FMA Logo

IX. CÁC NHÀ RAO GIẢNG TIN MỪNG



1. Đức Ái Mục Tử thúc đẩy rao giảng Tin mừng

Đức ái mục tử hoạt động một cách phi thường. Nó luôn luôn được diễn tả trong việc phục vụ một cộng đoàn, hay con người nói chung. Việc phục vụ này không chỉ là làm một công việc, dành thời giờ cho kinh nguyện, một loại lao nhọc thiêng liêng. Nhưng tự nó là một kinh nghiệm về Thiên Chúa và một hành trình tiến bộ trong đời sống thiêng liêng.

“Trong các Tu hội (đời hoạt động) này, hoạt động tông đồ và bác ái thuộc về chính bản chất của đời tu, khi đó là một thừa tác vụ thánh hay một công cuộc bác ái được giao phó cho Hội Thánh và phải được thực thi nhân danh Hội Thánh”139.

Chung chung người ta vẫn chưa gạt bỏ đuợc ý tưởng về sự đối lập giữa chiêm niệm và hoạt động, giữa Maria và Mátta. Người ta tiếp tục nghĩ rằng chiêm niệm là dừng lại để cầu nguyện hay tích trữ năng lượng, trong khi hoạt động là tiêu hao năng lượng và phân tâm về những sự vật. Đúng là chiêm niệm có địa vị ưu tiên. Nhưng cũng đúng là nó hoàn toàn có chỗ ngay cả trong hành động và vì thế không đối lập với hành động.

Các Hiến Luật của SDB và FMA nói rằng người Salêdiêng là những người rao giảng Tin Mừng cho thanh thiếu niên, đặc biệt các em nghèo khổ nhất, và cho dân chúng. Hiến Luật cũng nói thêm rằng Hệ thống Giáo dục Dự phòng là cách để họ sống và truyền thông Tin Mừng140. Trong việc này chúng ta không chỉ dành thời giờ để việc phục vụ đồng loại, mà còn tìm sự thánh hoá bản thân mình.

Tại sao là những người rao giảng Tin Mừng? Chúng ta không gặp thấy từ này nơi Don Bosco và Mẹ Mazzarello. Các ngài nói đến việc dạy giáo lý cho trẻ em và giảng cho dân chúng. Rao giảng Tin Mừng là một thuật ngữ phổ biến ngày nay trong ngôn ngữ của Hội Thánh vì hoàn cảnh mà Hội Thánh đang sống, đó là sự xa cách đức tin Kitô giáo của đa số và sự tin tưởng phổ biến rằng người ta có thể sống mà không cần đến đức tin.

Chúng ta hãy xem ý nghĩa của nó.

Thánh Phaolô khi nói về các đặc sủng như là các ân huệ của Chúa Thánh Thần để thành lập cộng đoàn tín hữu, ngài kể ra năm: tông đồ, ngôn sứ, rao giảng Tin Mừng, mục tử, tiến sĩ.

Chúng không phải các đặc sủng duy nhất cũng không hoàn toàn phân biệt vào thời ấy cũng như hôm nay. Nhưng chúng ta nhắc lại hoạt động và sự phối hợp của các đặc sủng này để hiểu vai trò của người rao giảng Tin Mừng và vai trò của chúng ta như những người rao giảng Tin Mừng cho giới trẻ.

*         Người tông đồ đặt nền móng cho cộng đoàn và cai trị cộng đoàn. Vì liên kết với mười hai tông đồ đầu tiên do tính tông truyền, họ bảo đảm chân lý của đức tin và sự hiệp thông với Hội Thánh hoàn vũ. Họ có thể không phải người rao giảng Tin Mừng hoạt động nhất hay hiệu quả nhất. Đặc sủng của họ là đặt nền móng và hiệp thông. Không phải vì sự hiểu biết riêng của họ hay mức độ sứ ngôn riêng của họ, nhưng một cách khách quan vì sự liên kết với mười hai tông đồ. Như thế Kitô giáo không được trình bày như là một học thuyết tôn giáo trong đó các vị tiến sĩ giữ ưu thế, nhưng như một biến cố lịch sử, biến cố Đức Giêsu Kitô, mà nền móng của nó được ban cho những người có mối liên kết lịch sử với các tông đồ.

*         Người ngôn sứ giải thích các kế hoạch của Thiên Chúa cho thời điểm hiện thời của cộng đoàn. Họ không ít liên quan tới việc tiên báo tương lai. Ngược lại họ đọc các biến cố và khám phá các dấu chỉ của hành động của Thiên Chúa trong lịch sử.

*         Người mục tử gìn giữ, chăm sóc, sinh động hoá và làm tiến bộ cộng doàn đã được thiết lập. Hình ảnh của họ được biểu thị nơi người có một đàn chiên, biết đàn chiên mình và cung cấp cỏ và nước cho chiên; đó là hai biểu tượng vẫn còn mang ý nghĩa rõ rệt hôm nay.

*         Người tiến sĩ đào sâu giáo lý đã nhận lãnh. Họ rút ra các ý nghĩa và giáo huấn mới và đối chiếu nó với văn hoá của dân chúng và những người khôn ngoan.

*         Người rao giảng Tin Mừng công bố Tin Mừng cho những ai chưa nghe nói đến Tin Mừng và ở những nơi chưa được loan báo đầy đủ. Họ mang Tin Mừng đến với cộng đoàn các tân tòng. Họ là “nhà truyền giáo”, nhưng không nhất thiết họ được sai đến từ xa. Họ đi lại trong chính thành phố hay môi trường của họ, thông truyền Chúa Giêsu và mời gọi người ta tham gia cộng đoàn.

Nơi người rao giảng Tin Mừng trổi vượt óc sáng kiến, sức năng nổ, khả năng đối diện các tình huống mới, giải thích các niềm mong đợi của những người có vẻ ở xa, khai mào đối thoại với những người dửng dưng. Họ đến để gặp gỡ người ta thay vì chờ đợi người ta đến với mình trong giáo hội. Là người rao giảng Tin Mừng cho giới trẻ cũng giống như là “nhà truyền giáo cho giới trẻ”; có khả năng đến với những người xa cách về thể lý, tâm lý hay văn hoá.

Hình ảnh của người rao giảng Tin Mừng trong sách Công vụ Tông đồ là phụ tá Philípphê. “Ông Philípphê đi rao giảng Tin Mừng tại khắp các thành thị.” (Cv 8,40). Ông rảo khắp các thành phố, đi từ làng nọ sang làng kia, từ nhóm này đến nhóm khác. Có thể gọi ông là một chuyên gia loan báo, khêu gợi Tin Mừng. Ông không dừng lại để củng cố cộng đoàn hay cung cấp các cơ cấu vật chất cho cộng đoàn. Công việc của ông là cày xới đất. Chính Chúa Giêsu đã từng truyền cho các môn đệ đi trước ngài để chuẩn bị lúc ngài đến.

Có và phải có trong Hội Thánh một sự cân đối giữ việc chăm lo mục vụ và sự thôi thúc rao giảng Tin Mừng; trong các Tu hội và từng cá nhân cũng thế141.

Hội Thánh và việc Rao giảng Tin Mừng hôm nay

Hội Thánh hôm nay đang sống một “thời đại” rao giảng Tin Mừng. Các cộng đoàn đã được chăm sóc nay trở thành một chủ thể lớn của hoạt động rao giảng Tin Mừng, và đi đến với các cộng đoàn khác. Nếu không như thế, con số các cộng đoàn sẽ ngày càng giảm dần và cuối cùng chúng ta sẽ bị “dồn chết về một giáo hội cuối cùng,” theo lời của một tác giả. Vì thế thời đại chúng ta là thời đại phải dành vị trí đầu tiên cho việc rao giảng Tin Mừng, loan báo, đối thoại, vượt qua hàng rào của mình bằng sự mới mẻ mà chủ thể hành động là tất cả Hội Thánh, chứ không chỉ một vài người; những ai có khả năng hơn được giao nhiệm vụ lay động Hội Thánh, sinh động hoá, đồng hành, thúc đẩy Hội Thánh tiến tới. Và điều này phải làm ở khắp nơi, nhưng một cách đặc biệt ở thế giới phương tây. Đặc sủng rao giảng Tin Mừng hình như đổ tràn mọi người và chuyển lên bình diện đầu tiên. Sứ mạng quan trọng nhất của các tín hữu ngày nay là loan báo Tin Mừng và khơi dậy uớc muốn đón nhận đức tin. Vì vậy người ta nói đến giáo xứ như là cộng đoàn truyền giáo và chúng ta cũng nói đến các cộng đoàn giáo dục như là các cộng đoàn truyền giáo, bên trong và bên ngoài.

Từ “thời đại”, theo nghĩa lịch sử, cũng chỉ về một toàn thể các cơ hội, các biến cố, các chọn lựa và thách đố, đánh dấu một mảng lịch sử loài người: chúng ta nói chúng ta đang sống một thời đại biến đổi, một thời đại bạo lực, hay các thời điểm khó khăn. Chúng ta nói về thời đại của Don Bosco hay của Gioan Phaolô II. Những ngày tháng nối tiếp nhau được đánh dấu bằng một biến cố, một con người, một mối quan tâm. Không có nghĩa là không xảy ra các biến cố thuận lợi hay bất lợi khác, nhưng sự chú ý cá nhân và cộng đoàn chủ yếu chịu ảnh hưởng bởi một hiện tượng mà người ta sống một cách sâu đậm, như là nguồn của các mối lo âu hay niềm vui, là điểm hội tụ của mọi cố gắng và đòi hỏi. Những ngày tháng trôi qua được đánh dấu bằng một hiện tượng như thế. Theo nghĩa này chúng ta nói rằng Hội Thánh đang sống một thời đại rao giảng Tin Mừng.

Thực ra, việc loan báo Tin Mừng luôn luôn là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng đến độ phải đồng hoá nó với chính sứ mạng của Hội Thánh142. Tuy nhiên trong lịch sử Hội Thánh có những thời kỳ nổi bật các mối quan tâm khác: tổ chức, kỷ luật nội bộ, việc bảo vệ Kitô giáo. Chúng ta nói đến thời đại thập tự chinh, thời đại các vương cung thánh đường, thời đại phản cải cách.

Ngược lại có những thời kỳ mà mọi nỗ lực được tập trung thuần tuý vào việc loan báo Tin Mừng và thiết lập các cộng đoàn Kitô hữu. Chúng ta có thể đưa ký ức ngược trở về thời kỳ tiếp theo sau Công Đồng Giêrusalem. Các tông đồ phân tán đi khắp nơi để mang hạt giống của sứ điệp đến cho thế giới thời ấy. Trên hết họ tìm cách giúp biết bao nhiêu người đã trở lại đạo để họ sống theo Tin Mừng trong một bầu khí ô hợp các nền văn hoá khác nhau.

Thời chúng ta cũng giống như thời các tông đồ. Nó bắt đầu với Công Đồng Vaticanô II, là thời Hội Thánh đứng trước thế giới hiện đại một cách tích cực, nhưng đồng thời không bỏ qua tinh thần phê bình lành mạnh. Thế giới hiện đại không bị coi là đối kháng hay thù nghịch, nhưng như là bột mà Hội Thánh phải hành động như là men trong đó. Được Thánh Thần soi sáng, Hội Thánh nhận ra vai trò không thể thay thế của mình trong việc phục vụ phải cống hiến cho bầu khí mới này của loài người.

Mười năm sau Công Đồng, một Thượng Hội Đồng Giám Mục và Đức Thánh Cha Phaolô VI đã phác họa một văn kiện thực hành, được đánh giá là văn kiện rõ ràng và quyết định nhất của cuối thế kỷ, Tông huấn Evangelii Nuntiandi (1975). Tiếp theo có các hội nghị và các văn kiện trên cấp đại lục, trong số đó có văn kiện của Hội Đồng Giám Mục Châu Mỹ La Tinh, La evangelización en el presente y en el futuro de la América Latina (1979).

Phong trào này được củng cố với hội nghị lần thứ bốn của Thượng Hội Đồng, tập trung chú ý vào việc rao giảng Tin Mừng cho thanh thiếu niên, là nguồn gốc của Tông huấn về Huấn Giáo (1979). Sau cùng, trong thập niên 90, và trước thềm thiên niên kỷ 3, Đức Thánh Cha đã phát động và tung ra “cuộc rao giảng Tin Mừng mới”.

Thời đại Rao giảng Tin Mừng

Nếu muốn xác định thời đại chúng ta bằng một từ, nếu muốn định nghĩa những thách đố, sự quan tâm nổi bật của thời đại, hướng tập trung các nguồn lực, thì từ thích hợp hơn để dùng có lẽ là “rao giảng Tin Mừng”: “thời đại rao giảng Tin Mừng”. Chứng minh cho điều này là các tông huấn của Đức Phaolô VI và phong trào rao giảng Tin Mừng mới ngày nay.

Nhưng tại sao thời đại này là một “thời đại” nổi lên sự thúc bách và cả nhiệm vụ rao giảng Tin Mừng? Chúng ta đang thấy một số hiện tượng thách thức tính đáng tin của Kitô giáo trong thời đại chúng ta.

Trước hết chúng ta thấy mở ra những không gian địa lý rộng lớn: Châu Phi là một đất mới; Châu Á là một đại lục trong đó chúng ta chưa thâm nhập vào được các tôn giáo lớn, mà mới chỉ có một hạt giống nhỏ bé; Châu Mỹ là một đại lục đã được rửa tội, nhưng phải được rao giảng Tin Mừng; với một tín ngưỡng bình dân lớn trong đó vẫn cần thấm nhuần những hệ quả luân lý và xã hội của Kitô giáo. Bản thân Châu Âu là một đại lục đang xa dần các tiêu chuẩn Kitô giáo và cả các mục tiêu cho các giáo hội và các cộng đoàn Kitô giáo. Đây là những hội chứng chúng ta thấy nổi bật và làm chúng ta ý thức sự cấp bách của việc rao giảng Tin Mừng.

Bên cạnh đó, có sự tìm kiếm ý nghĩa cho đời sống, mà nhiều người cảm thấy sau sự suy tàn của các thuyết không tưởng chính trị và các cắt nghĩa khoa học. Tin Mừng có thể cho một ý nghĩa không? Và nó là thực tế và khả thi, hay chỉ là lý tưởng và vô ích? Từ chính những câu hỏi này phát xuất một yêu cầu mới về ý nghĩa và về Tin Mừng.

Có những vấn đề lương tâm được đặt ra cho các cá nhân và xã hội liên quan đến sự sống, sự chết, tình yêu, gia đình, tính dục. Luân lý Kitô giáo có thoả đáng không? Luân lý Kitô giáo được kêu gọi cho một hướng đi, một ý nghĩa đạo đức mới.

Ngoài ra, còn có sự đồng hiện diện của các tôn giáo khác nhau và nhiều giáo phái, bên cạnh sự khác biệt của nền văn hoá. Đức tin có cần thiết không, và đức tin Kitô giáo có phải là đức tin chân thật duy nhất. . . hay tốt nhất không?

Còn có các hiện tượng mới, ví dụ, sự thăng tiến-giải phóng phụ nữ, tình hình giới trẻ, tình trạng nghèo khó không thể ngăn chặn của nhiều người và nhiều dân tộc, tất cả đòi hỏi sự chú ý và soi sáng của Tin Mừng. Và cũng có các thực tại cũ (giáo dục, văn hoá) đang xa dần Tin Mừng, nhưng đồng thời để lại những vấn nạn mạnh cần được Tin Mừng soi sáng lại.

Về tất cả điều này chúng ta có thể nói đang sống trong một “thời đại” rao giảng Tin Mừng. Điều này mang ba ý nghĩa:

*  Đối với Hội Thánh, đây là một vận hội “lịch sử”; một vận hội có nhiều thách thức, nhưng đang chín muồi một khái niệm mới về đời sống (hãy nghĩ đến đạo đức, tự do cá nhân), một hình thức mới trong các quan hệ xã hội và cách điều hành chính trị, một sự hoạch định mới về giáo dục. Cái người ta đánh mất hôm nay, có thể sẽ bị mất mãi mãi. Có thể là Tin Mừng chăng? Ý nghĩa tôn giáo chăng? Đức tin chăng? Cái người ta gieo hôm nay có thể trở thành trái chín trong tương lai.

* Mỗi sáng kiến và sự hiện diện từ nay được đo lường bằng khả năng rao giảng Tin Mừng. Rao giảng Tin Mừng là thước đo cho mọi cơ cấu và mọi cộng đoàn. Rao giảng Tin Mừng không chỉ là đích đến, mà còn là hành trình, không chỉ là mục đích, mà còn là phương tiện; điều này có nghĩa là khẳng định rằng ngày nay các sáng kiến của Hội Thánh phải đuợc đánh giá trên cơ sở chúng có khả năng làm chứng và loan báo Tin Mừng. Các hội đoàn của Hội Thánh khi duyệt xét về giá trị của mình, phải tự hỏi mình có giúp các thành viên sống Tin Mừng sâu xa hơn và có loan báo sứ điệp của Đức Giêsu mà không cắt xén hay che giấu nó không, không để cho tính chất đặc trưng tôn giáo hay Kitô giáo bị mất đi không. Các nơi thờ phượng, các cơ cấu giáo hội, các cơ sở giáo dục, đời sống tu trì. . . ngày nay phải được tái kế hoạch, lấy chất lượng rao giảng Tin Mừng của mình làm tiêu chuẩn. Các dấu chỉ tôn giáo và các biểu tượng thờ phượng không có ích bao nhiêu nếu người ta không có chìa khoá để cắt nghĩa chúng. Vì vậy, rao giảng Tin Mừng không phải một khía cạnh đặc thù của việc mục vụ, mà là kênh ưu việt mà mọi thứ khác chảy vào trong đó.

* Chúa Thánh Thần khơi dậy các đoàn sủng và ban các ân sủng chuyên biệt. Đó là sự nếm cảm Lời Chúa, được bộc lộ trong các cộng đoàn Kitô giáo, hoạt động truyền giáo chưa bao giờ sâu đậm như trong thời đại chúng ta, sự dấn thân của giáo dân, các phong trào thiêng liêng và tông đồ xuất hiện trong những năm gần đây.

Chúng ta sống “thời đại” này giữa giới trẻ. Chúng ta thấy chúng đang rời xa Hội Thánh, và đồng thời thấy chúng đang đi tìm một kinh nghiệm tôn giáo chủ quan.

Chúng ta thấy trong văn hoá tuổi trẻ, khía cạnh tôn giáo không quan trọng. Cái mà tuổi trẻ quan tâm là sự sinh tồn (lao động) và sự hội nhập vào một xã hội mà cái được tìm kiếm ưu tiên là cái tức thời và hữu hình.

Sự truyền thông với cộng đoàn Hội Thánh do đó trở nên khó khăn: sau một thời kỳ huấn giáo đầu tiên, và với một số người sau phép thêm sức, là một sự xa cách dần trong thầm lặng. Trong khi đó môi trường đưa ra các thông điệp vô cùng đa dạng và các cắt nghĩa về cuộc đời và về mọi khía cạnh của nó.

Điều này thúc đẩy chúng ta dấn mình mạnh mẽ trên bình diện rao giảng Tin Mừng và tìm kinh nghiệm của chúng ta trong việc truyền đạt Tin Mừng, trong việc làm bừng cháy niềm khao khát Tin Mừng và giúp người ta thấy biết bao ánh sáng, biết bao khôn ngoan, biết bao tin tưởng phát xuất từ Đức Giêsu.

2. Rao giảng Tin Mừng khuôn đúc linh đạo chúng ta 

Căn tính “người rao giảng Tin Mừng” của chúng ta và “thời đại” chúng ta đang sống thúc đẩy chúng ta tìm kiếm chiều sâu của đời sống thiêng liêng chúng ta trong niềm đam mê vì Tin Mừng, và do đó vun trồng một số thái độ đặc trưng của người rao giảng Tin Mừng.

Niềm đam mê, nhiệt tình thông truyền Tin Mừng bởi những chứng nhân hơn là những chuyên gia, phát sinh từ kinh nghiệm cá nhân của chúng ta về Chúa Giêsu hơn là từ việc làm chủ các khái niệm và kỹ thuật. Đây là trường hợp của các tông đồ như chính thánh Gioan từng thú nhận:

“Điều vẫn có ngay từ lúc khởi đầu, điều chúng tôi đã nghe, điều chúng tôi đã thấy tận mắt, điều chúng tôi đã chiêm ngưỡng, và tay chúng tôi đã chạm đến, đó là Lời sự sống. Quả vậy, sự sống đã được tỏ bày, chúng tôi đã thấy tận mắt và làm chứng, chúng tôi loan báo cho anh em sự sống đời đời: sự sống ấy vẫn hướng về Chúa Cha và nay đã được tỏ bày cho chúng tôi. Điều chúng tôi đã thấy và đã nghe, chúng tôi loan báo cho cả anh em nữa, để chính anh em cũng được hiệp thông với chúng tôi, mà chúng tôi thì hiệp thông với Chúa Cha và với Đức Giêsu Kitô, Con của Người. Những điều này, chúng tôi viết ra để niềm vui của chúng ta được nên trọn vẹn.”

Thế nên niềm đam mê được tỏ lộ như là một niềm vui sâu xa trong việc mặc khải cho những ai có khả năng đón nhận các sự phong phú của mầu nhiệm Đức Kitô. Hơn là cho những “bài học” tôn giáo, chúng ta dẫn đưa người khác vào một kinh nghiệm thu hút và hấp dẫn chúng ta trước tiên. Hơn là một bổn phận của chức vụ hay một nghề nghiệp, nó là một khuynh hướng không kìm giữ nổi. Thánh Phaolô ví điều này với hành vi “đưa vào ánh sáng”, là hành vi được tạo ra với sự đau khổ được nâng đỡ bởi một thúc đẩy của đam mê. Đồng thời ngài liên kết nó với một trách nhiệm đời sống, mà ngài không thể trốn chạy, bởi vì nó liên quan tới một điều gì quá quí giá đối với những ai muốn sống hạnh phúc: “Vô phúc cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng!”143

Đức Phaolô VI nhắc nhở chúng ta điều này với giọng hùng hồn quen thuộc của ngài trong một trang của Evangelii Nuntiandi:

“Vì vậy chúng ta hãy giữ vững nhiệt tình của tinh thần. Hãy giữ vững niềm vui ngọt ngào và an ủi của việc rao giảng Tin Mừng, cả khi chúng ta phải gieo trong nước mắt. Với chúng ta hôm nay–cũng như xưa kia với Gioan Tẩy Giả, với Phêrô và Phaolô, với các Tông đồ, và đông đảo các nhà rao giảng Tin Mừng lỗi lạc trong suốt lịch sử Hội Thánh–nó phải là một ngọn lửa bừng cháy trong tâm hồn chúng ta mà không một ai hay một điều gì có thể dập tắt. Nó phải là niềm vui trong các cuộc đời dấn thân của chúng ta. Thế giới của thời đại chúng ta, một thế giới luôn tìm kiếm khi thì trong lo âu, khi thì trong hi vọng, chớ gì thế giới ấy có thể nhận được Tin Mừng không phải bởi những con người rao giảng buồn rầu và thất vọng, nôn nóng và lo lắng, nhưng bởi những thừa tác viên của Tin Mừng mà đời sống của họ dọi chiếu lửa nhiệt tình, là những người trước tiên đã nhận nơi mình niềm vui của Đức Kitô, và chấp nhận hi sinh mạng sống mình để cho Nước Chúa được loan báo và Hội Thánh được gieo trồng trong lòng của thế giới.”144

Kinh nghiệm này (biết Đức Kitô và niềm vui thông truyền) giúp chúng ta đặt việc loan báo lên địa vị thứ nhất trong đời sống chúng ta: “Tất cả chúng ta và trong mọi hoàn cảnh, chúng ta là những người giáo dục đức tin”145. Không nhất thiết phải là những “nhà giảng thuyết”, giáo lý viên hay giáo viên tôn giáo. Không có sự phân cách giữa các nhiệm vụ rao giảng Tin Mừng và các nhiệm vụ khác, giữa các công việc tôn giáo và trần thế. Trong bất cứ chức vụ hay vai trò nào, người ta luôn có thể nói một lời, làm một cử chỉ, khơi dậy một mối quan hệ để mở lòng người ta đón nhận đức tin.

Chúng ta nhớ lại chuyện Don Bosco trong một chuyến hành trình, ngồi cạnh anh đánh xe lỗ mãng và luôn miệng chửi thề, sau khi ngài hỏi chuyện anh ta về các con vật và về các chuyện khác của đời anh, ngài đã lái cuộc đối thoại về quá khứ tôn giáo của anh và về Thiên Chúa, để cuối cùng dẫn anh tới chỗ hoà giải với Thiên Chúa.

Tương ứng với vị trí hàng đầu của việc rao giảng Tin Mừng trong tư tưởng và trong tâm hồn, phải có vị trí hàng đầu trong việc tổ chức các hoạt động. Nó là chiều kích cơ bản của các công cuộc của chúng ta, cũng như mục tiêu của các công cuộc ấy146.

Vị trí hàng đầu của nó phải xuất hiện trong mối quan tâm của mỗi người, trong việc phân phối giờ giấc, việc gợi ra các chủ đề, việc sử dụng các nguồn lực. Có thể điều này có nghĩa là duyệt lại cách sắp đặt việc giáo dục trên bình diện cá nhân và cộng đoàn.

Còn một điểm cần nhấn mạnh liên quan đến linh đạo.

Rao giảng Tin Mừng đưa chúng ta đi sâu hơn vào sự hiểu biết Đức Kitô và nhờ đó được lớn lên trong ngài. Đức Kitô không sống chủ yếu trong các sự vật, dù là các sự vật thánh thiêng hay các mệnh đề giáo điều. Ngài sống đặc biệt trong trí khôn và quả tim con người và trong sức sống của cộng đoàn. Khi anh em đi vào trong trí khôn này để nói một điều gì, nhưng cũng để gợi ra phản ứng của nó, anh em tìm thấy mầu nhiệm Đức Kitô hoạt động trong con người và trong cộng đoàn. Việc rao giảng Tin Mừng phát sinh trong chính đời sống, mọi điều khác đều chỉ là những con đường để nó đi vào.

Trong một tác phẩm của mình, Paul Ricoeur cam đoan với độc giả rằng những gì ông nói đều đã được trình bày và thảo luận trước với các sinh viên. Vì thế ông đã kiểm chứng rằng những điều ông nói đều có thể hiểu và cảm nhận như hiện thực và các lời ông dùng đều thích hợp. Đó là kinh nghiệm của mọi người truyền thông. Họ thấy rằng biết bao điều họ nói ra mà không cảm nghiệm trong tâm hồn và họ bị thúc đẩy phải nghiền ngẫm lại những điều ấy; một số điều khác họ không lãnh hội đủ và phải đào sâu chúng. Nhưng sau đó, trong cố gắng diễn tả chúng, họ khám phá ra những ý nghĩa mới và trong khi lắng nghe những người đối thoại họ nhìn ra được những âm vang và lối áp dụng mới. Đó là kinh nghiệm của những người cắt nghĩa Tin Mừng trong các cộng đoàn Hội Thánh cơ sở. Nhưng điều này đã từng được thánh Grêgoriô nhận ra khi ngài nhấn mạnh: “Nhiều điều một mình tôi không hiểu, tôi đã lãnh hội được nhờ lắng nghe dân chúng”. Rao giảng Tin Mừng không phải là một hoạt động làm chúng ta hao mòn đi, nhưng là một hoạt động làm phong phú chúng ta trên bình diện thiêng liêng và trên quan điểm hiểu biết về mầu nhiệm Đức Kitô.

Mặt khác, đây là lời thánh Phaolô khuyên chúng ta: “Người được học Lời Chúa, hãy chia sẻ mọi của cải với người dạy dỗ mình”147. Có thể ngài muốn nói về của cải vật chất, nhưng cũng có thể về của cải thiêng liêng chứ, sao lại không? 

3. Các thái độ và thực hành của người rao giảng Tin Mừng

Tất cả các nghiên cứu và các tài liệu đều dừng lại để trình bày các thái độ của người rao giảng Tin Mừng hôm nay. Thực ra họ có thể bị sốc vì thế giới phát triển không thấy được tầm quan trọng của đức tin, hay họ có ấn tượng rằng việc loan báo Tin Mừng không có những cơ sở thuyết phục trong một thế giới mang não trạng khoa học, hay cố gắng của họ không tác động bao nhiêu trong việc thâm nhập vào các môi trường trong đó người Kitô hữu chỉ là một thiểu số mỏng ở rải rác.

Tông huấn Evangelii Nuntiandi 148 nêu lên các thái độ sau đây của người rao giảng Tin Mừng:

–  tin tưởng vào hơi thở của Thần Khí,

–  là nhân chứng trung thực,

–  trở nên người kiến tạo hiệp nhất và tôi tớ của sự thật,

–  hoạt động được thúc đẩy bởi đức ái và với nhiệt tình của các thánh.

Chúng ta làm sáng tỏ một vài thái độ có thể khuôn đúc nên một linh đạo Salêdiêng.

* Trước hết, tương quan cá nhân với Lời Chúa. Cần siêng năng đọc và đào sâu Kinh Thánh và nhất là Tin Mừng. Kinh Thánh chứa đựng kinh nghiệm về Thiên Chúa, Đấng đã tạo dựng loài người và vẫn còn có khả năng khơi dậy và soi sáng kinh nghiệm như thế.

Ngày nay người ta đã nghĩ ra và thực hành nhiều hình thức học hỏi và suy niệm Lời Chúa: ngoài Phụng vụ Giờ Kinh và bài đọc phụng vụ, việc “Đọc Kinh Thánh” đã trở thành phổ biến với bốn bước: đọc, hiểu và đào sâu bản văn, suy niệm cá nhân, chia sẻ149.

Trước khi lời được đọc ra, nó phải trở thành “lửa nóng bỏng trong ruột gan và mật ong ngọt ngào trên môi miệng.”150

Trong điều này gương của chúng ta là Chúa Giêsu, người luôn trưng dẫn Kinh Thánh trong các bài giảng và ngài cho thấy sự hiểu biết và mến chuộng Lời Chúa; và chúng ta cũng có gương của các nhà rao giảng Tin Mừng lớn. Nơi họ việc suy niệm Lời được liên tục thực hiện đã trở thành một bản tính thứ hai của họ. Thánh Augustinô kể rằng khi ngài đến thăm giám mục Ambrogiô, ngài thấy vị giám mục này đang cầm Sách Thánh trong tay, trong khi miệng đọc và mắt nhắm lại để suy niệm. Đối với chúng ta, cần phải đọc và lãnh hội sứ điệp của Kinh Thánh, đối chiếu nó với hoàn cảnh hiện thực và với các thách đố của đời sống thanh thiếu niên.

Câu hỏi cơ bản là câu hỏi này: khi chúng ta  không truyền đạt Tin Mừng, đó là vì không có thời giờ, vai trò hay phương tiện, hay vì Lời chưa gây ấn tượng trên chúng ta như một nguồn sáng lạ thường, như sự khôn ngoan, như một con đường rộng mở?

Vì vậy trước hết chúng ta phải tìm về tiếp xúc sâu xa và sinh động với Tin Mừng.

* Một thái độ thứ hai là sự tin tưởng và thanh thản đứng trước “thời đại” mà chúng ta đang sống và rao giảng Tin Mừng.

Chấp nhận và yêu mến nó (“Thiên Chúa quá yêu thương thế gian”!151), không phải với thái độ ngây thơ nhưng cũng không phải với tinh thần tiêu cực chỉ để ý tới các giới hạn của thời đại mà không khám phá ra và vui hưởng những tiềm năng to lớn của nó. Chắc chắn rao giảng Tin Mừng trong một môi trường “có đạo”, hay một cách đơn giản, ở nơi có nhiều sự đáp ứng thì dễ dàng hơn. Nhưng không thể nói rằng nó ích lợi hơn hay có hiệu quả nhiều hơn cho tương lai cho bằng rao giảng trong một môi trường kém thuận lợi hơn.

“Chúa Giêsu đến giảng dạy ở Caphanaum”152. Qua chỉ dẫn này, Hồng y Martini nhận ra chuyển động của Chúa Kitô hướng về các nơi có đời sống thế tục, các nơi không mang nét đặc trưng tôn giáo. Ngược với ở Nadarét và Cana là miền đồng quê, Caphanaum là môi trường thành thị. Sánh với Giêrusalem, nơi có Đền thờ, thì Caphanaum là thành phố của các doanh trại quân đội, thương mại, hành chính, quyền lực chính trị. Tại đây đã diễn ra sứ vụ rao giảng của Chúa Giêsu ở ngoài trời, trong nhà (ví dụ, nhà của Phêrô), gặp gỡ các bệnh nhân và người bị quỷ ám, ngoài các bài giảng trong hội đường.

Trong mỗi thách đố hiện nay đều có một cơ hội mới cho Tin Mừng. “Thời gian đứng về phía chúng ta”. Đây là thời đại Thiên Chúa ban cho chúng ta, thời đại mà chúng ta phải làm dậy men và biến đổi. Mơ tưởng đến một thời đại tốt đẹp hơn trong quá khứ hay tương lai là chuyện vô ích và tai hại. “Sống một cách mâu thuẫn và bất hoà thường xuyên với thực tại và văn hoá mà chúng ta đang sống sẽ dẫn tới cảm giác cay đắng và mất an bình nội tâm. Nó ngăn trở chúng ta thể hiện một kế hoạch cá nhân và làm ô nhiễm các nguồn mạch phát sinh đời sống thường ngày của chúng ta.”153

Thực ra chúng ta thấy việc rao giảng Tin Mừng cho một số nhóm và hiện tượng tỏ ra chậm chạp. Sống hi vọng có thể là một dấu hiệu của sức khoẻ tâm thần và một việc luyện tập đức tin không dễ dàng.

* Một thái độ thứ ba là ý thức về sức sống của hạt giống.

Nước Trời, sự thiện, Lời Chúa thường được ví với những vật bé nhỏ nhưng có năng lực nội tại: men, hạt giống. Điều đáng chú ý là các ví dụ hay giải thích về việc rao giảng Tin Mừng hoàn toàn không nhắc đến các thực tại vật chất lớn. Nhiệm vụ của người hoạt động giống như tiêm truyền các yếu tố bé nhỏ và phong phú này vào trong đúng môi trường. Sau đó, chúng ta đọc thấy trong Tin Mừng Máccô, “dù người ấy (người gieo hạt) ngủ hay thức, ngày hay đêm, hạt giống cứ nảy mầm và lớn lên; bằng cách nào, người ấy cũng không biết. Thế rồi đất tự động sinh ra hoa màu; trước hết cây lúa mọc lên, rồi trổ đòng đòng, và sau cùng thành bông lúa nặng trĩu hạt.”154

Nhiệm vụ của chúng ta là gieo hạt không dè sẻn, để ý nhiều hơn đến những hạt nảy mầm hơn là những hạt chết đi trong thời gian và lời nói. Cả trong thiên nhiên cũng có một sự phí phạm lớn. Nhiều hạt được gieo vãi nhưng chỉ có một ít vượt qua được qui trình tăng trưởng khó khăn để lớn lên thành cây. Nhưng chính những cây này bảo đảm giống loài và sự sống.

* Cuối cùng, linh đạo người rao giảng Tin Mừng đòi hỏi họ có những đức tính thích hợp cho việc phục vụ.

Đây là một nghề giống như bao nghề khác. Nó đòi hỏi hiểu biết về nội dung và thực hành việc truyền thông. Các khả năng liên quan đến mọi việc phục vụ rao giảng Tin Mừng: từ bài giảng đến giáo lý cho trẻ em, xuyên qua khả năng cống hiến cho thanh thiếu niên một sứ điệp hay một cơ hội để suy niệm, như các cuộc tĩnh tâm chẳng hạn.

Một nhà chính trị nói: “Chỉ Hội Thánh có mọi ngày chủ nhật một lượng thính giả tụ tập đông như trong các thánh lễ. Khi tất cả các linh mục giảng tốt ngày chủ nhật, trong thành phố tôi (một thành phố cỡ vừa) người ta cảm thấy ảnh hưởng tốt.” Các tiềm lực chúng ta có chung với nhau thì vô cùng to lớn. Đôi khi có sự phí phạm vì chúng ta thiếu chuẩn bị hay thiếu chiều sâu trong việc sống và loan báo Lời Chúa.


Chú thích

139PC số 8

140xem HL SDB 20; HL FMA 7, 66

141xem C.M. Martini, L’Evangelizzatore in San Luca, Ed. Ancora, Milano 1986, trg 18-19

142xem EN số 15

1431 Cr 9,16

144EN số 80

145xem HL SDB 34; HL FMA 70

146xem HL SDB 6; HL FMA 70

147Gl 6,6

148EN, các số 75-80

149Việc “Đọc Kinh Thánh” cũng được nhắc nhở trong Tông Huấn Vita Consecrata số 94 như là nguồn mạch đời sống thiêng liêng và như phương thế thông truyền giữa các tu sĩ với nhau

150xem Kh 10,9; Gr 5,14

151xem Ga 3,16

152Lc 4,31

153Hội thảo về Rao giảng Tin Mừng, Tây Ban Nha 1985; xem Ecclesia số 2237 (21-09-1985)

154Mc 4,27-28


FMA Logo

Địa chỉ: 57 Đường số 4, Khu phố 56, P. Tam Bình, TP. Hồ Chí Minh

Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về email: libraryfmavtn@gmail.com

Liên Kết

Truyền Thông FMA

Copyright Dòng Con Đức Mẹ Phù Hộ © 2026