FMA Logo

VI. LINH ĐẠO SALÊDIÊNG TRONG NẾP SỐNG HẰNG NGÀY



Linh đạo Salêdiêng đã được tổng hợp trong một vài công thức vắn gọn như các công thức Don Bosco đã dùng cho các học sinh của ngài. Nó là một tập tục gia đình: đơn giản, thống nhất, giúp ghi nhớ. Đời sống thần bí được tổng hợp qua châm ngôn: Da mihi animas. Khoa sư phạm của linh đạo chúng ta là: lý trí, tôn giáo, lòng thương mến. Nó không chỉ liên quan đến mối quan hệ với các thanh thiếu niên, mà còn liên quan đến hình thức xây dựng tính cách người tông đồ giáo dục. Công thức của lòng đạo đức là Chúa Giêsu Thánh Thể, Mẹ Maria Phù Hộ, và Đức Thánh Cha.

Đâu là chương trình thực tiễn để sống hằng ngày và lâu dài? Lao động, cầu nguyện, tiết độ.

Ba từ bình dân ấy, gần như là của giới vô sản, tương ứng với ba chiều kích mà Vita Consecrata nêu ra như là không thể thiếu cho mọi linh đạo: chiêm niệm, tông đồ, tu đức.

Vì vậy chúng ta phải đào sâu nội dung truyền thống và hiện đại của các từ này vì lợi ích của chúng ta, và để làm “la bàn” thực hành cho việc sinh động hoá cộng đoàn.

Chúng ta sẽ xét từng từ một.

1. Chiêm niệm trong hoạt động

Theo Vita Consecrata, mọi người cần chiêm niệm, và luôn luôn cần: các nhà thần học để có thể đánh giá đầy đủ bản chất nhận thức và thiêng liêng của khoa học của họ; những người chuyên cầu nguyện cần nó để không quên rằng xem thấy Chúa có nghĩa là đi xuống núi với một khuôn mặt quá chói loà khiến họ buộc phải lấy mạng che mặt; những người chuyên hoạt động cần nó để không nhốt mình trong một cuộc chiến không tình thương và không tha thứ81.

Có nghĩa là chiêm niệm không đồng hoá với việc học các môn học thánh, cho dù điều này cũng có ích. Có nghĩa là nó bao gồm kinh nguyện nhưng vượt trên kinh nguyện: chiêm niệm là cái mà truyền thống chúng ta gọi là sự “kết hợp với Thiên Chúa”, là ý thức và niềm vui vì sự hiện diện của ngài, là quan hệ con thảo với ngài.

Có nhiều câu hỏi cần đào sâu về chiêm niệm: chiêm niệm là gì, các hình thức chiêm niệm khác nhau, các nơi chốn thích hợp và ưa thích theo các kinh nghiệm thiêng liêng khác nhau. Tôi từng có dịp thảo luận các khái niệm này với các “nhà chiêm niệm” khi đề cập đến linh đạo hoạt động của chúng ta. Tôi thấy không phải thừa khi đưa ra một vài giải thích để hiểu hình thức chiêm niệm của chúng ta là gì và đi tới một sự thực hành thuyết phục.

Hai nơi cần được quan tâm đến trong sự duy nhất, gần như chúng được truyền thông cho nhau, để chứng minh định nghĩa về những nhà chiêm niệm trong hoạt động: kinh nguyện và hoạt động.

Kinh nguyện

Một trong những đòi hỏi nghiêm trọng nhất được nêu lên khi đưa ra một linh đạo về cầu nguyện. Ngày nay, một loạt các hiện tượng làm xuất hiện đòi hỏi này, không phải chỉ như biểu hiện đức tin Kitô giáo mà còn như để thoả mãn một nhu cầu của con người. Không ít người, thuộc các tín ngưỡng khác nhau, thậm chí không có tín ngưỡng nào, đang đi tìm một hình thức cầu nguyện nơi các phương pháp của phương đông hay nơi các hình thức tôn giáo mới.

Trong Hội Thánh cũng phổ biến các trường cầu nguyện được hướng dẫn bởi các giám mục hay linh mục. Người ta tập họp lại một lần mỗi tuần hay mỗi tháng vào mùa chay hay mùa vọng để đọc Kinh Thánh, các thánh vịnh, cầu nguyện trong thinh lặng. Phong trào canh tân trong Thánh Thần đã lấy việc cầu nguyện làm nét đặc trưng của nó; và phong trào “Taizé” mời gọi giới trẻ đến với kinh nghiệm chiêm niệm.

Đặc biệt có các ngày “tu viện”. Tu viện được coi là một địa điểm xã hội để suy tư và có các biểu hiện nghệ thuật gắn liền với sự thiêng liêng. Người ta rất chú ý đến các chương trình truyền hình về các “nhóm cầu nguyện” liên tôn (Kitô giáo, Do Thái giáo, Hồi giáo) vì các lý do lớn như hoà bình. Trong hầu hết các cuộc cử hành liên quan đến các biến cố tôn giáo, người ta thường tổ chức một đêm canh thức cầu nguyện. Tóm lại, hình như thế giới hay cá nhân con người cảm thấy một nhu cầu cấp bách tiếp xúc với những thực tại khác chứ không phải là các máy tính, máy móc, túi tiền, ngân quĩ, sản xuất, kế toán, và những cái giống như thế.

Một khuynh hướng giống như thế, vừa có ý nghĩa vừa mơ hồ, cũng xuất hiện trong tâm tình tôn giáo của giới trẻ. Có những nhóm trẻ đi tìm chiều sâu của kinh nguyện và các bậc thầy để dẫn dắt họ. Người ta tổ chức ngày càng nhiều các địa điểm cầu nguyện cho giới trẻ: các ốc đảo, các nhà tĩnh tâm, các “lều cầu nguyện”.

Một số họ đã có những sự nếm cảm, kinh nghiệm thoáng qua mà không ăn rễ sâu trong tâm hồn. Có thể họ muốn tìm một sự thoả mãn cá nhân, muốn chứng tỏ cái “khác người”, cái lạ thường. Nhưng cũng không bao giờ thiếu những người có ước muốn thực sự đi tìm “ý nghĩa”, hay một yếu tố vững chắc và rõ ràng cho đời sống của họ.

Người Salêdiêng và kinh nguyện

Việc mục vụ giới trẻ của chúng ta cũng được trang bị để cống hiến câu trả lời cho đòi hỏi của giới trẻ. Chúng ta đã đề nghị cho họ những hành trình cầu nguyện được cập nhật. Ngày nay đã có việc xuất bản khá phong phú những sách nguyện gẫm và cầu nguyện cho các hoàn cảnh khác nhau (các dịp lễ, các cuộc cắm trại, gặp gỡ, thể thao, các lúc vui chơi, và cả những lúc đau khổ). Cách riêng, các phong trào giáo hội mang những hình thức cầu nguyện chuyên biệt với các bản văn riêng và các tuyển tập thánh ca: tất cả cho thấy dấu hiệu của việc “nhân vị hoá”, của chất lượng kinh thánh, của sự tham dự.

Tất cả các sự kiện này chất vấn chúng ta trước tiên trong tư cách là những tu sĩ. Theo lối suy nghĩ bình dân, tu sĩ là người thực hành và nếm cảm việc cầu nguyện, người biết cầu nguyện và cầu nguyện.

Hơn thế nữa, chúng chất vấn chúng ta trong tư cách là những nhà giáo dục-rao giảng Tin Mừng. Chúng ta có nhiệm vụ khởi xướng nơi thanh thiếu niên thái độ rất Kitô giáo được gọi là lòng đạo đức. Nếu chúng ta không muốn giản lược Tin Mừng vào một lý thuyết tôn giáo, một cắt nghĩa trí thức về Thiên Chúa, chúng ta phải vun trồng vững chắc những thái độ yêu mến đối với Cha bằng những biểu hiện tương ứng.

Nhìn chung người Salêdiêng đã đón nhận một cách thuận lợi những kích thích đến từ môi trường và từ Hội Thánh: nhiều điều đã được cải thiện trong việc cầu nguyện của cộng đoàn. Và chúng ta có những gương cầu nguyện đáng cảm phục: tôi nghĩ tới những người bệnh tật, những người già cả.

Mặt khác, đối với những người đang gánh các trách nhiệm, cũng có những khó khăn trong thái độ và việc thực hành cầu nguyện đều đặn và nghiêm túc. Trong thực tế nếp sống của họ không đưa họ đến với kinh nguyện hay làm họ suy nghĩ dựa trên kinh nguyện. Có vẻ họ nghiêng hơn về các hoạt động thế tục, trường học, môi trường giới trẻ, các quan hệ xã hội, tổ chức. Tất cả điều này đặt họ đối diện với những việc đột xuất, chồng chất thêm những công tác không tạo thuận lợi cho họ đạt được sự thanh thản và đều đặn.

Nếp sống này giống với nếp sống của Don Bosco: hoạt động nhiều và liên tục của ngài hình như lôi kéo ngài ra khỏi kinh nguyện hình thức vốn rất dồi dào trong tiểu sử của tất cả các thánh: “Về kinh nguyện đúng nghĩa–người Bảo vệ đức tin trong Vụ án phong chân phước nói–điều mà mọi vị sáng lập các tu hội mới đều chăm lo một cách đặc biệt, thì có thể nói hoàn toàn không có nơi Don Bosco. Làm thế nào có thể gọi là anh hùng một con người chểnh mảng như thế về việc thực hành khẩu nguyện? Trong đời sống các thánh chưa từng thấy có một trường hợp nào giống như thế”82.

Thêm vào điều này còn có khó khăn nội tại của kinh nguyện, đó là nó không chỉ hệ tại việc tập trung chú ý, đi vào trong con người mình hay hệ tại việc nói chuyện với một người đối thoại vô hình không trả lời, mà còn hệ tại sự kiện kinh nguyện là tấm gương của đức tin sống động và của sự chú tâm mà Thiên Chúa đón nhận trong cuộc đời chúng ta. “Kinh nguyện là tổng hợp mối quan hệ của chúng ta với Thiên Chúa. Có thể nói chúng ta là cái chúng ta cầu nguyện và giống như cái chúng ta cầu nguyện. Mức độ đức tin của chúng ta là mức độ kinh nguyện của chúng ta; sức mạnh đức cậy của chúng ta là sức mạnh kinh nguyện của chúng ta; sức nóng đức mến của chúng ta là sức nóng của kinh nguyện chúng ta”83.

Từ cách thức nói năng của chúng ta lộ rõ ngay lập tức mức độ tin tưởng của chúng ta đối với một người. Với một người bạn thân chúng ta nói chuyện thoải mái về bất cứ điều gì. Với một người lạ chúng ta không tìm được từ ngữ hay cách diễn tả. Điều này cũng thế khi chúng ta đặt mình trước mặt Thiên Chúa.

Do đó với một số người thì hình như giữa những người Salêdiêng không có một sự khai tâm vào việc cầu nguyện, hình như không có ai hướng dẫn họ thực hành cầu nguyện. Vì vậy người ta nhận thấy giữa họ có một sự trốn tránh để đến với các nhóm hay các phong trào cống hiến điều đó cho họ một cách ấn tượng và tích cực hơn.

Vì vậy rất hợp lý để tự hỏi việc cầu nguyện của người Salêdiêng là thế nào, khi họ là người dấn mình vào hoạt động giáo dục và mục vụ.

Người Salêdiêng có hai mẫu gương để biết mình phải cầu nguyện như thế nào: Chúa Giêsu Mục Tử và Người Rao Giảng Nước Trời, và Don Bosco.

Kinh nguyện của Chúa Giêsu

Thánh Luca nói rất nhiều về việc cầu nguyện của Chúa Giêsu và về các lời dạy của ngài liên quan đến cầu nguyện. Nhưng trước khi trình bày cho chúng ta về thái độ cầu nguyện của Chúa Giêsu, thánh Luca đặt toàn thể tường thuật về cuộc đời Chúa Giêsu trong một bầu khí cầu khẩn, ngợi khen, tạ ơn và xin ơn. Sự giáng sinh và tuổi thơ của Chúa Giêsu được đặt khung trong bốn bài thánh ca vui mừng, cậy trông và ngợi khen: thánh ca của bà Êlidabét, của Đức Maria, của các Thiên thần và của ông già Simêon. Cái chết khơi dậy lời cầu nguyện của Chúa Giêsu: “Lạy Cha, xin tha cho họ vì họ không biết việc họ làm”84.

“Con xin phó thác thần khí con trong tay Cha”85.

Đó là một chỉ dẫn cho thấy phải nhìn và sống các biến cố cứu độ như thế nào. Những ai cầu nguyện thì thấy được tầm quan trọng của các sự kiện mà những người khác cho là bất thường hay có ý nghĩa tiêu cực.

Những lúc chính yếu của sứ mạng Chúa Giêsu được đánh dấu rõ ràng bởi kinh nguyện.

Lúc cầu nguyện khi chịu phép rửa, ngài được tôn phong công khai trước dân chúng và làm hài lòng Chúa Cha: “Sau khi Đức Giêsu cũng chịu phép rửa, và khi người đang cầu nguyện thì trời mở ra, và Thánh Thần ngự xuống trên người dưới hình thể chim bồ câu, rồi có tiếng từ trời phán ra: Con là Con Ta yêu dấu, Ta hài lòng về Con”86.

Một thời gian cầu nguyện dài tiếp theo sau những ngày nhịn đói trong hoang địa cho ngài ý thức về công cuộc và sức mạnh để kháng cự lại các cám dỗ lôi kéo ngài đi theo các hình thức khác với điều mà Chúa Cha muốn87.

Trước khi chọn các môn đệ ngài phó thác trong tay Cha việc quyết định và những người mà ngài sẽ chọn: “Trong những ngày ấy, Đức Giêsu đi ra núi cầu nguyện, và ngài đã thức suốt đêm cầu nguyện cùng Thiên Chúa. Đến sáng, ngài kêu các môn đệ lại, chọn lấy mười hai ông ...”88

Lời cầu nguyện của ngài được Cha ban cho lời tuyên xưng của Phêrô. . . và nâng đỡ đức tin của ông trong lúc gặp thử thách: “Thầy đã cầu nguyện cho con để con khỏi mất lòng tin”89.

Cuộc biến hình xảy ra tại một nơi mà ngài cầu nguyện thân mật với Cha. Và trong thái độ này của ngài, các môn đệ nhìn thấy đúng nhân tính của ngài.

Nhiều phép lạ dẫn trước hay theo sau một hành vi cầu nguyện: phép lạ hoá bánh,  chữa người mù bẩm sinh, trừ quỉ, cho Ladarô sống lại.

Lời cầu nguyện vĩ đại cuối cùng của ngài là một giao ước, một cái nhìn về hiện hữu của ngài: nó tóm tắt những lý do của đời sống và cái chết của Ngài90 : lập trường của ngài đối với thế gian, thái độ hoàn toàn sẵn sàng thực hiện kế hoạch của Cha, lòng yêu thương các môn đệ, mối quan tâm tới sự hiệp nhất và sự bền chí của tất cả những ai tham dự vào hành động cứu độ của ngài. . .

Lời cầu nguyện trong vườn cây dầu và trên thập giá là sự chấp nhận các sự kiện như đến từ ý Thiên Chúa hơn là do ác tâm của con người. Với lời cầu này, ngài phó thác sự sống ngài trong tay Chúa.

Như thế kinh nguyện của Chúa Giêsu xuất hiện như một thái độ thường xuyên, nội tâm, được diễn tả bằng những biểu hiện vui tươi tự nhiên91, tạ ơn92, cầu khẩn, sẵn sàng, suy tư. Ở đàng sau tất cả những biểu hiện này là một lời duy nhất: Cha. “Lạy Cha, con ngợi khen Cha”93. Đối với Cha, cũng có những thời gian và nơi chốn thích hợp để trò chuyện thanh thản: trên núi, trong hoang địa, ban đêm, các nơi thanh vắng, sự có mặt của một ít bạn bè.

Nhưng kinh nguyện đích thực là đời sống được thể hiện theo ý Cha và để phục vụ con người94. Vì thế lời dạy của ngài cho các môn đệ tập trung vào bốn lời khuyên mà chúng ta phải tìm ra sự duy nhất giữa chúng:

pregate sempre, hãy cầu nguyện luôn luôn, không đứt quãng95; không có nghĩa là luôn luôn cầu nguyện, mà là biến mọi giây phút của đời sống chúng ta thành một lời cầu cùng Chúa Cha.

– quando pregate “non dite molte parole”, khi các con cầu nguyện, “đừng nhiều lời”96...Nói nhiều lời là thói quen của dân ngoại. Họ tưởng các thần sẽ chỉ biết được các vấn đề và tình cảm của chúng ta nếu chúng ta nói ra cho các thần ấy97;

– tự bản chất sâu xa nơi mọi lời và mọi sự chọn lựa, luôn luôn có một lời, một tình cảm: “Cha”. Khi cầu nguyện, các con hãy nói “Lạy Cha chúng con ở trên trời ...”98 Giá trị và nền tảng của mọi lời là sự quan hệ và địa vị mà chúng ta dành cho Thiên Chúa trong cuộc đời chúng ta;

–       phải cầu nguyện “in Spiritu et veritate”, “trong Thần Khí và sự thật”99... Cường độ và sự trung thực của kinh nguyện được bộc lộ bằng một đời sống phục vụ Thiên Chúa và anh chị em.

Don Bosco và Mẹ Mazzarello đã học được thể thức cầu nguyện này nơi Đức Kitô Mục Tử. Các ngài khám phá ra đặc trưng của kinh nguyện có hoạt động tông đồ và bác ái khi hoạt động này được thể hiện theo thánh ý Chúa và trong sự hiện diện của Chúa. Điều này cũng đã từng được các nhà thần bí biết đến.

Đối với thánh Têrêxa: “Kinh nguyện là việc cư xử với Thiên Chúa trong tình bằng hữu. . .”; nó bao gồm toàn thể đời sống bất kể ta đang làm công việc gì; chúng ta có thể nói chuyện với ngài hay làm việc cho ngài; nghĩ đến ngài hay chịu đau khổ vì ngài.

Cho nên, vẫn theo thánh Têrêxa, kinh nguyện chuẩn bị cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa trong hoạt động: “Nguyện ngắm không là gì khác hơn việc thực hành tình bằng hữu bằng cách gặp gỡ thường xuyên với người ta yêu ... không phải để thụ hưởng nhưng để tích luỹ năng lượng để phục vụ.” Vì vậy hoạt động thay thế kinh nguyện một cách hữu ích trong những giờ phút nhất định: “Bỏ việc ở lại một mình với Người để hiến mình cho một trong hai chuyện này (hành động và chịu đau khổ) thì làm vui lòng Người.”

Don Bosco lúc cầu nguyện

Tuy nhiên phải nói rằng người Salêdiêng biết ít về đời sống cầu nguyện của Don Bosco. Người ta thường lặp đi lặp lại rằng “cầu nguyện là kết hợp với Thiên Chúa.” Nhưng nếu chúng ta hỏi mỗi người Salêdiêng rằng theo họ Don Bosco có là Bậc Thầy của việc cầu nguyện như ngài là Bậc Thầy của khoa sư phạm chẳng hạn, thì có lẽ câu trả lời phần lớn là không. Con đường dẫn Don Bosco tiến xa trong kinh nguyện hoạt động chắc chắn ít được biết đến và bình luận hơn là con đường đã dẫn ngài tới sự chín chắn của hệ thống dự phòng. Về hệ thống dự phòng chúng ta biết và có rất nhiều giai thoại và châm ngôn; nhưng về cầu nguyện thì chúng ta chỉ có một hình ảnh chung chung.

Các sách tiểu sử dành nhiều chỗ cho thiên tài sáng tạo của ngài và thêm vào một vài trang tượng trưng về các giờ kinh nguyện ban sáng của ngài.

Có một cuốn “cổ điển” trong văn học Salêdiêng với cố gắng quan sát chính xác hơn về đời sống thần bí của Don Bosco. Đó là cuốn Don Bosco con Dio của Don Ceria. Trong sách này chúng ta thấy ngài nhấn mạnh thường xuyên rằng người Salêdiêng có nhu cầu nguyện gẫm và khẩu nguyện: “Cầu nguyện. . . đây là điều trước hết. Không gì bắt đầu tốt đẹp nếu không bắt nguồn từ trời. Kinh nguyện đối với chúng ta giống như nước đối với cá, khí trời đối với chim, suối nước đối với nai, và nhiệt đối với thân thể”100.

Sẽ là một sai lầm khi trình bày Don Bosco luôn luôn đọc kinh, cũng như sai lầm khi nghĩ rằng ngài không có biểu hiện bề ngoài của lòng đạo đức. Tuy nhiên điều làm người ta ngưỡng mộ hơn chính là điều mà Don Ceria bình luận: “Nơi Don Bosco tinh thần cầu nguyện là cái mà nơi người lính giỏi là tinh thần chiến đấu, nơi người hoạ sĩ tài hoa là khiếu thẩm mỹ, nơi nhà khoa học là tinh thần quan sát: một đức tính thường xuyên của tâm hồn tự thể hiện một cách dễ dàng, bền bỉ và thích thú”101.

Như thế nơi ngài có một sự hoà lẫn một cách tự nhiên và thanh thản giữa hoạt động và cầu nguyện. Đời sống không chia cắt giữa hai việc này. Tình yêu được diễn tả trong cả hai: “Nét đặc trưng phân biệt của lòng đạo đức Salêdiêng hệ tại việc biết làm cho hoạt động biến thành kinh nguyện. . .  Đây là một trong những nét đặc trưng đẹp nhất của Don Bosco”102.

Đi theo hai “mẫu gương” trên đây, người Salêdiêng phải đạt tới chỗ trở thành một “con người cầu nguyện” giống như mọi tu sĩ khác. Nhưng họ phải làm điều này “trong lòng thế giới và giữa những lo toan của đời mục vụ”103, “trong một tinh thần hoạt động không mỏi mệt được thánh hoá bởi kinh nguyện và sự kết hiệp với Thiên Chúa”104.

Để diễn tả điều này, trong từ vựng Salêdiêng, chúng ta sử dụng hai thành ngữ: là người chiêm niệm trong hoạt động, cử hành phụng vụ đời sống.

Là người chiêm niệm trong hoạt động

Chiêm niệm trong hoạt động là một thành ngữ cổ điển của linh đạo thánh Inhatiô, được Don Rua áp dụng cho Don Bosco. Nói cách khác, thành ngữ này nói lên điều mà chúng ta đã chú giải trong phần suy niệm về diện mạo Don Bosco: “Sống trong thế giới này như thể nhìn thấy Đấng Vô Hình.”

Nhưng “chiêm niệm” trong hoạt động như thế nào? Đây là một vài chỉ dẫn.

Trong công việc của mình, chúng ta luôn có ý thức sống động rằng chúng ta là những dụng cụ để Thiên Chúa hành động vì lợi ích giới trẻ. Thiên Chúa sử dụng các cố gắng, các hành vi phục vụ, các lời nói của chúng ta, để làm cho giới trẻ cảm nhận được ngài trong đời sống họ và đánh thức nơi họ ước muốn trở nên “nhiều hơn”. Chúng ta không đi vào được quả tim và lương tâm của họ. Nhưng sự hiện diện của chúng ta, lời nói của chúng ta là cánh cửa qua đó Thiên Chúa tự thông truyền cho họ.

Rồi chúng ta làm quen với việc khám phá ra sự hiện diện của Thánh Thần trong đời sống của con người, đặc biệt của thanh thiếu niên. Chúng ta kết hợp mình vào công trình mà Thiên Chúa dẫn dắt, bằng cách tạ ơn, vui hưởng, cầu khẩn. Nếu các vấn đề và các niềm hi vọng của dân chúng làm tâm trí chúng ta phân tán, chúng ta có thể đưa các mối phân tâm này vào trong kinh nguyện của mình. Theo thánh Têrêxa nhỏ, các mối phân tâm giống như những đứa trẻ làm cha mẹ chia trí trong thánh lễ. Chỉ cần chắp tay chúng lại và làm chúng nhìn lên bàn thờ.

Còn một điều nữa: chúng ta hiến mình hoàn toàn để phục vụ giới trẻ bằng cách chấp nhận những đòi hỏi hằng ngày của việc phục vụ này theo gương vị Mục Tử tốt lành; bằng cách ấy chúng ta tham dự vào tình phụ tử của Thiên Chúa, qua việc hành động giống như ngài để phục vụ sự sống từ những hình thức cơ bản hơn (lương thực, nhà ở, dạy dỗ) tới những hình thức cao hơn (mặc khải của Tin Mừng, đời sống đức tin).

Cử hành phụng vụ đời sống

Một thành ngữ tổng hợp khác của kinh nguyện Salêdiêng là: cử hành phụng vụ đời sống. Trong văn kiện Laudis Canticum có nhắc đến tất cả các Kitô hữu hiến dâng đời sống mình cho Thiên Chúa và đồng loại, qua việc tháp nhập đời sống mình vào đời sống Đức Kitô linh mục. Đó là một trong những cách trình bày đẹp nhất và đúng nhất về phụng tự Kitô giáo, một việc phụng tự vượt lên trên mọi nghi thức và lễ nghi; và nó làm con người trở thành đền thờ Thiên Chúa và đời sống họ trở thành việc thờ phượng và ca ngợi Chúa.

Nó có thể được suy niệm và đào sâu bằng nhiều cách: “Thưa anh em, vì Thiên Chúa thương xót chúng ta, tôi khuyên nhủ anh em hãy hiến dâng thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa: đó là cách thức xứng hợp để anh em thờ phượng Thiên Chúa”105.

“Anh em có làm gì, nói gì, thì hãy làm hãy nói nhân danh Chúa Giêsu và nhờ Người mà cảm tạ Thiên Chúa”106.

Phụng vụ đời sống được chấp nhận như “qui luật” cầu nguyện trong Hiến Luật của hai Tu hội SDB và FMA107. Nó đặc biệt thích hợp trong các hoàn cảnh thực tế của công việc “giáo dục”.

Làm việc và cầu nguyện hoà nhập vào nhau trong bí tích toàn diện của đời sống hướng về Thiên Chúa và được thúc đẩy bởi đức mến. Sự kết hợp của kinh nguyện và của đời sống với Thiên Chúa là hai nhịp đập của cùng một quả tim. Mỗi chuyển động có những nhịp điệu và hình thức riêng. “Sự kết hợp của kinh nguyện tạm ngưng những quan hệ với các thụ tạo để trực tiếp chú tâm hoàn toàn vào ánh sáng và đời sống thâm sâu của Thiên Chúa. Sự kết hợp của hoạt động được thể hiện giữa lòng của cuộc sống, trong sự đan dệt của các mối quan hệ con người.”108

Người chiêm niệm trong hoạt động giáo dục

Trong hệ thống dự phòng chúng ta gặp sự liên tục không đứt quãng giữa hai thời điểm; thậm chí, hai thời điểm này kết hợp với nhau ở một điểm nối cao hơn: đức ái. Và đối với loại đức ái giáo dục mục tử của chúng ta, thời điểm hành động là chính yếu như nhiệm vụ và sự biểu hiện. Vì thế Don Viganò thích sử dụng thành ngữ của thánh Phanxicô Salê: “sự xuất thần của hoạt động”.

Một bản văn Salêdiêng diễn tả điều này như sau: “Đối với người Salêdiêng, giáo dục đức tin cho thanh thiếu niên là làm việc và cầu nguyện. Họ biết rằng dấn mình cho việc cứu rỗi giới trẻ làm chúng ta cảm nghiệm tình phụ tử của Thiên Chúa. (...) Don Bosco đã dạy chúng ta nhận ra sự hiện diện hoạt động của Thiên Chúa trong công việc giáo dục của chúng ta, cảm nghiệm nó như là đời sống và tình yêu. (...) Chúng ta tin rằng Thiên Chúa đang đợi chúng ta nơi giới trẻ để ban cho chúng ta ơn gặp gỡ ngài và  giúp chúng ta sẵn sàng phục vụ ngài trong giới trẻ, bằng cách nhìn nhận phẩm giá họ và giáo dục họ tới sự sung mãn của đời sống.

Như thế thời điểm giáo dục trở thành nơi ưu việt để chúng ta gặp gỡ Ngài”109 và để chiêm ngưỡng công trình của ngài trong đời sống con người.

Thái độ cầu nguyện thường xuyên

Nhưng có một tương quan giữa thái độ cầu nguyện thường xuyên và việc thực hành cầu nguyện, giữa kinh nguyện bằng lời và kinh nguyện-đời sống, giữa kinh nguyện qui định và kinh nguyện trải ra suốt ngày, giữa cử hành phụng vụ và phụng vụ đời sống.

Có lẽ trong chính sự tương quan này mà chúng ta gặp thấy những khó khăn và đồng thời sự phong phú của người Salêdiêng. Và đó cũng là điểm cơ bản của việc đào luyện thiêng liêng-tông đồ của họ.

Hai yếu tố hay khía cạnh này rất quan trọng: yếu tố này đối với yếu tố kia; cả hai cần thiết cho sự ổn định và sung mãn của đời thánh hiến. Ai bỏ đi cái này thì cũng mất cái kia.

Tương quan giữa chúng thay đổi tuỳ theo “kiểu” đời sống. Ngay từ thời kỳ đầu của hai tu hội chúng ta, đã có sự khẳng định: “Đời sống hoạt động mà tu hội hướng tới làm cho các hội viên không thể có nhiều việc thực hành đạo đức chung. Họ sẽ cố gắng bù đắp bằng gương sáng và việc chu toàn các bổn phận của người Kitô hữu tốt”110. Cần giải thích bản văn này bằng cách đặt nó vào trong “thời” của nó.

Điều nó gợi ra là, cần sự đào sâu và những thời gian tập trung đặc biệt. “Nhiều người tin rằng kinh nguyện tự nó đến và họ không muốn biết đến việc tập luyện nó, nhưng họ lầm”111.

Kinh nguyện phải phát xuất “một cách tự nhiên”, có người nói thế; nhưng tất cả những gì chúng ta làm một cách quá tự nhiên đều là kết quả của một chuỗi luyện tập dài: chơi thể thao, đi bộ, đánh đàn. Việc thực hành cá nhân thường xuyên và tham dự chăm chỉ việc thực hành của cộng đoàn là những điều không thể thiếu.

Cần có việc khai tâm thanh thản và tiệm tiến vào các hình thức cầu nguyện khác nhau: khẩu nguyện, tâm nguyện, đọc sách, thinh lặng, chiêm niệm, dựa theo các công thức, sáng tạo. Cần thực hành chúng vào các hoàn cảnh và thời điểm khác nhau, để làm cho đời sống chúng ta thấm nhuần kinh nguyện bằng những đường lối khác nhau và những hình thức khác nhau.

Việc thực hành tạo thành thói quen: sự đều đặn có tính quyết định; tất cả những việc quan trọng trong đời sống chúng ta đều có một thời biểu, một giờ giấc riêng; nếu một ngày chúng ta không thể làm các việc ấy vào giờ vẫn quen làm, chúng ta lập tức định nó vào một giờ khác. Việc ăn uống, ngủ nghỉ, tắm rửa cũng thế.

Nguyện ngắm chung là cần thiết đối với chúng ta: địa điểm, thời gian, hình thức, cộng đoàn. Tôi nói “đối với chúng ta”, vì phong cách cộng đoàn bao trùm mọi chiều kích của đời sống chúng ta. Với các tu sĩ khác có thể khác. Tuy nhiên cũng cần việc thực hành nguyện ngắm cá nhân. Kết quả và cách áp dụng có thể khác nhau nơi mỗi người. Mỗi người có cách cầu nguyện riêng, cũng như họ có cách nói chuyện riêng, đi đứng và nhìn riêng. Đây là chìa khoá để giải thích tính cảm xúc mạnh hay yếu, các sự chia trí, các sở thích riêng về suy tư hay theo công thức, các thời kỳ mệt mỏi.

Nhưng cầu nguyện là một hồng ân. Đức Kitô là người cầu nguyện duy nhất. Ngài tháp nhập chúng ta vào kinh nguyện của ngài trong Thần Khí. Chúng ta không biết nói gì hay nói thế nào. Thần Khí đặt trên môi miệng chúng ta điều gì chúng ta cần phải xin. “Thần Khí đến giúp đỡ sự yếu hèn của chúng ta, vì chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải; nhưng chính Thần Khí cầu thay nguyện giúp cho chúng ta, bằng những tiếng rên siết khôn tả. Và Thiên Chúa, Đ ấng thấu suốt tâm can, biết Thần Khí muốn nói gì, vì Thần Khí cầu thay nguyện giúp cho các thánh theo đúng ý Thiên Chúa”112.

Đời sống chúng ta cần kết hợp suy tư và thực hành, học tập và hoạt động, thinh lặng và gặp gỡ, tuy rằng đối với chúng ta điều này không bị trói chặt vào một giờ giấc khắt khe nào. Và sự thật là thế trong hoàn cảnh đời sống hiện tại của chúng ta, khi chúng ta sống giữa sự đa dạng, căng thẳng, và thúc bách của biết bao bổn phận.

2. Lao động

Ý nghĩa của lao động trong đời sống chúng ta, chúng ta dễ nhận ra qua một loạt các sự kiện có tầm quan trọng thực tế và biểu tượng: thân thế nông dân và các kinh nghiệm đầu đời của Don Bosco, các nhân vật chính và sắc thái các kinh nghiệm thời kỳ đầu của Tu Hội, việc tuyên khấn khó nghèo, giai cấp lao động mà chúng ta ưu tiên hiến mình phục vụ. Lao động là nội dung chính yếu của các chương trình giáo dục của chúng ta trong các trường dạy nghề và kỹ thuật, là đặc điểm của một thành phần hội viên, các sư huynh; là hình thức hội nhập của chúng ta vào xã hội và văn hoá. Nó tạo nét gần như cơ bản của người Salêdiêng: người Salêdiêng là một người lao động. Don Cagliero từng phát biểu một câu rất mạnh: “Ai không lao động, không phải người Salêdiêng.”

Hai sự kiện sau đây được dùng như một tổng hợp: việc nhắc đến lao động trong huy hiệu mà chỉ được dùng “hai” từ mà thôi, và những lời trối cuối cùng của Don Bosco: “Cha khuyên các con: lao động, lao động, lao động.”

Tuy nhiên cần làm sáng tỏ thêm đôi điều. Đối với Don Bosco, lao động không đơn thuần là dành thời giờ vào một hoạt động nào đó, thậm chí có thể mệt nhọc. Mà là hiến mình cho sứ mạng với tất cả khả năng và trọn thời giờ. Lao động theo nghĩa này không chỉ là lao động tay chân, mà cũng là lao động trí óc và tông đồ. Lao động khi viết sách, giải tội, giảng dạy, học hành, sắp đặt nhà cửa. Lao động là đặc trưng của đức vâng phục, của đức ái mục tử, của ý ngay lành và của tinh thần cộng đoàn. Vì vậy không phải là sự hiếu động, hoạt động vì không thể ngồi yên, mà phải có mục đích, chọn lựa, và sắp đặt các hành động. Cũng cần nói thêm là trong từ “lao động” có sự nhấn mạnh đặc biệt về lao động chân tay và thực dụng. Người Salêdiêng học biết lao động tay chân và thấy vui cả khi làm các công việc “thấp hèn”: dọn dẹp nhà cửa, lo vật chất. Nhưng chắc chắn “lao động” lớn là hiến mình cho việc giáo dục “Kitô giáo” cho thanh thiếu niên.

Đức ái mục tử là cái hướng dẫn lao động, có thể được biểu hiện nơi những hoạt động tự phát và quảng đại. Nhưng điều thông thường hơn là nó phải làm chúng ta dấn mình lâu dài vào một công việc kiên trì và hằng ngày để thăng tiến con người và sinh động hoá cộng thể.

Hơn là một thái độ tốt bụng hay một cử chỉ thiện cảm, nó là một việc thực hành: một hình thức tác động thường xuyên vào một môi trường một cách đầy khả năng, giống như việc thực hành chính trị, xã hội, y khoa. Tất cả đòi hỏi một hành động nhất quán, có suy tư và có mục tiêu. Điều này đòi hỏi chúng ta một số thái độ và khả năng thường xuyên. Và đây là thứ lao động giúp hình thành diện mạo thiêng liêng của con người chúng ta.

Niềm say mê lao động, trước hết, là ở “tấm lòng” mục vụ: sự ham thích, nhiệt tình, ước muốn lao động, tìm thấy hứng thú trong các công tác mục vụ, sẵn sàng lao động, sự hiến mình vui vẻ, coi mọi sự mệt nhọc là đáng giá, cảm thấy được lôi kéo đến với những người có nhu cầu hơn, dễ khắc phục những thất bại nho nhỏ, không bỏ cuộc, chấp nhận các rủi ro và các khó khăn như là chuyện nhỏ. Ngược lại là sự dửng dưng, lười biếng mục vụ, đến với các công tác mục vụ như một gánh nặng hay một bó buộc phải trút bỏ càng nhanh càng tốt.

Nhưng vượt lên trên “tấm lòng”, lao động được đức ái hướng dẫn thì đòi hỏi và phát triển óc mục vụ. Óc mục vụ giống như óc nghệ thuật hay óc thương mại. Nó giống như một sự đánh hơi, một cách đánh giá nhanh nhạy trước một tình huống. Khi đi thăm các trường học hay nguyện xá của chúng ta, người ta nhận ra ngay cộng đoàn đó có “óc” mục vụ hay không nhờ đường hướng của các hoạt động và sắc thái của các mối quan hệ. Trong một số nơi, người ta nhận thấy trước hết là óc kinh tế, nơi khác là óc tổ chức hay óc kỷ luật.

Óc mục vụ hệ tại việc dừng lại để đánh giá sự vật dựa trên quan điểm sự cứu rỗi con người; định hướng đúng khi đọc các biến cố, có các tiêu chuẩn, chìa khoá hay điểm đối chiếu hợp lý để suy tư và quyết định một hành động sao cho nó có thể giúp con người trưởng thành về nhân bản và làm họ ý thức được sự hiện diện của Thiên Chúa trong đời họ.

Lao động giúp chúng ta đạt được và phát triển khả năng mục vụ: nó là một sự chuẩn bị nghiệp vụ chuyên môn mà đức ái đòi hỏi, vì nó mà chúng ta đã học tập và hoàn thiện mình trong việc khơi dậy động lực, dạy dỗ, thánh hoá, sinh động hoá. Chúng ta luyện tập để có khả năng nhận thức một bối cảnh, triển khai một kế hoạch đáp ứng các nhu cầu cấp bách của nó và thể hiện kế hoạch ấy, đồng thời lưu ý đến yếu tố vô hình và không thể đo lường được vốn luôn có trong hoạt động mục vụ.

Cuối cùng, lao động bao gồm óc sáng tạo mục vụ: đó là thái độ tinh thần và thực tế giúp tìm ra những giải pháp độc đáo cho các vấn đề và các tình huống mới. Don Bosco đã cưu mang một kế hoạch cho các thiếu niên đường phố đang khi các giáo xứ tiếp tục với việc dạy giáo lý “chính qui”. Lập tức ngay sau đó, khi nhận thấy các thiếu niên không được chuẩn bị cũng như không được bảo đảm trong lao động, ngài đã nghĩ ra một giải pháp “nhỏ” thuộc loại “cây nhà lá vườn” và nó đã phát triển: các hợp đồng lao động, các xưởng thợ, các trường dạy nghề. Cũng thế với các nhu cầu khác, như nhà ở, việc dạy dỗ.

Don Ceria nêu điểm này như nét đặc trưng của tinh thần Salêdiêng: “Đặc điểm đầu tiên, cái đập vào mắt mọi người là một hoạt động lạ thường của cá nhân cũng như tập thể”113.

Đặc điểm này được ghi nhận trong Hiến Luật : “Đức ái mục tử đầy sức năng động trẻ trung đã biểu hiện thật mãnh liệt nơi Đấng Sáng Lập và trong thời kỳ đầu của Tu Hội chúng ta ...”114

Lao động có nghĩa là sử dụng thời giờ và các nguồn lực một cách tốt hơn, chú ý tới sự phát triển của chúng ta trong mọi tiềm năng của nó, khôn ngoan trong các chọn lựa, hoàn toàn tận tụy.

3. Tiết độ

Linh đạo cũng bao gồm chiều kích tu đức, sự kháng cự hay chiến đấu thiêng liêng, mà Tông huấn diễn tả qua biểu tượng Giacóp chiến đấu với Thiên thần. “Việc tập luyện tu đức giúp chúng ta làm chủ và sửa chữa các khuynh hướng của bản tính tự nhiên con người vốn bị tội lỗi làm thương tổn, nó thực sự cần thiết cho con người thánh hiến để sống trung thành với ơn gọi và theo Đức Kitô trên con đường thập giá”115.

Nó gắn liền với chiều kích sám hối là chiều kích cơ bản của sự trưởng thành Kitô giáo. Thiếu điều này thì không thể nào bắt đầu hay tiến xa trên hành trình hoán cải: nó hệ tại việc chấp nhận một số điều và bỏ đi nhiều điều khác, chọn lựa và cắt tỉa, phá đi những điều cũ hay thói quen cũ hay vô ích và để mình được tái tạo lại. Các câu truyện về Abraham và các tông đồ nói với chúng ta theo nghĩa này.

Đây là một khía cạnh không dễ chấp nhận đối với cảm xúc thông thường có khuynh hướng tìm sự thoả mãn các ước muốn và biện minh cho nó. Mỗi dòng tu có một truyền thống tu đức riêng phù hợp với phong cách thiêng liêng của mình. Trong dòng chúng ta, công thức tóm tắt khoa tu đức là “coetera tolle”: mọi thứ khác cứ lấy đi, nó qui tất cả các thứ khác vào điều này, đó là vào “da mihi animas”, vào khả năng sống nội tâm và diễn tả tình yêu đối với thanh thiếu niên, bằng cách lôi kéo chúng ra khỏi những hoàn cảnh ngăn trở đời sống của chúng. Đó là hai khía cạnh tương quan với nhau.

Khía cạnh quan trọng của tu đức này là tạo sự thống nhất cho con người, bằng cách kết hợp trong kế hoạch đời sống trong Thiên Chúa một số khuynh hướng mà, nếu phát triển một cách độc lập, sẽ làm thiệt hại đến chất lượng của kinh nghiệm thiêng liêng và mục tiêu của sứ mạng: một thái độ chỉ lo theo đuổi tính hiệu quả và tính chuyên môn tách rời khỏi mục tiêu mục vụ, sự thế tục hoá lối suy nghĩ và lối sống, các hình thức ngụy trang của sự khẳng định quá đáng tính đặc thù văn hoá.116

Câu “các cái khác cứ lấy đi”, bỏ đi hay sắp đặt trật tự các cái khác, được biểu hiện trong đời sống hằng ngày bằng sự tiết độ “Salêdiêng”. Tôi nói “Salêdiêng” bởi vì nó được nhắc đến rất dồi dào trong lịch sử chúng ta và trong các văn kiện của chúng ta.

Tiết độ là nhân đức trụ điều hoà các bản năng, lời nói, và hành động theo lý trí và các đòi hỏi của đời sống Kitô giáo. Xoay quanh nó là sự tiết dục, khiêm nhường, điều độ, giản dị, khắc khổ. Trong hệ thống dự phòng các thực tại này đuợc bao gồm trong phần lý trí. Các biểu hiện của nó trong đời sống hằng ngày là: quân bình, nghĩa là chừng mực trong mọi sự, một kỷ luật thích hợp, khả năng cộng tác, sự thanh thản bên trong và bên ngoài, một mối quan hệ vui tươi và uy tín với mọi người, đặc biệt với thanh thiếu niên.

Tiết độ trên hết là “tình trạng vận động viên thể thao” thường xuyên đối với bất cứ yêu cầu nào có ích cho giới trẻ; giữ mình tự do khỏi những sự trói buộc chi phối, khỏi áp lực của những sở thích hay đòi hỏi cá nhân tạo nên sự lệ thuộc: “Phàm là tay đua thì phải kiêng kỵ đủ điều, song họ làm như vậy là để đoạt phần thưởng chóng hư; trái lại chúng ta nhằm phần thuởng không bao giờ hư nát. Vậy tôi đây cũng chạy như thế, chứ không chạy mà không xác tín; tôi đấm như thế, chứ không phải đánh vào không khí. Tôi bắt thân thể phải chịu cực và phục tùng, kẻo sau khi rao giảng cho người khác, chính tôi lại bị loại”117.

Tiết độ được áp dụng trong lao động: nó là trật tự nhờ đó các hành động có một động lực trong các mục đích và một sự ưu tiên; nó giúp kiểm soát và dung hoà các tham vọng cá nhân và các tham vọng “tông đồ”, nó đòi hỏi nơi người khác điều chừng mực chứ không quá đáng hay chỉ để tạo tiện nghi cho chúng ta; nó giúp cho lao động không loại bỏ việc cầu nguyện hay các quan hệ huynh đệ. Phải điều độ trong cử động, trong việc đi ra khỏi nhà, trong việc tìm kiếm tiền bạc, trong ước muốn làm xong một việc để bắt đầu một việc khác; trong việc làm chủ hành động của mình, dù chỉ để không bị hoạt động lôi kéo như vào trong một bánh xe ...

Tiết độ được áp dụng vào đời sống huynh đệ: thậm chí không có nó thì không thể có một quan hệ cộng đoàn tốt được118. Tình yêu huynh đệ bao hàm sự tự chủ, cố gắng chú ý đến nguời khác, kiểm soát các tình cảm tự nhiên, khắc phục các xung đột, cảm thông các đau khổ của người khác. Tất cả là một việc tập luyện để ra khỏi chính mình và thay đổi khuynh huớng riêng của mình. Đối với chúng ta còn có bổn phận minh chứng nó một cách dễ hiểu: một tình cảm có khả năng khơi dậy sự tương ứng vì lợi ích của người khác.

Tiết độ được áp dụng vào phong cách sống cá nhân: điều hoà các mối quan hệ theo sứ mạng; sử dụng các đồ dùng (máy móc, dụng cụ); thời giờ thư giãn và nghỉ ngơi; tỉnh thức và thanh tẩy nội tâm.

Tiết độ cũng được áp dụng trong việc cầu nguyện và chiêm niệm: nó là đức tin không đòi phải thấy và cảm được; và khi “cảm” thì không liên quan đến cảm giác. Các tác giả nói đến ước muốn không kiềm chế của sự “an ủi”.

Tất cả những điều này có thể tỏ ra quá bình thường xét như là một chiều kích tu đức, và gần như là vui vẻ trước sự nghiêm khắc của lời kêu gọi hoán cải và thái độ triệt để. Don Bosco diễn tả dáng vẻ mâu thuẫn này bằng giấc mơ giàn hoa hồng. Người Salêdiêng bước đi trên những cánh hoa. Mọi người nghĩ rằng họ “vui lắm”. Mà quả thực họ “hạnh phúc”. Bị gai đâm không làm họ mất niềm vui. Cả điều này cũng là một tu đức: sự đơn sơ, nét mặt tốt lành, không “đóng kịch”. Nó đáp lại lời khuyên phúc âm: khi anh em ăn chay, đừng làm bộ rầu rĩ, nhưng hãy xức dầu thơm trên đầu và rửa mặt cho sạch119.


Chú thích

81xem VC 38

82P. Brocardo, Don Bosco profondemente unomo – profondemente santo, LAS, Roma 1985, trg 97

83xem C. Carretto, Lettere dal deserto, La Scuola Editrice, Brescia 1964, trg 47

84Lc 23,33

85Lc 23,46

86Lc 3,21-22

87xem Lc 4

88Lc 6,12-13

89Lc 22,32

90xem Ga 17

91Mt 11,25-26

92Ga 11,41-42

93Mt 11,25

94xem Mt 7,21

95xem Lc 21,36

96Mt 6,7

97xem Mt 6,7

98Mt 6,9

99Ga 4,23

100P. Brocardo, Don Bosco profondemente uomo – profondemente santo, LAS, Roma 1985, trg 99

101Như trên, trg 99

102Như trên, trg 105

103HL SDB 95

104HL SDB 95

105Rm 12,1

106Cl 3,17

107xem HL SDB 95; HL FMA 48

108P. Brocardo, “Don Bosco profeta di santità per la nuova cultura”, trong M. Midali (chủ biên), Spiritualita2 dell’azione, LAS, Roma 1977, trg 197

109TTN 23; HL SDB 95

110HL SDB 1858

111R. Guardini, Lettere su autoformazione, trg 91

112Rm 8,26-27

113Annali, c. CXVII, trg 722

114HL SDB 10 và 19

115VC 38

116xem VC 38

1171 Cr 9,25-27

118HL SDB 90

119Mt 6,16-17


FMA Logo

Địa chỉ: 57 Đường số 4, Khu phố 56, P. Tam Bình, TP. Hồ Chí Minh

Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về email: libraryfmavtn@gmail.com

Liên Kết

Truyền Thông FMA

Copyright Dòng Con Đức Mẹ Phù Hộ © 2026