X. BÍ TÍCH HOÀ GIẢI
Không thể phác họa diện mạo linh đạo của chúng ta và của mọi linh đạo tông đồ mà không nói đến các bí tích.
Trong việc mục vụ tất cả là bí tích. Thực vậy việc mục vụ liên quan đến một thực tại vô hình, mà người ta chỉ có thể nhận ra qua các dấu hiệu.
Đời thánh hiến đối với chúng ta và đối với thế giới là một “dấu hiệu”, một bí tích. Chúng ta tìm cách làm chứng về một thực tại vô hình thông qua một số chọn lựa và lối sống.
Ngoài ra, là nhà giáo dục, chúng ta nại đến một chiều kích rất thâm sâu của con người mà Don Bosco gọi là “tôn giáo”. Đó là sự nhận biết sự hiện diện của Thiên Chúa trong đời sống mình. Vì vậy chúng ta như thể chìm ngập trong một bầu khí bí tích.
Lúc này thời giờ chỉ cho phép chúng ta suy niệm về một bí tích: Hoà giải. Nó liên quan mật thiết với chúng ta theo hai nghĩa.
* Như những người “thánh hiến”: xung quanh bí tích Hoà giải tập hợp một chùm chủ đề cơ bản cho đời sống trong Thần Khí, mà thiếu nó thì không thể có khái niệm gì về Tin Mừng: sự hoán cải, ý thức tội lỗi, sự hoà giải, sự khổ chế, lòng thống hối (đau đớn vì xúc phạm đến Chúa), việc “vác thập giá”.
* Như những nhà giáo dục: sự hoà giải liên quan đến nhiều khía cạnh của việc trưởng thành Kitô giáo của thanh thiếu niên, nhưng nhất là một khía cạnh có tính quyết định: đào luyện lương tâm155. Sự gìn giữ và phát triển đức tin tuỳ thuộc vào sự đào luyện này. Đức tin được kiện cường và kích thích trong một lương tâm được soi sáng và chính trực, trong khi nó bị bóp nghẹt, biến mất hay đứng bên lề cuộc sống, khi người ta không hành động theo lương tâm.
Đối với chúng ta, hai khía cạnh này kết hợp mật thiết với nhau: nếu giáo dục và rao giảng Tin Mừng không phải là cung cấp những bài học, mà là thông truyền một kinh nghiệm sống, thì chỉ nguyên sự kiện chính chúng ta có một kinh nghiệm về sự hoà giải, đủ để chúng ta có khả năng dẫn đưa thanh thiếu niên vào khía cạnh cơ bản này của đời sống Kitô giáo.
Tương quan này được diễn tả trong một đoạn văn rất hay của thánh Phaolô nói về Hội Thánh: “Cho nên, phàm ai ở trong Đức Kitô đều là thọ tạo mới. Cái cũ đã qua, và cái mới đã có đây rồi. Mọi sự ấy đều do bởi Thiên Chúa, là Đấng đã nhờ Đức Kitô mà cho chúng ta được hoà giải với Người, và trao cho chúng tôi chức vụ hoà giải. Thật vậy, trong Đức Kitô, Thiên Chúa đã cho thế gian được hoà giải với Người. Người không còn chấp tội nhân loại nữa, và giao cho chúng tôi công bố lời hoà giải. Vì thế, chúng tôi là sứ giả thay mặt Đức Kitô, như thể chính Thiên Chúa dùng chúng tôi mà khuyên dạy. Vậy, nhân danh Đức Kitô, chúng tôi nài xin anh em hãy làm hoà với Thiên Chúa.”156
Có hai điều liên kết với nhau: kinh nghiệm cá nhân và việc phục vụ hoà giải.
Suy tư của chúng ta tập trung vào bốn khía cạnh :
– là những nhà giáo dục-rao giảng Tin Mừng có óc thực tế;
– là những con người được hoà giải với Thiên Chúa và với đời sống;
– là những hối nhân. . . với sự đơn sơ và vui tươi;
– là những nhà giáo dục và thừa tác viên của bí tích hoà giải.
1. Những nhà giáo dục với ý thức về thực tại
Có óc thực tế có nghĩa là nhìn nhận sự tồn tại và các chiều kích của sự ác, biết rằng có những sự kiện nguy hiểm cho đời sống và trong thế giới chúng ta cũng phải kháng cự lại chúng.
Sự trưởng thành về phán đoán chính là ở chỗ nhận thức được tiềm năng mà cuộc đời cống hiến và các nguy cơ tương ứng với chúng trong cuộc đời. Chỉ nhận ra một chiều kích mà thôi là cái nhìn phiến diện và thực chất là thái độ ấu trĩ.
Mọi sự thiện đều có mặt trái đối lập với nó trong thâm tâm chúng ta và trong thế giới xung quanh chúng ta: yêu và ghét, dấn thân và dửng dưng, chính trực và bất lương . . . tự cơ bản là ánh sáng và bóng tối, sự sống và sự chết.
Chiến tranh, bi kịch, đấu tranh là cuộc sống của con người trên trái đất. Không gì thiếu trưởng thành hơn là loại bỏ sự nhận thức về một sự thất bại có thể xảy ra. Trong khoa sư phạm của Don Bosco, “các sự sau”, “các châm ngôn đời đời” gợi tới hoàn cảnh này như là “sự rủi ro” của con người.
Trong các văn kiện mới đây của Hội Thánh có nêu lên những hậu quả của sự dữ trên bình diện vĩ mô: sự vi phạm phẩm giá con người, sự phân biệt chủng tộc, xã hội, tôn giáo, sự chuyên chế của quyền lực chính trị và kinh tế, bạo lực và các cuộc tấn công hiếu chiến, sự bóc lột người nghèo, sự phân phối bất công các của cải, sự tham nhũng trong quản trị của công.
Chúng ta cũng thấy các hậu quả tương tự nơi thanh thiếu niên: sự ác (trốn đời, tự do phóng túng, vô trách nhiệm) phá hoại các năng lượng tốt nhất của họ. Như thế cuộc đời bị tiêu hao trong sự phù phiếm; sinh lực được dùng vào các điều vô giá trị, và nhiều thanh thiếu niên đi tới chỗ vong thân và thất vọng.
Nhận thức được sức mạnh phá hoại của sự dữ là có ý thức về tội lỗi.
Có câu nói: “Giới hạn lớn nhất của thời đại chúng ta là sự mất ý thức về tội lỗi.” (Đức Piô XII). Và do đó: “Tái lập ý thức đúng về tội lỗi là hình thức đầu tiên để đối diện với cuộc khủng hoảng thiêng liêng nghiêm trọng đang xảy ra cho con người của thời đại chúng ta.”157
Cần nói rằng sự đào luyện lương tâm và ý thức về tội không thể có được chỉ bằng việc rao giảng về sự cáo tội và thú tội, nhưng bằng một việc giáo dục đức tin chú ý hơn đến chiều kích luân lý.
Trong thực tế, đào luyện ý thức về tội bao gồm:
– nhận ra sự ác luân lý như phá hoại nhân vị và các mối quan hệ, cho dù nó mang đến bất kỳ cái lợi trước mắt nào: tại sao nó là xấu?. . . cuộc đời là trách nhiệm và sứ mạng chứ không chỉ là khoái lạc và quyền lợi;
– nhận diện sự ác: cái gì là xấu. . . đâu là ranh giới giữa thiện và ác: chủ nghĩa tự do, chủ nghĩa chủ quan, chủ nghĩa tương đối;
– đặt sự ác trong tương quan với tự do và trách nhiệm cá nhân: khuynh hướng giảm thiểu trách nhiệm cá nhân hay đặt sự ác bên ngoài con người;
– nhận thức mối tương quan với ý chí và tình yêu Thiên Chúa: khó nghĩ về sự siêu việt.
Trong thực tế, môi trường và nền văn hoá mà chúng ta đang sống làm cho chúng ta một cách hầu như không ý thức, ít nghĩ đến sự hiện diện của sự dữ và do đó giảm bớt sự tỉnh táo đề phòng. Người ta thấy sự dữ dưới mọi sắc thái nhưng không ai coi là quan trọng. Chúng ta gần như quen với sự kiện rằng mỗi người tự chọn nền đạo đức cho mình miễn là nó không vi phạm các qui luật sống chung và các quyền lợi của người khác. Có thể xảy ra chuyện chính các tu sĩ cũng không bị ấn tượng trước các cách cư xử xấu xa và ít lưu tâm tới một hướng dẫn đạo đức nghiêm khắc.
Có nhiều nguyên nhân.
Phán đoán đạo đức hiện nay thường dựa trên các lý do trực tiếp: ý kiến của đa số xuất hiện trên các thống kê, các lợi thế, hoàn cảnh cá nhân.
Ý thức về Thiên Chúa bị yếu. Hình ảnh của ngài hầu như bị xoá trong lương tâm cá nhân và xã hội. Điều này khiến người ta khó nghĩ rằng các hành động của chúng ta có liên quan đến ý muốn của ngài. Chúng ta lưu ý để không mâu thuẫn với người đồng loại và không xúc phạm những người sống quanh chúng ta. Các nhân vật vô hình hay xa xôi không có ảnh hưởng quyết định đối với cách cư xử của chúng ta.
Phân tích các nền văn hoá cho thấy nhiều qui tắc xưa kia vốn được coi là tuyệt đối, nay được coi là lệ thuộc các nền văn hoá như thế nào : cảm giác xấu hổ, sự tôn trọng quyền bính, chế độ hôn nhân nhất định, cách diễn tả tính dục. Người ta đã tương đối hoá chúng và coi chúng là có thể thay đổi và không bó buộc.
Nghiên cứu về cách ứng xử con người qui gán “cảm giác có tội” cho loại nhân cách, cho giáo dục gia đình, cho môi trường xã hội. Người ta nhấn mạnh các chi phối của hoàn cảnh và nhu cầu tự giải phóng khỏi các hoàn cảnh chi phối ấy hơn là trách nhiệm cá nhân.
Người ta đã đi đến chỗ tách rời giữa đạo đức “riêng tư” và đạo đức “công cộng”. Sự tách rời này không giúp duy trì các chuẩn mực đạo đức. Nhiều điều ngày nay được để tùy chọn lựa cá nhân: phá thai, cái chết êm dịu, ly dị, tính dục đồng giới, thụ thai nhân tạo. Về tất cả vấn đề này, trong môi trường xã hội và cả trong môi trường giáo dục người ta đã khơi dậy được một sự nhậy cảm, nhưng chỉ liên quan tới các rủi ro và lợi ích của nó; người ta không cống hiến một nền tảng đạo đức vững chắc, càng không có ám chỉ gì về đấng siêu việt.
Tất cả điều này ảnh hưởng tới thanh thiếu niên giống như một đám mây độc hại. Không lạ gì giữa thanh thiếu niên xuất hiện một tập hợp các hội chứng và phản xạ đối với nền văn hoá mà họ đang hít thở. Việc đào luyện luân lý của họ trở thành chắp vá. Nó giống với chiếc áo của anh hề hơn là một bức tranh được vẽ một cách hợp lý.
Thực ra họ lấy các chuẩn mực và qui tắc từ nhiều nguồn khác nhau: từ gia đình và trường học, từ báo chí và truyền hình, từ bạn bè, từ suy tư cá nhân. Sự chọn lựa được bỏ mặc cho sở thích chủ quan mỗi người.
Người ta nói đến sự nhậy cảm của giới trẻ về các giá trị mới. Nhưng khó có thể hiểu được tới mức nào đây là một sự dấn thân hay không phải là một sự giải trí nhất thời, một hình thức để sống chung với nhau và kích thích lẫn nhau.
Các điểm nòng cốt của sự nhậy cảm đạo đức ngày nay là: nhân vị như là giá trị quyết định và hầu như tuyệt đối; lương tâm cá nhân như qui luật tuyệt đối; hoàn cảnh sống của cá nhân như nhân tố quan trọng để đánh giá đạo đức con người.
Trong cùng hướng này môi trường cũng ảnh hưởng trên những người lớn, các tu sĩ và các nhà giáo dục, nếu họ không chú tâm tới việc đọc Lời Chúa và việc phân định để giúp họ biết cảnh giác. Sự nhạy cảm có thể trở nên phai nhạt. Như thế chúng ta gần như đi theo qui luật của quả lắc đồng hồ, từ một não trạng nghiêm khắc và thấy mình có tội trước kia sang một não trạng đối nghịch khác, “vui vẻ” và dửng dưng, từ chỗ thấy đâu cũng là tội sang chỗ không thấy tội ở đâu hay ở người nào cả; từ chỗ nhấn mạnh về hình phạt mà tội đáng phải chịu, tới chỗ trình bày một tình yêu của Thiên Chúa mà không có phần trách nhiệm của con người: số phận của con người có thể là “như nhau” bất kể họ đáp lại Thiên Chúa như thế nào; từ sự nghiêm khắc trong việc sửa chữa lương tâm sai lạc, sang thái độ tôn trọng lương tâm đến độ không màng tới việc đào luyện nó; từ mười giới răn được học thuộc lòng, sang chỗ không còn dạy gì về các giới răn trong một hệ thống đạo đức Kitô giáo.
Vì vậy, để là các “Kitô hữu trưởng thành”, các “nhà giáo dục đức tin đích thực”, các nhà rao giảng Tin Mừng thực tế, có nghĩa là:
– không ngộ nhận hay ngụy trang và cũng không cường điệu sự hiện diện của sự dữ trong đời sống cá nhân và xã hội, và ý thức về các khả năng phá hoại của nó;
– biết nhận diện sự dữ trong gốc rễ của nó, được Lời Chúa soi sáng, để có thể dẫn đến sự tái sinh;
– biết rằng Đức Kitô đã chiến thắng sự dữ, rằng sự sát nhập của chúng ta vào sự chết và phục sinh của ngài dạy chúng ta đi theo chính con đường của ngài, để khắc phục chính bản thân mình: đó là con đường kháng cự, tỉnh thức, chiến đấu tinh thần, luân lý, thiêng liêng.
2. Những con người được hòa giải sâu xa
Đó là những con người tự chất vấn mình và để mình bị chất vất một cách thanh thản, không nhắm mắt trước các thái độ và cách ứng xử của chính mình, biết vui vẻ tha thứ và cảm thấy mình cần được tha thứ, cảm nghiệm sự an bình với Thiên Chúa, với bản thân, với anh chị em mình. Như thế họ tự giải phóng mình khỏi sự dữ nhờ việc nhìn nhận sự hiện diện của Thiên Chúa trong chính sự nghèo hèn của mình và nhờ nỗ lực hướng đời sống mình về ngài.
Kinh nghiệm sau đây mà thánh Phaolô nói cho chúng ta trong một đoạn văn mà chúng ta có thể suy nghĩ, hệ tại điều gì: “Vậy, một khi đã được nên công chính nhờ đức tin, chúng ta được bình an với Thiên Chúa, nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. . .Thật vậy, nếu ngay khi chúng ta còn thù nghịch với Thiên Chúa, Thiên Chúa đã để cho Con của Người phải chết mà cho chúng ta được hoà giải với Người, phương chi bây giờ chúng ta đã được hoà giải rồi, hẳn chúng ta sẽ được cứu rỗi nhờ sự sống của Người Con ấy. Nhưng không phải chỉ có thế, chúng ta còn có Thiên Chúa là niềm tự hào, nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, Đấng nay đã hoà giải chúng ta với Thiên Chúa.”158
Bản văn nói đến sự bình an, cứu rỗi, niềm tự hào, và sự sống. Đối chiếu với nhiều bản văn khác mà chúng ta gặp trong Kinh Thánh, có nhiều kiểu chú giải. Chúng ta chọn ra đây một số.
Sự giao hoà là một sáng kiến và một hồng ân của Thiên Chúa
Trong Tin Mừng, người cầu xin hay muốn ơn tha thứ không phải một người, đàn ông hay đàn bà, mà là Chúa Giêsu đề nghị ban ơn tha thứ.
Hành trình hoà giải không bao giờ phát xuất từ việc cáo tội, mà từ việc cảm thấy mình là những “con người” được nhìn nhận, trong một mối quan hệ mới và bất ngờ soi sáng đời sống mình và cho thấy sự xấu xa của đời sống ấy. Chính theo cách ấy mà ông Dakêu nhận ra tội của mình. Chính Chúa Giêsu nhìn về phía Dakêu và được ông mời về nhà ông. Chính Chúa Giêsu đến để bênh vực người phụ nữ ngoại tình. Chính Chúa Giêsu nhìn ông Phêrô, và ngay lúc ấy ngài đã quên đi tội bất trung của ông.
Ở gốc rễ ước muốn giao hoà luôn luôn có tác động của lời nói hay của người đánh thức sự thờ ơ của chúng ta trong một đời sống nghèo nàn và mời gọi chúng ta tự thắng mình.
Cần vượt qua não trạng coi việc chúng ta vi phạm các giới răn hay không hoàn thành các mục đích như là yếu tố chính của sự hoà giải. Ngược lại cần đặt mình trước các mối quan hệ đích thực với Thiên Chúa: ngài có ý nghĩa lớn đối với chúng ta hay không, chúng ta có mong đợi nhiều ở ngài, có lo lắng nhiều để không mất ngài hay không. Tôi nghĩ đến các cặp vợ chồng. Khi có một quan hệ yêu thương, họ bằng lòng nhìn nhận những khiếm khuyết nho nhỏ của mình và nhìn nhận sự quảng đại của người bạn đời; người ta luôn luôn sẵn sàng để dàn xếp những mối khác biệt lớn. Khi mối quan hệ qúy chuộng, yêu thương và mong đợi lẫn nhau không còn, họ cảm thấy ghê tởm và nặng nề khi phải thú nhận các khiếm khuyết nho nhỏ của mình. Nguyên chỉ sự có mặt hay ý nghĩ về người kia thôi cũng đủ trở thành nhàm chán và không thể chịu đựng nổi.
Vì vậy điều quan trọng hơn đối với chúng ta liên quan đến con người và hoạt động mục vụ của chúng ta là nhìn nhận, nếm cảm và công bố lòng thương xót của Thiên Chúa, và tập trung mọi chú ý vào ngài, Cha của Đức Giêsu và của chúng ta; đây là chủ đề trung tâm của lịch sử cứu độ. Lòng thương xót của Thiên Chúa làm lại lịch sử mà lẽ ra bị hư hỏng, và không ngừng lập lại giao ước mà tính yếu đuối và dễ quên của chúng ta phá vỡ.
Tình yêu đối với Thiên Chúa không bắt nguồn từ sự hoàn thiện đạo đức của chúng ta, mà là nguồn gốc của sự hoàn thiện đạo đức. Nó là ân huệ của Thánh Thần. Chúng ta không yêu mến Thiên Chúa vì chúng ta tốt lành, mà ngược lại.
Thiên Chúa hoạt động bằng cách ban Thần Khí cho chúng ta
Điều Thiên Chúa làm nơi chúng ta không chỉ đơn giản hay chính yếu là xoá bỏ tội lỗi và hình phạt mà trí khôn loài người chúng ta cho là đích đáng. Nhưng ngài ban cho chúng ta Thần Khí, xây dựng nơi chúng ta một thực tại mới, mở ra cho chúng ta một chân trời mới, ban cho chúng ta một quả tim mới.
Ngài không đưa chúng ta trở về lại tình trạng trước kia của mình. Có lợi gì cho ngài và cho chúng ta nếu ngài làm chúng ta trở lại giống như trước kia, một con người mang những sự sám hối của mình? Ngược lại ngài tái tạo chúng ta thành những con cái ngài!
Điều kỳ diệu là vì các hành động xấu xa của chúng ta lẽ ra phải đưa chúng ta tới một tương lai hư mất, thì với sự hoà giải, Thiên Chúa không đưa chúng ta trở lại điểm xuất phát, mà đặt chúng ta vào một mối thân tình mới của giao ước với ngài. Cần phải suy niệm lại toàn cảnh cuộc trở về của đứa con hoang đàng.
Sự hoà giải do đó không phải bí tích của quá khứ một con người, giống như thể một tấm khăn phủ lên sự tự do phóng túng của họ hay trên các ước muốn hưởng thụ của họ. Ngược lại nó là bí tích của tương lai họ, của các khả thể mới, của tinh thần mới, của dự phóng cho tương lai.
Chúng ta được thúc đẩy tạ ơn
Sự hoà giải tuôn đổ trên mọi khía cạnh của đời sống nhờ ân sủng chúng ta nhận được: nó làm dịu mối căng thẳng trong con người, làm cho con người sẵn sàng đón nhận Thiên Chúa một cách thanh thản trong cuộc đời, mở ra cho sự khoan dung và giáo dục để biết tha thứ. Dakêu sau khi được hoà giải đã trở nên sẵn sàng hoàn trả lại nhiều hơn những gì ông đã ăn cắp.
Vì thế kinh nghiệm hoà giải trong Tin Mừng luôn luôn là kinh nghiệm của niềm vui và cảm xúc vô bờ. Người ta ăn mừng tột độ, khiến gây gương mù cho những người đứng đắn. Người ta đổ dầu thơm đắt tiền làm những người keo kiệt phản đối. Người ta ăn uống linh đình và mời mọi hạng người đến dự khiến những người nghiêm túc phàn nàn.
Bối cảnh của sự hoà giải luôn luôn là bối cảnh ngợi khen và tạ ơn. Tiếp theo các sự kiện này là biết bao bài thánh vịnh được liên tục hát lên: “Hãy ca mừng Đức Chúa vì Người tốt lành; vì tình thương của Người muôn đời.”159 “Chúc tụng Chúa đi, hồn tôi hỡi. . . Người tha thứ mọi tội ngươi và chữa lành mọi bệnh tật ngươi.”160
Thực vậy, Lời Thiên Chúa diễn tả thực tại của việc hoà giải bằng một bản giao hưởng với các lối ẩn dụ và loại suy: ân sủng, tạo dựng mới, tái sinh, công chính hoá, giải phóng. Hình ảnh này không phủ nhận hay đối chọi với hình ảnh kia: mỗi hình ảnh diễn tả một khía cạnh của tâm trạng mà đương sự cảm thấy. Thật ra chúng không phải những định nghĩa khoa học, cũng không phải những mô tả về trạng thái tâm lý, nhưng là một cố gắng để thông truyền điều xảy ra trong một người khi họ khám phá ra mình có giá trị đối với Thiên Chúa và được ngài yêu thương.
Chúa Kitô Trung gian vĩ đại
Trung gian và dụng cụ hoà giải vĩ đại là nhân tính Đức Kitô. Ngài đã phá bỏ mọi bức tường ngăn cách giữa Thiên Chúa và loài người. Bằng sự hoà giải mối liên lạc giữa Thiên Chúa và chúng ta đã đạt tới mức độ cao nhất. Khi nghe nói như thế, nhiều người trong anh em có thể nghĩ rằng đó là một khẳng định thần học, đúng nhưng không thực tế. Ngược lại, nó có những áp dụng vô cùng cụ thể trong việc thực hành và đời sống chúng ta.
Người ta khó đạt được ước muốn hoà giải nếu không có kinh nghiệm nhân loại về sự đón nhận và tình yêu. Cộng đoàn huynh đệ là trung gian cần thiết để đạt điều này. Việc thực hành của người Mục Tử Tốt Lành vì thế đòi hỏi chứng tỏ trước hết sự để ý, quí chuộng và lắng nghe con người. Đây là con đường dẫn đến việc duyệt xét đời sống mình và ước muốn thay đổi.
3. Các Hối nhân
Chúng ta có lý khi phân biệt giữa sám hối-bí tích, hành động cứu độ của Thiên Chúa qua trung gian của Hội Thánh, và sám hối-nhân đức, nghĩa là thái độ hoán cải nội tâm, quyết tâm tu đức của việc tự chủ, đền tội và thay đổi, được kéo dài trong đời sống và thực hành mỗi ngày.
Giữa hai điều này phải có sự liên kết nếu chúng ta không muốn biến bí tích thành một nghi thức “thánh thiêng và hầu như pháp thuật” hay biến đời sống thành một cố gắng thuần tuý của ý chí mà không qui chiếu về Thiên Chúa và ân sủng của ngài.
Việc thực hành xưa kia của Hội Thánh có một qui luật: sự nghiêm khắc của việc ban bí tích ít lần, thậm chí chỉ một lần, và nhiều cơ hội sám hối, kể cả sám hối công cộng trong đời sống. Nguy cơ của ngày hôm nay là điều ngược lại: đó là chúng ta quá quen với bí tích vì không có sự giới hạn số lần “sử dụng” và chúng ta quên việc thúc đẩy một cuộc đời “sám hối”.
Ngày nay chiều kích sám hối là cơ bản cho sự trưởng thành Kitô giáo. Không có sự sám hối thì không thể bắt đầu cũng không thể tiến bộ xa hơn trên con đường hoán cải: sự hoán cải này hệ tại chấp nhận một số điều và bỏ đi nhiều điều khác, chọn và tỉa gột, phá huỷ những điều cũ hay thói quen cũ hay vô ích và để mình được tái tạo lại. Chính là theo nghĩa này mà chúng ta kể về các câu chuyện của Abraham và của các tông đồ.
Sự sám hối-hoán cải là sứ điệp khai mào, là gương mẫu chính và lời khuyên thường xuyên của Chúa Giêsu: “Hãy hối cải và sám hố161i, ai muốn theo tôi phải vác thập giá”162. Vì vậy trong Hội Thánh việc này sẽ được đảm nhận, dưới dạng công khai bởi những cá nhân và nhóm, như một đoàn sủng đặc biệt. Chức năng của họ sẽ là làm cho việc noi gương Chúa Giêsu trong khía cạnh này trở thành “triệt để” và nhắc nhớ nó cho toàn thể Dân Chúa.
Linh đạo Salêdiêng sát nhập khía cạnh này theo ơn gọi và phong cách riêng, và cống hiến các hành trình sám hối.
Lao động
Không phải chỉ là dùng thời giờ vào bất kỳ một hoạt động nào. Mà là sự hiến mình cho sứ mạng với tất cả khả năng và thời giờ. Theo nghĩa này lao động không chỉ bao gồm lao động tay chân, mà cả lao động trí óc và tông đồ. Viết sách, giải tội, giảng thuyết, học hành đều là lao động.
Tầm quan trọng của lao động trong đời sống chúng ta có thể dễ thấy từ hai sự kiện: việc nhắc đến lao động trong huy hiệu và các lời trối cuối cùng của Don Bosco: “Cha khuyên các con: lao động, lao động, lao động!” Nhưng nó cũng có một giá trị biểu tượng: lao động là biểu hiện sự nghèo khó của chúng ta, là một nét đặc trưng của giai cấp nghèo hèn mà chúng ta ưu tiên hiến mình phục vụ, là nội dung chính của các chương trình giáo dục của chúng ta trong các trường dạy nghề và kỹ thuật, là đặc điểm của một trong các diện mạo hội viên, người sư huynh; nó là hình thức chúng ta hội nhập vào xã hội và văn hoá.
Biết bao sự sám hối hàm chứa trong lao động, chúng ta thấy được điều này khi nghĩ đến sự chuẩn bị và canh tân nghiệp vụ, là công việc đòi hỏi việc kiểm soát các sở thích cá nhân, sự bền bỉ, sự mệt nhọc.
Ở đây cũng có một động lực thiêng liêng: người Salêdiêng biết rằng “qua lao động họ tham gia vào hành động sáng tạo của Thiên Chúa và cộng tác với Đức Kitô trong việc xây dựng Nước Chúa.”163
Tiết độ
Tiết độ là nhân đức trụ điều hoà các bản năng, lời nói, và hành động theo lý trí và các đòi hỏi của đời sống Kitô giáo. Xoay quanh nó là sự tiết dục, khiêm nhường, điều độ, giản dị, khắc khổ. Trong hệ thống dự phòng các thực tại này đuợc bao gồm trong phần lý trí. Các biểu hiện của nó trong đời sống hằng ngày là: quân bình, nghĩa là chừng mực trong mọi sự, một kỷ luật thích hợp, khả năng cộng tác, sự thanh thản bên trong và bên ngoài, một mối quan hệ vui tươi và uy tín với mọi người, đặc biệt với thanh thiếu niên, vui tươi và uy tín.
Tiết độ trên hết là “tình trạng vận động viên thể thao” thường xuyên đối với bất cứ yêu cầu nào có ích cho giới trẻ; giữ mình tự do khỏi những sự trói buộc chi phối, khỏi áp lực của những sở thích hay đòi hỏi cá nhân tạo nên sự lệ thuộc.
Bác ái huynh đệ
Bác ái huynh đệ164 bao gồm sự tự chủ, cố gắng chú ý đến người khác, kiềm chế các tình cảm tự phát, khắc phục các xung đột, thông cảm những đau khổ của người khác. Nó là một việc thực hành làm người ta ra khỏi bản thân mình và thay đổi đường lối của mình, với quyết tâm chứng tỏ nó một cách dễ hiểu.
Tất cả điều này có vẻ quá nhẹ nhàng và hầu như là vui vẻ đứng trước sự nghiêm khắc của sám hối và hoán cải. Don Bosco diễn tả vẻ mâu thuẫn bề ngoài này bằng giấc mơ giàn hoa hồng165. Người Salêdiêng bước đi trên những cánh hoa. Mọi người nghĩ rằng họ “vui lắm”. Mà quả thực họ “hạnh phúc”. Bị gai đâm không làm họ mất niềm vui. Cả điều này cũng là một tu đức: sự đơn sơ, nét mặt tốt lành, không “đóng kịch”. Nó đáp lại lời khuyên phúc âm: “Khi anh em ăn chay, đừng làm bộ rầu rĩ, nhưng hãy xức dầu thơm trên đầu và rửa mặt cho sạch.”166
4. Các nhà giáo dục và thừa tác viên của sự sám hối
Chúng ta từng nhiều lần nghe nói rằng, theo Don Bosco, bí tích Hoà Giải và Thánh Thể là hai cột trụ của việc giáo dục. Có lẽ chúng ta đã không dừng lại để suy niệm ý nghĩa đầy đủ của lời khẳng định này. Chúng ta đã coi nó như những gợi ý duy trì việc thực hành đạo đức hơn là lời khuyên về một kinh nghiệm giáo dục đa dạng và phức tạp.
Chắc chắn chúng ta thấy trong đời Don Bosco có những cách diễn tả chứng tỏ tầm quan trọng ngài gán cho bí tích. Trong mỗi sách trong ba cuốn tiểu sử gương mẫu (Đaminh Savio, Micae Magone, Phanxicô Besucco) đều có một chương nói về phép giải tội. Trong sách tiểu sử Đaminh Savio, là cuốn ngài viết đầu tiên, có một chương bàn chung về hai bí tích, sám hối và thánh thể. Ngược lại, trong tiểu sử Micae Magone có hai chương, chương bốn và năm, bàn về phép giải tội. Dưới hình thức tiểu sử, Don Bosco đề nghị một khoa sư phạm để giúp thanh thiếu niên khắc phục các khuynh hướng xấu, trưởng thành nhân bản và qui hướng về Thiên Chúa qua bí tích sám hối.
Một nhà nghiên cứu về Don Bosco, Don Alberto Caviglia, cho rằng chương năm của cuốn tiểu sử ấy là một trong những bài viết sư phạm quan trọng nhất của Don Bosco, một tài liệu xuất sắc về việc linh hướng của ngài.
Ngoài ra còn có một tấm hình được phổ biến rất nhiều vào sinh thời của Don Bosco và đã lưu hành trên khắp thế giới sau khi ngài qua đời. Đây là tấm hình Don Bosco ngồi chụp lúc đang giải tội cho thanh thiếu niên. Cậu bé Phaolô Albera dựa đầu vào đầu Don Bosco như đang xưng tội với ngài, trong khi nhiều thiếu niên khác đang ngồi chờ đến lượt mình.
Bức hình này không phải là tình cờ. Nó được chụp theo ý muốn của Don Bosco và đã được Don Bosco chuẩn bị với ý định lưu truyền nó. Nó là một bảng quảng cáo, một tuyên ngôn, một thông điệp. Nó muốn diễn tả bằng hình ảnh điều ngài đã nói và viết với những lời này: “Kinh nghiệm đã chứng minh cho chúng ta rằng các cột trụ chống đỡ vững chắc nhất cho thanh thiếu niên là các bí tích xưng tội và rước lễ. Hãy cho tôi một em thiếu niên năng xưng tội rước lễ, bạn sẽ thấy nó sẽ lớn lên trong tuổi trẻ, đạt tới tuổi trưởng thành, và nếu Chúa muốn, đạt tới tuổi già với một hạnh kiểm gương mẫu cho tất cả những ai từng biết em. Chớ gì các thiếu niên hiểu châm ngôn này để thực hành nó; và chớ gì cả những người chăm lo việc giáo dục các em cũng hiểu để ghi tạc nó.”167
Tuy nhiên điều độc đáo nhất nơi ngài không phải ở sự nhấn mạnh việc đến với bí tích, mà ở việc biết tạo một bầu khí giáo dục hoà giải, qua đó người ta có một sự liên tục giữa kinh nghiệm sống và thời điểm bí tích. Ở nguyện xá thanh thiếu niên cảm thấy mình được lắng nghe và qúy mến, trong một bầu khí gia đình và tin tưởng, được kích thích truyền thông cho nhau và được mời gọi tiến bộ, với các mối quan hệ kêu mời họ tự chứng tỏ mình. Điều này tạo một bầu khí chuẩn bị đích thực cho việc hoà giải. Sự hoà giải này được cảm nghiệm trước hết dưới dạng nhân bản và trực tiếp. Không ít lần các thanh thiếu niên đi từ các cuộc trò chuyện thân tình với Don Bosco trong sân chơi để đến với hành vi sám hối.
Việc hoà giải, đặc biệt việc hoà giải ngoại thường, được diễn ra trong một bầu khí ngày lễ, theo phong cách Tin Mừng: cử hành thánh thể, tiếp theo là một cái gì “đặc biệt” ở bàn ăn, giờ chơi thể thao, biểu diễn văn nghệ đi cùng với việc lãnh nhận ơn tha thứ. Các thanh thiếu niên có thể có mọi điều kiện thuận lợi: giờ giấc, nơi chốn, con người, sự mời gọi.
Chính trong bầu khí này đã phát sinh nhiều cha giải tội Salêdiêng cho thanh thiếu niên, và họ đã có ảnh hưởng lớn đối với các ơn gọi nam cũng như nữ.
Ngày nay chúng ta đang sống giữa một hiện tượng ba mặt: thứ nhất là sự rời bỏ của đa số, thứ hai là việc sử dụng chiếu lệ của một số nào đó, và thứ ba, tích cực, là yêu cầu thực sự được linh hướng của một nhóm, ít người thôi, nhưng là những người đi tìm chất lượng cho đời sống thiêng liêng.
Việc đáp ứng cho đòi hỏi đa dạng này hệ tại việc làm lại hành trình giáo dục với nhóm đa số, sẵn sàng ở bên cạnh nhóm thứ hai để nâng đỡ những cố gắng còn khiếm khuyết của họ, và trở nên có khả năng hướng dẫn nhóm ít người mà cần được giúp đỡ sâu sát hơn.
Chú thích
155xem TTN 23, các số 182-191
1562 Cr 5,17-19
157RM 18.
158Rm 5,1.10-11
159Tv 106 (105)
160Tv 103 (102)
161Mt 4,17
162Mt 10,38
163HL SDB 18
164xem HL SDB 90
165MB VII, trg 664
166Mt 6,16-17
167Thánh Gioan Bosco, Vita del giovane Domenico Savio