VIII. CÁC NHÀ GIÁO DỤC
1. Người Salêdiêng là nhà giáo dục
Nhiều khoản Hiến Luật khi mô tả các thái độ, các việc thực hành và các công cuộc của đức ái mục tử của chúng ta, bên cạnh từ rao giảng Tin Mừng còn có một từ khác: giáo dục, các nhà giáo dục. Điều này cũng xuất hiện trong các sách vở và văn kiện có thẩm quyền về linh đạo chúng ta, đến nỗi người ta đã đúc hẳn thành một khẩu hiệu mà chúng ta còn cần làm sáng tỏ tầm quan trọng chính xác của nó: “Rao giảng Tin Mừng bằng giáo dục, giáo dục bằng rao giảng Tin Mừng”.
Một trong những khía cạnh của nhân cách, sứ mạng và linh đạo của Don Bosco–cũng như của Mẹ Mazzarello–mà lịch sử đã nói đến nhiều nhất, đó là sự chú trọng về lãnh vực giáo dục và thiên tài sư phạm của ngài. Như thế, chúng ta có thể nói một cách hoàn toàn chắc chắn rằng đây là những khía cạnh ưu tiên hơn mọi khía cạnh khác. Phần lớn các đại hội và hội nghị tổ chức trong Giáo Hội và ngoài đời, tại các nước khác nhau vào các dịp kỷ niệm, đều chọn chủ đề giáo dục-sư phạm như là chủ đề có thể nói tốt hơn cho con người thời nay.
Giữa người Salêdiêng đã chín muồi ý tưởng xin phong danh hiệu “Tiến sĩ Hội Thánh” cho Don Bosco. Không phải vì học thuyết “thần học” của ngài, mà vì nguồn cảm hứng và việc thực hành giáo dục của ngài. Tông thư “Cha và Thầy của Giới Trẻ” hoàn toàn đề cập đến việc phục vụ, lòng tận tụy và tài năng giáo dục của Don Bosco.
Về nét đặc trưng này của linh đạo Salêdiêng, chúng ta đã có một bài giới thiệu nhân dịp phong chân phước Mẹ Mađalêna Moranô (30 tháng 4, 1994): là nhà giáo trước khi vào dòng nữ Salêdiêng, đời tu của Mẹ nổi bật về lối suy nghĩ, nhiệt tình, việc phục vụ và sáng tạo giáo dục.
Không phải bây giờ người ta mới chú ý về điểm này. Thậm chí có thể nó là khía cạnh mà ngay từ đầu đã thu hút nhiều nhất sự chú ý của mọi người và đã được đề cập tới nhiều nhất trong các sách tiểu sử đầu tiên theo ý muốn của chính Don Bosco. Và điều này có thể cắt nghĩa được. Chỉ nguyên việc một linh mục đi rảo khắp các đường phố để tìm kiếm thanh thiếu niên và thích ứng với ngôn ngữ và sở thích của chúng, cũng đủ là đề tài cho một cuốn phim hôm nay.
Don Auffray trong chương XII của cuốn tiểu sử sinh động của mình, chương nói về “Don Bosco nhà giáo dục”, đã có một đánh giá và đan cử một sự kiện. “Nếu một số người bẩm sinh là thi sĩ, số khác là nghệ sĩ, số khác là nhà khoa học, thì Don Bosco bẩm sinh là một nhà giáo dục. Giống như thể Thiên Chúa đã giao một nhiệm vụ chính xác cho Don Bosco, nên cũng đã ban cho ngài các phương tiện để hoàn thành nhiệm vụ ấy một cách vô cùng hiệu quả như thế. Các hoàn cảnh và sự quan tâm tông đồ đã thúc đẩy Don Bosco nghĩ đến vô vàn các vấn đề: có thể nói, trong Hội Thánh và ngoài đời, có ít người đã làm nhiều việc và làm những việc rất khác nhau như ngài. Thế nhưng, công việc của nhà giáo dục là ơn gọi mà ngài cảm thấy là của mình hơn mọi ơn gọi khác. Trên giấy hộ chiếu cấp cho ngài năm 1850 cho chuyến đi Milano, vị thánh đã khai nghề nghiệp của mình là “giáo viên tiểu học”, một lời khai rất ý nghĩa.”
Những sự đánh giá này làm nảy sinh một tranh luận: xét về thời gian và sức mạnh, ơn gọi của ngài là nhà giáo dục hay linh mục? Don Pietro Braido lần theo mối quan hệ của cả hai ơn gọi này trong cuộc đời ngài để đi đến kết luận rằng ơn gọi linh mục có trước và nó gợi hứng và tìm thấy lãnh vực riêng trong việc giáo dục giới trẻ. Điều này lý giải tại sao ngày nay chúng ta hiến mình cho công việc giáo dục nhằm các mục tiêu mục vụ.
Sắc lệnh phong chân phước nói về Don Bosco như là “một nhà giáo dục lỗi lạc (princeps) đã mở ra các con đường có giá trị mãi mãi cho khoa sư phạm Kitô giáo”.
Các Tu hội SDB và FMA đã sống những thời gian đầy phấn khởi và hầu như ngây ngất về khía cạnh này của công việc của họ và đã chứng tỏ điều đó bằng nhiều cách khác nhau. Trong nhiều năm họ đã triển khai ưu tiên nhiều lãnh vực giáo dục khác nhau: trường học, trường dạy nghề, trường nông nghiệp, tạo ra các cơ cấu và các vai trò ở mọi cấp. Họ đã dồn phần lớn nhân sự và chuẩn bị những người chuyên môn và có bằng cấp cho các lãnh vực này. Sau khi suy xét chín chắn, họ đã muốn tự giới thiệu và khẳng định mình trong các môi trường dân sự như là những con người quan tâm đến sự phát triển văn hoá và sự thăng tiến của giới trẻ và giới bình dân. Như tột đỉnh của tất cả, họ đã sáng lập hai phân khoa về Khoa học Giáo dục, và việc thiết lập này là một điều mới mẻ tại các Đại học Giáo hoàng. Thực ra các khoa học giáo dục không được coi là môn học “giáo hội” hay “mục vụ”. Cần thời gian và phương tiện để chúng được chấp nhận như phân khoa trong một đại học giáo hoàng. Gần đây người ta đã sẵn sàng có sự đối thoại với các chính phủ và các Giáo hội địa phương để tìm câu trả lời cho các vấn đề giáo dục cấp bách.
Sự phấn khởi này bao gồm đồng thời việc giáo dục nhân bản, nghĩa là sự tăng trưởng văn hoá của con người trong môi trường sống của họ, và việc đào luyện Kitô giáo, hay sự phát triển con người, như là con cái Thiên Chúa và phần tử của Hội Thánh. Thời trước, hai khía cạnh này từng được trình bày kết hợp với nhau, thấm nhập vào nhau, hầu như dồn vào nhau trong các chương trình và các cơ sở giáo dục, và cả trong ý hướng của những người sử dụng chúng.
Nguồn gốc và truyền thống này vẫn còn được khắc ghi trong căn tính chúng ta. Trong Hiến Luật, các thuật ngữ rao giảng Tin Mừng và giáo dục tạo thành một cặp từ bất khả phân ly. Có một tương quan độc đáo giữa hai từ này. Cùng một mục tiêu duy nhất: soi sáng, làm tăng trưởng, trang bị cho đời sống, tạo khả năng sử dụng tự do, cho thanh thiếu niên niềm yêu thích các giá trị.
Tuy nhiên giữa hai thuật ngữ này có một sự lệ thuộc về giá trị: chúng ta xác tín rằng nơi Đức Giêsu Kitô chúng ta tìm thấy ánh sáng và sức mạnh để định hướng đời sống mình. Mọi sự đều giúp làm người ta nhận biết ngài cho dù chúng ta tôn trọng thời giờ và hành trình cuộc đời của mỗi người.
Giáo dục-rao giảng Tin Mừng là hai chương trình tuy không có giá trị ngang nhau, nhưng chúng thông truyền và bổ sung cho nhau. Cách rao giảng Tin Mừng của chúng ta giúp đào luyện một con người trưởng thành về mọi phương diện. Việc giáo dục của chúng ta giúp người ta mở cửa đón nhận Thiên Chúa và định mệnh vĩnh cửu của con người.
Người Salêdiêng không chỉ là giáo lý viên hay mục tử, mà còn là nhà giáo dục. Các chị FMA không phải một tu hội các giáo lý viên của giáo xứ, cho dù các chị cũng làm công việc này. Các chị lấy công việc giáo dục làm việc thực hành đức ái của mình. “Don Bosco xuất hiện trước thế giới và Hội Thánh như một vị thánh giáo dục, nghĩa là một người đã làm cho nhiệm vụ giáo dục thấm nhuần sự thánh thiện.” (Don Viganò).
2. Giáo dục và kinh nghiệm về Thiên Chúa
Điều gì có liên quan đến linh đạo? Nó chỉ là một việc thực hành chuyên môn thêm vào cho đời sống thiêng liêng hay nó hình thành linh đạo của con người?
Gần đây xuất hiện nhiều nghiên cứu về các tu sĩ giáo dục. Trong tất cả các nghiên cứu này đều thấy có sự quan tâm xác nhận một đặc tính tông đồ và đoàn sủng của công việc giáo dục. Đồng thời người ta nhận thấy nguy cơ của “tính chuyên nghiệp”, nghĩa là sự tách rời công việc giáo dục chuyên môn với kinh nghiệm về Thiên Chúa. Người ta không nhấn mạnh việc một tu sĩ biểu hiện rõ ràng đời sống thánh hiến của mình qua vai trò giáo dục; người ta muốn trở thành và tỏ ra là một “khoa trưởng” hay “giáo sư” hơn là một con người của đức tin.
Kế đến, các nghiên cứu này cho thấy một cảm giác thất vọng trước các kết quả nghèo nàn trong các cơ cấu giáo dục liên quan đến đức tin. Và cuối cùng chúng thúc đẩy canh tân việc mục vụ các môi trường giáo dục, để thích nghi với thời đại, bắt đầu từ các thái độ và não trạng của chúng ta trong một xã hội đa nguyên, tục hoá, trong đó hoạt động giáo dục độc lập với các mối quan tâm về đức tin, tuy nó có thể và phải thông truyền với đức tin.
Cần đảm nhận công việc giáo dục bằng cách coi nó như sự hợp tác với Thiên Chúa nhằm tăng trưởng con người.
Thực ra Kinh Thánh trình bày lịch sử cứu độ như một tiến trình giáo dục. Thiên Chúa giáo dục con người và dân ngài, theo một hành trình chính xác.
Trước hết ngài nói với con người. Họ là những người đối thoại với ngài. Họ lắng nghe nhưng cũng trả lời và đặt câu hỏi. Hình ảnh của con người đặt câu hỏi, tìm lý do và hiểu, là ông Gióp. Nhưng ông Abraham cũng đặt câu hỏi cho Thiên Chúa. Nói là đặc tính của Thiên Chúa chân thật, đối chọi với các ngẫu tượng không biết nói. Cuộc đối thoại giữa Thiên Chúa và dân ngài đạt tột đỉnh nơi Lời nhập thể.
Nhưng Thiên Chúa không chỉ nói, ngài còn thúc đẩy và gần như buộc dân có các kinh nghiệm luôn mới mẻ và trưởng thành, tuy không dễ: đoạn tuyệt sự nô lệ Ai Cập, phiêu lưu trong sa mạc, tạo lập cộng đồng trên đất riêng, diễn tả căn tính tôn giáo, chấp nhận luật pháp.
Bằng việc này ngài kích thích và đồng hành với các cá nhân và cộng đồng trong một cuộc hành trình giải phóng: giải phóng các gông cùm của con người và mở ra cho Thiên Chúa giữa những chiến đấu và thử thách.
Như thế ngài làm họ ý thức về điều mà tự con người không có khả năng khám phá ra về định mệnh của mình: họ không phải những nô lệ, cũng không lệ thuộc các sức mạnh ma thuật, mà là “dân Thiên Chúa”, đối tượng tình yêu của ngài.
Kinh Thánh không chỉ mô tả hành động của Thiên Chúa theo các thái độ mà chúng ta gán cho việc giáo dục (tôn trọng tự do, kiên nhẫn, các cơ hội mới, thử thách); Kinh Thánh không chỉ sử dụng ngôn ngữ mà chúng ta dùng để mô tả công việc giáo dục (hướng dẫn, sửa sai, đồng hành, trừng phạt để cứu rỗi), nhưng trực tiếp gán cho Thiên Chúa vai trò của Nhà Giáo Dục. . . bằng cách chọn từ Do Thái “Musar” được dịch sang tiếng Hi Lạp là “Paideia”, Nhà Giáo Dục.
“Gặp thấy dân giữa miền hoang địa, giữa cảnh hỗn mang đầy tiếng hú rợn rùng, Chúa ấp ủ, Chúa lo dưỡng dục, luôn giữ gìn, chẳng khác nào con ngươi mắt Chúa. Tựa chim bằng trên tổ lượn quanh, giục bầy con bay nhảy, xoè cánh ra đỡ lấy rồi cõng con trên mình. Duy một mình Đức Chúa lãnh đạo dân; chẳng có thần ngoại bang nào bên cạnh Chúa.”130 Đoạn văn này thật thơ mộng và dễ thương, nhưng không phải đoạn duy nhất. Có thể thu thập hàng trăm đoạn văn Kinh Thánh ngắn hay dài về công việc giáo dục của Thiên Chúa đối với con người theo cùng một giọng văn như thế: “Khi Ítraen còn là đứa trẻ, Ta đã yêu nó, từ Ai Cập Ta đã gọi con Ta về. . . Ta đã tập đi cho Eùpraim, đã đỡ cánh tay nó. . . Ta lấy dây nhân nghĩa, lấy mối ân tình mà lôi kéo chúng. . . Ta xử với chúng như người nựng trẻ thơ, nâng lên áp vào má; Ta cúi xuống gần nó mà đút cho nó ăn.”131 “Anh em hãy ghi tạc trong lòng rằng Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, giáo dục anh em như một người giáo dục con mình.”132
Hành động giáo dục của Thiên Chúa được diễn tả trong việc đòi hỏi một sự tăng trưởng dần dần, nhưng cũng đòi hỏi một sự đoạn tuyệt tức thời với quá khứ và lập tức chuyển sang các thế giới mới và các lối sống mới. “Hãy ra khỏi đất ngươi” không chỉ là một lời hay một mẩu chuyện, mà là một mối quan hệ liên tục giữa con người và Thiên Chúa. Tất cả đều nhằm nâng tinh thần và đời sống lên một chất lượng các mối quan hệ hỗ tương và các viễn tượng lịch sử cao hơn. . .
Đường hướng giáo dục này đạt tột đỉnh nơi Đức Giêsu Kitô. Ngài tự xưng mình là Thầy. Tìm ra các điểm nhấn mạnh và tính chất giáo dục trong Tin Mừng không khó. Chỉ cần nghĩ đến các đối thoại của Chúa Giêsu với các môn đệ và dân chúng mà ngài gặp gỡ: ngài mở lòng họ ra, ngài mời họ suy tư và hiểu. Chúng ta thêm vào đây ngôn ngữ của các dụ ngôn mà ngài dùng để giúp người nghe dễ hiểu chân lý hơn; và nhất là ngài mời gọi người ta vượt qua các đòi hỏi vật chất để tìm đến các đòi hỏi sâu xa hơn của Nước Trời.
Hành động giáo dục của ngài trở thành có hệ thống và thường xuyên mỗi ngày với các tông đồ.
Mỗi lần một ít, ngài giúp họ hiểu giá trị và những đòi hỏi của một kế hoạch cộng đoàn lâu dài; trong khi họ chỉ tỏ ra quan tâm tới các lợi ích riêng và muốn có các hiệu quả tức thời.
Ngài giúp họ khắc phục thái độ độc quyền và sự say mê quyền lực. Họ cần học biết chấp nhận các địch thù, các người cạnh tranh, và suy nghĩ khác với mình133.
Ngài dạy họ thấy, nhìn sâu các vấn đề cơ bản của con người, ví dụ, bệnh tật, các tai họa không cắt nghĩa nổi, sự chết134. Họ cần học biết rằng không có mối liên hệ trực tiếp giữa đau khổ và tội lỗi.
Ngài giúp họ đi từ quan niệm và các lợi ích “địa phương” sang các câu hỏi tôn giáo và sự cứu rỗi của quốc gia và thế giới. Họ cần phải ra khỏi não trạng làng xóm để suy nghĩ với não trạng hoàn vũ.
Ngài cũng hướng dẫn họ biết phê bình một số khía cạnh của tôn giáo mà đi ngược lại con người: thái độ nệ luật, thái độ thanh sạch hình thức, việc lợi dụng tôn giáo của những người cai trị, thái độ nghi thức135.
Ngài dạy họ biết phán đoán bằng sự thận trọng và tinh tế, khắc phục những đánh giá nông cạn và vội vàng về con người. Chúng ta nghĩ đến sự phán đoán về người phụ nữ xức dầu thơm chân ngài tại nhà ông Simon và câu chuyện về người phụ nữ ngoại tình. Ngày nay chúng ta cũng vẫn còn nghe các lời phê phán nặng nề của các tín hữu trước các tình huống tương tự. . .
Chính trong viễn tượng này chúng ta phải hiểu chức năng giáo dục của Hội Thánh trong thế giới hôm nay. Giáo dục con người không phải là một việc biểu lộ đức ái một cách tùy ý, như cho người đói ăn hay cho người lữ khách có chỗ nghỉ chân. Nó là chính con tim của sứ mạng của Hội Thánh. Hội Thánh trở thành trung gian ân sủng giáo dục của Thiên Chúa, sự tiếp nối việc giảng dạy của Đức Kitô, và dấu chỉ sự hiện diện của Chúa Thánh Thần nơi con người.
Thế nên trong Hội Thánh mọi sự đều mang tính giáo dục, nhằm giúp con người ý thức về hiện hữu và định mệnh của mình, đánh thức các năng lượng kiến tạo, khám phá những gì là tốt lành, cao quí, và vĩnh cửu mà Tạo Hoá đã đặt trong lòng họ. Một vài tác giả (Dietrich von Hildebrand) đã chú tâm nghiên cứu về sức mạnh giáo dục của phụng vụ với các cử chỉ, nhịp điệu, thái độ, lời nói, và ý nghĩa của nó. . .
Hội Thánh luôn luôn nâng đỡ sự liên kết hay sự nhất quán giữa việc sinh con, giáo dục nó, mở lòng nó nhận biết Thiên Chúa, khai tâm nó vào mầu nhiệm Đức Kitô và vào sự sống theo Thần Khí, hợp với lời thánh Phaolô: “Tất cả những gì là chân thật, cao quí, những gì là chính trực, tinh tuyền, những gì là đáng mến và đem lại danh thơm tiếng tốt, những gì là đức hạnh, đáng khen, thì xin anh em hãy để ý.”136
Ngoài các thừa tác viên phụng tự và các nhà rao giảng, trong Hội Thánh cũng sẽ luôn luôn có rất nhiều nhà giáo dục dân chúng. Sẽ luôn luôn có những con người đặc sủng để sáng lập các tổ chức giáo dục cho mọi giai cấp xã hội và mọi bối cảnh văn hoá.
Nhiều tu sĩ sẽ hiến mình một cách chuyên nghiệp cho hoạt động giáo dục, lấy nó làm chọn lựa cơ bản về Thiên Chúa: không phải một khía cạnh thêm thắt vào sự thánh hiến tu trì, mà là một cách đặc biệt để diễn tả nó.
Để kết luận: giáo dục là tham dự vào công cuộc của Chúa Cha, Đấng tạo dựng con người, của Chúa Kitô, Đấng mặc khải tư cách con cái Thiên Chúa của chúng ta và giúp chúng ta sống tư cách ấy, của Chúa Thánh Thần, Đấng từ thâm tâm chúng ta gợi hứng sự tăng trưởng tự do và các biểu hiện đặc trưng của những người con Thiên Chúa.
Điều này được diễn tả một cách rất can đảm và đơn sơ bởi một khoản Hiến Luật của các Chị FMA: “Việc hộ trực Salêdiêng (cách giáo dục của chúng ta!) ... chú tâm đến Chúa Thánh Thần, Đấng hoạt động trong mọi người”137.
3. Giáo dục và linh đạo
Chúng ta quen đề cập đến chủ đề giáo dục theo ba cách.
Một cách là kinh nghiệm sống. Nó cho chúng ta một khái niệm thực sự về những khó khăn của việc giáo dục, nhưng cả những lợi ích mà thanh thiếu niên hưởng nhận từ đó. Giáo dục là một nghệ thuật khó nhưng không thể thay thế.
Một cách khác là dựa vào chuyên môn: nó cho chúng ta các kiến thức và kỹ thuật để thể hiện nhiệm vụ giáo dục.
Cách thứ ba là dựa vào đức tin hay “đặc sủng” giúp tỏ lộ giá trị của đức ái có trong việc phục vụ giáo dục của chúng ta và các mục tiêu cao nhất mà nó nhắm tới.
Vậy, cái gì tăng trưởng trong đời sống chúng ta khi chúng ta giáo dục? Chúng ta phải khắc phục và hi sinh cái gì? Chúng ta phát triển những chiều kích nào?
Nhà giáo dục được kêu gọi chiêm ngắm mầu nhiệm Thiên Chúa hoạt động nơi con người, và hiến mình phục vụ mầu nhiệm này: rất giống với điều Đức Maria đã làm với Chúa Giêsu, cho tới lúc sự trưởng thành con người của người con này đạt tới ý thức Thiên Chúa. Đức Maria đã phải theo dõi và nâng đỡ nhân tính này bằng việc cho bú mớm, tắm rửa, yêu thương, khuyên bảo, dạy ngôn ngữ và truyền thống, mà không biết một cách chắc chắn Chúa Giêsu sẽ có thể tự mặc khải mình là gì.
Có một sự đối thoại thầm kín và bí nhiệm bên trong mỗi con người. Từng chút một, con người đạt được ý thức về mình, bằng cách triển khai một kế hoạch đời sống trong đó con người đánh cuộc các sức mạnh của mình và thi thố các tiềm năng của mình.
Tương lai của họ là một tương lai còn chưa biết. Nhà giáo dục được kêu gọi cống hiến tất cả những gì họ tin là thích hợp và tôn trọng tự do của chủ thể đối thoại, qua việc sống cái tương lai chưa biết ấy bằng niềm hi vọng. Don Bosco đã thích nghi một câu nói trong Kinh Thánh theo bản dịch của thời ngài, và cho viết trên tường nguyện xá một câu nói mà ngày nay chúng ta vẫn còn đọc thấy: “Người ta không thể biết được dấu vết con rắn để lại trên đá, cũng không biết được con đường một đứa trẻ sẽ đi trong cuộc đời”. Tuy nhiên nhà giáo dục thực lòng quan tâm tới cái không chắc chắn của con người. Thực ra trong cái không chắc chắn này, nhờ sự tăng trưởng, Thiên Chúa sẽ được đón nhận và tự mặc khải ngày càng rõ ràng hơn.
Có thể người tu sĩ tự hỏi: tôi có thể cống hiến điều gì trong giáo dục, khác với điều mà một người ngoài đời có thể cống hiến? Về lãnh vực chuyên môn, không gì cả. Người tu sĩ thánh hiến làm và nói cũng giống như người đời. Nhưng khi nói như thế, chúng ta đang giới hạn việc giáo dục vào việc dạy dỗ, xã hội hoá, hay đào luyện chuyên môn.
Ngược lại, nếu chúng ta hiểu giáo dục như sự thăng hoa các tiềm năng con người và mở ra cho các chân trời kinh nghiệm rộng lớn hơn, thì người tu sĩ đặt vào đó tất cả sức nặng của sự chọn lựa cơ bản của họ. Việc tiếp xúc của họ có thể nói được điều gì đó về các giá trị của Tin Mừng.
“Trong một thế giới bị quyến rũ bởi thuyết vô thần và việc sùng bái ngẫu tượng khoái lạc, của cải và quyền lực, lối sống của chúng ta làm chứng, đặc biệt cho thanh thiếu niên rằng Thiên Chúa hiện hữu và tình yêu ngài có thể lấp đầy một cuộc sống. Nó cũng làm chứng rằng nhu cầu yêu thương, sự ham muốn sở hữu và quyền tự do định đoạt về số phận mình đạt được ý nghĩa tột đỉnh nơi Đức Kitô Cứu Chúa.”138
Là nhà giáo dục đòi hỏi khả năng chuyên môn và sự tận tụy kiên trì với bổn phận. Giáo dục là một công việc chuyên môn, mà để hoàn thành nó thì thiện chí mà thôi không đủ. Cũng như với các nghề chuyên môn khác, nó là cả một khoa học và một việc thực hành tích luỹ. Can thiệp trên nguyên tắc bằng hình thức đại khái hay ngẫu hứng thì cũng giống như làm một cuộc can thiệp phẫu thuật trong bóng tối hay với một dụng cụ xoàng. Lịch sử tâm bệnh học thì đầy các chấn thương xảy ra trong thời kỳ giáo dục.
Ngày nay hơn bao giờ hết, việc giáo dục trở nên phức tạp vì nhiều yếu tố: thanh thiếu niên đón nhận nhiều ảnh hưởng và họ rất khó tổng hợp chúng, các tác dụng giáo dục thì nhiều và hầu như luôn luôn không liên quan gì với nhau, các thông điệp thì đủ kiểu. Cho nên giáo dục đã được định nghĩa là “một nhiệm vụ bất khả thi”.
Nhà giáo dục cần sự làm việc nghiêm túc và tinh thần tỉnh táo. Họ phải có hành động trước mọi trào lưu ảnh hưởng đến thanh thiếu niên và giúp họ đánh giá và chọn lựa. Điều này đòi hỏi kiên nhẫn và tình yêu.
Cuối cùng, là khả năng chia sẻ và truyền thông. Biết mà thôi không đủ, cần phải có khả năng truyền đạt. Truyền đạt mà thôi không đủ, cần phải tự truyền thông. Ai truyền đạt một khái niệm mà không tự truyền thông thì chỉ dạy chứ không giáo dục.
Mặt khác, không thể có truyền thông nếu không ra khỏi bản thân mình. Cần yêu mến điều mình truyền đạt và những người mà chúng ta truyền đạt cho. Không phải là vấn đề chọn những dụng cụ tốt nhất hay những kỹ thuật tốt nhất, mà là vượt lên trên những bài học “đóng hộp” và những bài thuyết trình “đông lạnh”.
Chắc chắn các loa phóng thanh, tivi, cassettes, tranh ảnh có ích để làm sáng tỏ các khái niệm. Nhưng điểm cơ bản là tin vào những gì được cống hiến, có khả năng suy tư lại trong ánh sáng kinh nghiệm và văn hóa hiện nay những gì đã tạo nên sự phong phú của chúng ta để có thể chia sẻ chúng cho thanh thiếu niên. Cả điều này cũng đòi hỏi một lao động mang tính tu đức thực sự.
Chú thích
130Đnl 32,10-12
131Hs 11,1-4
132Đnl 8,5
133xem Mc 9,38-39; Lc 9,52-56
134xem Ga 9,1-4; 11,17tt; Lc 13,1-5
135xem Mt 12,1-11; 15,10-19; 13,13-20; Lc 13,10-16; Ga 5,9-18
136Pl 4,8
137HL FMA 67
138HL SDB 62