện tôn giáo đều ích lợi, nhưng không phải tất cả đều có thể là những giải pháp được áp dụng chung cho mọi trường hợp. Việc thể hiện tình huynh đệ là cơ sở của tất cả.
Chắc chắn một số thay đổi đã làm biến đổi đời sống cộng đoàn và sẽ làm biến đổi nó trong tương lai.
Trước hết là thành phần cộng đoàn: con số hội viên trong mỗi cộng đoàn giảm đi và trong một số trường hợp con số ấy ở mức tối thiểu. Ngoài sự giới hạn về số lượng, các hội viên còn thuộc những thế hệ khác nhau; thậm chí đôi khi phần lớn là những hội viên già. Điều này tất nhiên không xấu, nhất là nếu có đời sống tích cực: như mỗi người sẽ có nhiều trách nhiệm hơn, trong trường hợp có ít hội viên; và như chứng tá của tình yêu và liên đới giữa các thế hệ trong một đời sống theo đặc sủng, trong trường hợp cộng đoàn gồm phần lớn hội viên già. Tuy nhiên, điều chắc chắn là thành phần này của cộng đoàn đòi hỏi một khả năng mới trong các quan hệ và những thái độ đặc thù.
Một sự thay đổi thứ hai liên quan đến mối quan hệ giữa cộng đoàn và công cuộc tông đồ. Hiện nay không còn có sự độc quyền về trách nhiệm đối với công cuộc và không còn có sự tham dự của tất cả mọi hội viên của cộng đoàn tu trì vào công cuộc; thường xuyên hơn, có một ít hay nhiều người tham gia trực tiếp, còn những người khác thì đã nghỉ ngơi. Người ta cảm thấy có sự mất cân đối giữa số lượng tu sĩ và chiều kích của công cuộc tông đồ. Sự mất cân đối này đã được tạo ra khi có sẵn nhiều hội viên. Hậu quả là có sự trao đổi dồi dào giữa các tu sĩ vẫn còn hoạt động, với các người đời đảm nhận các trách nhiệm trong các công cuộc, và trong nhiều trường hợp việc đảm nhận quá nhiều trách nhiệm làm các hội viên rời xa cộng thể.
Một sự thay đổi thứ ba là sự hội nhập nhiều hơn của cộng đoàn vào hoạt động của Hội Thánh và một sự cởi mở hơn đối với môi trường. Đời sống thánh hiến được nhìn không như một sự “rút lui”, mà như một sự hội nhập bằng sự đóng góp và cho sứ mạng. Hậu quả là có một sự gia tăng các mối quan hệ và trao đổi với bên ngoài. Thời gian dành cho cộng thể ít đi và bầu khí tĩnh tâm và bảo vệ của cộng thể kém đi, bị thu hút nhiều hơn bởi sự phức tạp của đời sống và của các kích thích từ môi trường.
Tuy nhiên sự thay đổi quan trọng hơn diễn ra liên quan đến việc chuyển đổi từ nhấn mạnh về đời sống chung sang nhấn mạnh về đời sống huynh đệ trong cộng thể.
Tôi nghĩ rằng hai thành ngữ, đời sống chung và đời sống huynh đệ, ngay lập tức cho chúng ta khái niệm và sự khác biệt về tầm quan trọng. Đời sống chung có nghĩa là làm cùng một việc trong cùng một thời gian (hội họp, cầu nguyện, ăn uống, lao động, v.v...). Đối với đời sống chung, điều quan trọng là “tất cả cùng nhau”: cùng một giờ và ở cùng một nơi. Đời sống huynh đệ trong cộng thể có nghĩa là đón nhận mỗi người trong tính độc đáo hợp pháp của họ, chất lượng các mối quan hệ liên vị, sự tham gia tích cực của mọi người vào đời sống của tập thể. Ngày nay chúng ta để ý nhiều hơn tới sự hiệp nhất giữa các con người, tình huynh đệ của các mối tương quan, sự giúp đỡ và nâng đỡ lẫn nhau, sự đồng qui các ý hướng. Điều này tương ứng với bầu khí văn hoá và sự hiểu biết mới về con người, đòi hỏi được nhìn nhận, đánh giá cao và có vai trò tích cực.
Văn kiện Đời sống huynh đệ trong cộng đoàn nhắc đến sự phát triển đã xảy ra vào thời gian đầu của cuộc canh tân công đồng: quá đề cao tính tự phát và bất ngờ.
Sau khi mô tả sự phát triển này, văn kiện khẳng định rằng cần tìm ra một sự quân bình: không là sự hiệp thông tinh thần thuần tuý mà đánh giá thấp các biểu hiện của đời sống chung; cũng không quá nhấn mạnh tính pháp lý của đời sống chung để rồi đặt những khía cạnh cốt tuỷ của tình huynh đệ trong Chúa Kitô xuống hàng thứ hai: “Anh em hãy thương yêu nhau. Trong điều này người ta sẽ nhận ra anh em là môn đệ thầy”75.
Do đó hai điều trên phải được đặt một cách quân bình và đúng chỗ: cái gì là phương tiện cho cái gì là chính yếu. “Hiển nhiên ‘đời sống huynh đệ’ sẽ không được thể hiện một cách máy móc do việc tuân giữ các qui luật điều hành đời sống chung; nhưng rõ ràng đời sống chung có mục đích nâng đỡ mạnh mẽ đời sống huynh đệ”76.
Hiến Luật của chúng ta giúp hiểu và thể hiện sự quân bình này. Nó nói rằng chúng ta có những lúc sống chung: những lúc này giúp tạo ra giữa chúng ta mối quan hệ trưởng thành, cởi mở cho sự truyền thông, hợp tác, chia sẻ, tham dự, và tiếp nhận người khác theo bản chất của họ.
Việc sắp đặt một cách quân bình và đúng vị trí của hai yếu tố này thể hiện ước muốn và đòi hỏi của việc thành lập các cộng đoàn mới phù hợp với các điều kiện và khát vọng của các con người, như được diễn tả trong Tổng Tu Nghị mới đây của Dòng FMA: “Các cộng đoàn mới, dù nhỏ, vừa, hay lớn, dù phải thực hiện các công cuộc truyền thống hay hội nhập sống động hơn giữa dân chúng, nhưng luôn luôn phải có khả năng giúp các con người tăng trưởng về nhân bản và tôn giáo, giúp họ diễn tả một cách rõ ràng điều mình tin và thông truyền, càng phải diễn tả rõ ràng hơn các giá trị tôn giáo và thích hợp để khơi dậy ước muốn thuộc về đó, nghĩa là các cộng đoàn có khả năng ơn gọi.”
Như chúng ta đã nói, điều này bắt nguồn từ một nhãn giới đức tin. Chúng ta xác tín rằng các anh chị em cùng tụ tập lại nhân danh Chúa thì được sự hiện diện của ngài: “Ở đâu có hai hay ba người tụ tập lại nhân danh thầy, thì thầy ở giữa họ”77. Chúng ta cũng xác tín rằng sống tình huynh đệ nhân danh Chúa là bí quyết hiệu quả trong việc rao giảng Tin Mừng.
Ngoài nhãn giới đức tin cần luôn luôn được đào sâu, ước muốn tạo lập một gia đình đích thực của những con người trưởng thành cần có một hình thức mới trong việc hiểu và thể hiện các quan hệ nhân vị: tìm ra các cơ sở chung của chúng, các hình thức đổi mới chúng trước khi chúng bị hao mòn hoàn toàn, làm cho mọi cá nhân hài lòng về chúng.
Tôi tin rằng hai chủ đề này là cấp bách trong đời sống huynh đệ: chủ đề các quan hệ và chủ đề truyền thông. Chúng là những năng động lực lớn của cộng thể, chúng tập hợp quanh chúng và làm cho có thể có các năng động lực khác mà chúng ta coi là có tầm quan trọng lớn như sự đồng trách nhiệm, việc làm kế hoạch, việc phân định v.v...
Các mối quan hệ liên vị
Các quan hệ liên vị là một trong những bằng chứng hay thước đo của sự trưởng thành nhân cách; chúng thậm chí có thể là dấu chỉ chính phản ánh các đức tính và các giới hạn của con người. Cho nên ngày nay chúng ta đặc biệt lưu tâm đến chúng trong việc đào luyện; và không chỉ trên quan điểm đào luyện, mà còn liên quan tới khía cạnh bản chất và nội tâm. Đối với một người, khả năng sống vui vẻ với anh chị em và hiệu quả trong hoạt động mục vụ phần lớn tuỳ thuộc vào các mối quan hệ này.
Sắc lệnh Optatam Totius khi nói về các ứng sinh chức linh mục, nói rằng phải đòi hỏi nơi họ một mức độ trưởng thành nhân bản nhất định78. Và sắc lệnh nêu ra các đặc tính hay dấu hiệu.
* Sự ổn định tinh thần, để bảo vể họ khỏi tính thất thường và những thay đổi bất ngờ và vô cớ của tính khí, trong các mục tiêu, các niềm xác tín và các kế hoạch đời sống, trong các tiêu chuẩn đánh giá. Chúng ta có kinh nghiệm nhiều về những con người thất thường, đặc biệt giữa các thanh niên. Và điều này xảy ra nhiều giữa các thanh niên là một sự kiện rất có ý nghĩa.
* Khả năng đánh giá một cách chín chắn các sự kiện và con người: sự trưởng thành trong phán đoán biết lưu ý tới mọi khía cạnh của một vấn đề theo tầm quan trọng của chúng, giúp tránh ảnh hưởng quá đáng bởi tính chủ quan và tránh hành động vội vàng; nhất là nó đặt họ vào trong cái nhìn tốt lành về con người, tình yêu và Nước Trời.
* Các quan hệ: khả năng thiết lập các quan hệ sâu xa và trao hiến; có khả năng lâu dài, đánh giá cao con người, nghĩa là có lòng quảng đại vô vị lợi và hướng tới lợi ích của người khác, đặt nền trên các động cơ không vị kỷ. Cần nhấn mạnh vài điểm về các mối quan hệ này.
Các quan hệ lâu dài và trung thành, nghĩa là có khả năng khắc phục các thử thách. Các thử thách luôn luôn có mặt trong các mối quan hệ. Các cặp vợ chồng có các thử thách. Là các mục tử và cố vấn, chúng ta thường phải cảnh giác họ rằng sau một thời gian hạnh phúc thì các khó khăn cũng đến, rằng họ cần tập khắc phục sự mệt mỏi, thói quen, rằng họ cần phải làm sống lại và canh tân các mối quan hệ để chúng lâu bền và không bị xói mòn. Các thử thách cũng có nơi các bạn bè. Chúng ta từng thấy rất nhiều lần các thiếu niên thiếu nữ từng là bạn rất thân của nhau một thời gian, sau đó họ trở thành ác cảm với nhau hay thù địch của nhau. Cần phải học để sẵn sàng khắc phục các thử thách ấy. Giống như trong tình yêu, sự thân thiết ban đầu có thể là sự thiện cảm tự nhiên. Còn sự trung thành là một nhân đức.
Nhưng các mối quan hệ cần phải sâu xa và nội tâm, không chỉ là các quan hệ thuần tuý vì công việc, nhưng có khả năng trưởng thành để trở thành tình bạn. Chúng ta không kết tình bạn với tất cả mọi người. Ngay cả trong tình huynh đệ tu trì, sự giống nhau về quan điểm, và một cách chung chung hơn, chiều kích tình cảm không thể giải thích là sự thiện cảm hợp pháp, tạo thành các mức độ tình bạn khác nhau. Tình trạng này, nghĩa là chúng ta là anh em với mọi người và là “bạn” của những ai có thể là bạn, được chấp nhận một cách tự nhiên, như một điều có lợi cho cá nhân và cho cộng đoàn. Một khoản của Hiến Luật SDB79 nói rằng tình huynh đệ phải có khả năng làm cho mọi người thiết lập được tình bạn thân thiết, được diễn tả theo các mức độ khác nhau tuỳ theo tính khí, sở thích, sự giống nhau, các hoàn cảnh cộng tác hay làm việc chung, việc chia sẻ các kinh nghiệm thiêng liêng (...).
TTN24 của Tu hội SDB nói đến một linh đạo quan hệ80; linh đạo, nghĩa là một đức ái biết để ý, quan tâm, có khả năng và sẵn sàng sáng tạo, sửa chữa, tái lập và gia tăng các quan hệ. Nó là đức ái “mục tử” khi nó được thể hiện trong thừa tác vụ cai quản hay hướng dẫn một cộng đoàn hội thánh.
Sự Truyền thông
Gắn liền với chủ đề các mối quan hệ là chủ đề truyền thông: sự sẵn sàng và khả năng truyền thông và được truyền thông. Ở đây không nói tới lãnh vực truyền thông diễn cảm, chuyên nghiệp hay trình diễn của các ngôi sao truyền hình; nhưng nói về sự truyền thông hằng ngày mà qua đó chúng ta cống hiến một cách dễ dàng kinh nghiệm của mình và đón nhận kinh nghiệm của những người sống quanh ta.
Đánh giá đúng việc truyền thông, biết các qui luật của nó và các trở ngại của nó mà không rơi vào tính chuyên môn, là điều quan trọng đối với mọi nguời, nhưng một cách đặc biệt đối với những người phải tạo ra cho nó một khung cảnh thích hợp. Điều này đòi hỏi:
* Vạch ra các hướng mà việc truyền thông phải lưu chuyển: không chỉ hướng thẳng từ người có quyền đến các người khác và từ người khác đến người có quyền; nhưng hướng vòng tròn và đa hướng, nghĩa là giữa mọi người;
* Bảo đảm một sự phân phối quảng đại các “vai” chủ động của việc truyền thông: không chỉ một vài người triển khai việc truyền thông còn những người khác chỉ là những người “thụ hưởng” một cách hài lòng;
* Hướng tới một mức độ thoả đáng về truyền thông: chúng ta truyền thông về điều gì? Chúng ta dấn mình tới mức độ nào trong việc truyền thông?
Liên quan tới truyền thông là việc đối thoại cởi mở, các cuộc tranh luận tự do và vui vẻ vào các lúc được ấn định, sự thông truyền tự nhiên các tình cảm, ý tưởng, kế hoạch và sở thích, sự phối hợp nhuần nhuyễn các trách nhiệm, các cuộc kiểm điểm chung, các cuộc trò chuyện cá nhân tích cực, và việc đối thoại thiêng liêng.
Chúng ta nhận ra ngay rằng sự truyền thông có các mức độ khác nhau.
* Có một mức độ mang giá trị âm, nghĩa là dưới zêrô: đó là sự thiếu, không truyền thông, tình trạng có thể xảy ra cho thái độ phản kháng âm thầm, hệ tại thái độ không biết đến sự tồn tại của người khác, dù sống dưới cùng mái nhà, ăn cùng bàn: “Tôi coi anh như thể không có!” Đôi khi chúng ta cảm thấy điều này nơi một hội viên giận dữ đến độ nói rằng họ không thèm tranh cãi, không thèm chứng minh họ đồng ý hay có thái độ hoà giải; họ đối xử với anh em mình như thể sống trong hai thế giới khác. Tuy nhiên thường tình trạng này xảy ra mà không có tuyên bố gì trước: không nói một lời, trốn tránh, không muốn trả lời. Cũng có sự không truyền thông ít trầm trọng hơn, được chấp nhận, tử tế. Hãy nghĩ đến biết bao hoàn cảnh quen thuộc hằng ngày trong đó người ta sống bên cạnh nhau, không gây hấn, không can thiệp vào các ý tưởng, sở thích hay kế hoạch, nhưng không mảy may có ý hướng chia sẻ những gì mình có trong lòng. Sự không truyền thông là một trong những căn bệnh của kỷ nguyên truyền thông đại chúng.
* Rồi có một mức độ tích cực tối thiểu, trên zêrô: sự truyền thông hời hợt. Người ta nói về các chuyện tầm phào, dửng dưng hay xa xôi, chỉ để không có bầu khí im lặng; nó thường tốt hơn sự im lặng và không truyền thông, vì ít ra người ta còn muốn ở chung với nhau, trong hoà bình, không tỏ ra “bất lịch sự”, vui vẻ với nhau: người ta bàn về thời tiết, các sự kiện trên truyền hình, các nhân vật, thể thao. Đây là một tình trạng có thể chấp nhận để xích lại gần nhau, ít ra là một bước đầu. Nhưng chúng ta vẫn còn bàn về tất cả các chuyện này như với một “người xa lạ” ngồi bên cạnh chúng ta trên một chuyến xe lửa hay trong một chuyến bay.
* Giữa chúng ta có thể xảy ra, và nhiều lần chúng ta có thể không đi xa hơn một sự truyền thông vì công việc: chúng ta làm công việc ấy thế nào, thế nào là thích hợp hơn, phân phối lại giờ giấc, vai trò, nhiệm vụ thế nào. Đây là dấu hiệu của sự đồng trách nhiệm và thường mang một hình thức đúng đắn. Nhưng nó có nguy cơ ở lại tình trạng đó trong các quan hệ của chúng ta với các hội viên và thanh thiếu niên. Một cách sửa sai thường được gợi ý cho các cộng đoàn là làm thế nào đừng coi chính mình hay để người ngoài nhìn mình như chỉ là một “nhóm làm việc”.
* Ở mức độ cao hơn có sự truyền thông nhân vị, trong đó chúng ta chia sẻ kinh nghiệm ơn gọi của chúng ta. Chúng ta trao đổi những sự đánh giá, nhu cầu, trực giác liên quan đến đời sống chúng ta trong Đức Kitô và hình thức chúng ta hiểu về đặc sủng. Đó là điều mà chúng ta nhiều lần được mời gọi thực hiện trong các cuộc duyệt xét đời sống, kiểm chứng cộng đoàn chúng ta, trao đổi trong kinh nguyện, phân định về các kế hoạch hay các biến cố.
Thời hiện đại càng cảm thấy có nhu cầu hơn trong việc truyền thông trong các cộng đoàn tu sĩ và đã thay đổi các tiêu chuẩn và các cách thức. Sự phức tạp của đời sống đòi hỏi chúng ta đối diện với các khuynh hướng, tiêu chuẩn và biến cố gia đình và các sự kiện bên ngoài gia đình: hoặc là chúng ta thành công trong việc hiểu và cắt nghĩa chúng, hay là chúng ta mãi mãi đứng bên ngoài cuộc sống và chuyển động của thế giới.
Vì vậy cần tạo thói quen đánh giá và triển khai các tiêu chuẩn đánh giá chung. Thường điều này đòi hỏi một tiến trình tìm hiểu và chứng minh. Chúng ta phải sẵn sàng để tự phát biểu một cách đơn sơ, chứng tỏ mình luôn sẵn sàng thay đổi các phán đoán và lập trường của mình, dù chỉ với mục đích tạo sự nhất trí trong tình huynh đệ và hành động: sự dung hoà luôn luôn có ích cho cộng thể, khi các giá trị cơ bản không bị thiệt hại.
Sự truyền thông cũng cần thiết vì sự đa dạng tích cực của các quan điểm và tài năng có trong cộng đoàn: có những nguồn phong phú về trí thông minh, tinh thần, óc tưởng tượng, khả năng truyền thông thực tế. Hơn nữa, có rất nhiều đề tài để truyền thông một cách ích lợi trong viễn tượng thánh hiến: kế hoạch tông đồ, kinh nghiệm thiêng liêng, thách đố của sứ mạng, các đường hướng của Tu Hội, các khuynh hướng của Hội Thánh.
3. Các mối tương quan và truyền thông để tăng trưởng
Các mối quan hệ và việc truyền thông không chỉ giúp chúng ta cảm thấy mọi sự tốt đẹp, nhưng cũng giúp tăng trưởng; chúng làm phong phú trên quan điểm văn hoá, tâm lý, xã hội, và cả thiêng liêng nữa.
Có sự tăng trưởng văn hoá, vì khi nghe người khác, chúng ta nhận được các thông tin, quan điểm, số liệu và đọc được các thực tại khác nhau. Chỉ cần hình dung ra các mối quan hệ và sự truyền thông với những nhà chuyên môn quí giá biết bao và có ích cho chúng ta như thế nào. Cũng có những nhà chuyên môn như thế giữa các hội viên trong các cộng thể chúng ta, thậm chí mỗi người đều có một khả năng chuyên môn nào đó để cống hiến cho chúng ta.
Có sự tăng trưởng tâm lý, vì có sự phát triển tình cảm, khả năng tiếp nhận người khác và các lối suy nghĩ khác; chúng ta trở nên có khả năng hơn để trao ban, khắc phục những thất vọng và những trở ngại nội tâm, những ám ảnh về bản thân mình hay về thành công của mình.
Có sự tăng trưởng xã hội, vì có sự gia tăng khả năng hội nhập vào các nhóm làm việc, các ê kíp tham dự và các môi trường khác nhau, với sự tự do và thẳng thắn; chúng ta kiểm soát được sự lo âu xã hội, là cảm giác đầu tiên của sự xa lạ và không thích ứng mà chúng ta thường đối diện khi chúng ta đi vào một môi trường hay một tập thể mới lạ hay ít quen thuộc.
Sau cùng và ở chóp đỉnh có một sự tăng trưởng thiêng liêng, hay toàn diện, bởi vì các thái độ và các khả năng nói trên được hoà nhập trong một cố gắng đáp lại Thiên Chúa một cách phù hợp với đặc sủng và giúp phát triển sứ mạng.
Tất cả điều này cũng được đòi hỏi và thực hành trong cộng đoàn giáo dục. Đây là một môi trường phong phú thứ hai để thể hiện đức ái mục tử về điều liên quan tới các mối quan hệ và truyền thông, với các hậu quả quyết định đối với việc giáo dục và rao giảng Tin Mừng. Chúng ta không dừng lại ở đây để khai triển điều này, vì cần có cả một bài nói riêng về nó mới đủ.
Đào luyện thường xuyên
Ở đây chúng ta đi vào một khía cạnh đã thay đổi nhiều của cộng đoàn tu trì, chính là vì tầm quan trọng được nhìn nhận đối với các mối quan hệ và việc truyền thông: việc đào luyện thường xuyên.
Các kinh nghiệm đầu tiên về đào luyện thường xuyên, được thực hiện ở cách xa cộng đoàn mình, đã mang lại những lợi ích, như một sự suy nghĩ lại, một tổng hợp mới, một sự canh tân lý thuyết, một hứng khởi mới về ơn gọi; nhưng khi trở về lại với cộng đoàn và với nếp sống hằng ngày, cái viễn tượng đổi mới đời sống và công việc mà người ta đã thoáng thấy trong những hoàn cảnh đặc biệt về thời gian và môi trường, bây giờ trở nên khó áp dụng. Cuộc sống lại tiếp tục nhịp điệu bình thường trước kia, và môi trường con người “bình thường” và chung chung làm phai nhạt những kinh nghiệm điển hình về cầu nguyện, trao đổi, học tập. Khóa đào luyện thường xuyên do đó trở thành tách rời với đời sống.
Vì vậy người ta đã nghĩ tới việc cải thiện khái niệm và các sáng kiến. Người ta đưa vào khái niệm đào luyện thường xuyên bốn khía cạnh. Chúng liên quan tới nơi chốn, thời gian, nội dung và phương pháp.
* Nơi ưu tiên cho việc đào luyện thường xuyên là cộng đoàn địa phương. Nơi đặc biệt là nơi tổ chức các khóa đào luyện dài. Thực tế nhất là cộng đoàn địa phương, bởi vì tại đây người Salêdiêng học cách điều hành cuộc sống và phản ứng trước các điều xảy ra trong đời sống hằng ngày.
* Thời gian thích hợp nhất và liên tục nhất cho đào luyện thường xuyên không phải thời gian dành riêng và rảnh rỗi, mà là thời gian xen kẽ giữa lao động, học tập, thảo luận, và gặp gỡ với người khác. Thời gian dành riêng thì ích lợi cho việc bồi dưỡng và hỗ trợ.
* Nội dung: chắc chắn việc trình bày hệ thống về Hội Thánh, Chúa Giêsu Kitô, cộng đoàn, là điều hữu ích vì nó tạo động lực, soi sáng và tái định hướng. Tuy nhiên tất cả điều này sau đó bị phân tán và hầu như tan loãng dần trong cuộc sống hằng ngày. Chính cộng đoàn là nơi người ta phải đọc được một cách thực tế những gì đã học được trên lý thuyết, vì cộng đoàn chính là bốn hay năm hội viên mà người ta chung vai sát cánh sống hằng ngày, họ có các ý tưởng của họ, có một quá khứ riêng của họ, có những giới hạn, và cũng có biết bao ưu điểm mà chúng ta phải biết khám phá ra và đón nhận. Cũng có thể nói như thế về giáo hội học, về Mục vụ giới trẻ, về Hệ thống dự phòng đã được lắng nghe, cắt nghĩa và đào sâu: đó là những khung đối chiếu hữu ích vì chúng soi sáng nhiều điều. Nhưng chúng phải được đưa vào trong thực tế đặc thù của mỗi cộng đoàn giáo hội và các điều kiện của nó, vào môi trường hoạt động mục vụ và những thanh thiếu niên mà ta gặp trong môi trường đó, vào cảnh sống Salêdiêng trong đó ta phải đem áp dụng Hệ thống dự phòng đã được giảng dạy. Cách thức áp dụng các viễn tượng, khung đối chiếu hay bài học này vào các trường hợp cụ thể, chính là nội dung của việc đào luyện thường xuyên diễn ra trong cộng đoàn địa phương. Tại đây, chúng ta suy tư và kiểm chứng nội dung đó để thấy mình phải có đáp ứng hiện thực thế nào cho những đòi hỏi của ơn gọi và công việc. Có thể nói việc đào luyện thường xuyên lặp lại mô hình của thời kỳ tập vụ hơn là thời kỳ học viện.
* Cuối cùng, nhưng gắn liền với ba điều trên đây, phải nhấn mạnh về phương tiện hay phương thức hiệu quả nhất của việc đào luyện thường xuyên: không phải việc nghe các bài giảng, mà là sự truyền thông huynh đệ: lắng nghe nhau một cách thanh thản, chăm chú ghi nhận và tổng hợp, khai triển các phán đoán và tiêu chuẩn, vạch ra các đường hướng được suy nghĩ kỹ. Đương nhiên điều này được hỗ trợ và phát động cùng với các “thời điểm mạnh”.
Vì vậy, các mối quan hệ và việc truyền thông thể hiện các qui trình đào luyện và tăng trưởng. Có lúc không phải ai cũng hiểu điều này. Không nên đổ lỗi cho ai bởi vì trong thực tế đào luyện trước đây, việc truyền thông không được chú trọng cũng không có các khả năng hiện thực. Tuy không thể đổ lỗi cho ai, chúng ta phải biết tạo ra và gia tăng các cơ hội truyền thông, duyệt xét vấn đề về các mối quan hệ, hiểu biết về cơ sở mà chúng đòi hỏi và chăm lo nó như một việc thực hành của đức ái mục tử đối với các hội viên và cộng đoàn.
Chú thích
71VC 45
72xem Cv 2,44-47; 4,32-35
73HL SDB 49
74xem HL SDB 44; HL FMA 51
75Ga 13,34-35
76Thánh Bộ các Tu Hội Thánh hiến và các Tu hội Tông đồ, Đời sống huynh đ ệ trong cộng đoàn, số 3
77Mt 18,20
78xem Sắc lệnh Công đồng Optatam Totius, s ố 11
79xem HL SDB 51 và 110
80xem TTN 24, các số 91-93