VII. LINH ĐẠO SALÊDIÊNG TRONG THỰC HÀNH MỤC VỤ: HỆ THỐNG GIÁO DỤC DỰ PHÒNG
1. ĐỨC ÁI MỤC TỬ VÀ ĐỨC ÁI SƯ PHẠM
1.1. Một hình thức độc đáo của đức ái mục tử
Đức ái mục tử bao gồm mọi việc phục vụ của Hội Thánh cho con người: loan báo Tin Mừng, thăng tiến con người, sinh động hoá cộng đoàn, thực hiện các công cuộc từ thiện cho thân xác và linh hồn.
Công Đồng đã nêu đức ái mục tử làm con đường nên thánh cho những ai có ý hướng dấn mình sâu xa vào sứ mạng của Hội Thánh: các giám mục, linh mục, các tu sĩ hoạt động, các giáo dân dấn thân.
Đức ái mục tử Salêdiêng có một sắc thái khác chính xác hơn, không giới hạn nó nhưng định nghĩa nó hay hơn: là một đức ái sư phạm. Nó là một tình yêu biết tạo ra một quan hệ giáo dục: nó được diễn tả theo mức độ của thiếu niên và là thiếu niên nghèo cần được giúp đỡ để mở lòng ra, khám phá sự phong phú của đời sống, tăng trưởng.
Đối với thiếu niên nghèo này, nhiều khi thiếu can đảm, ít giáo dục, ít ngôn ngữ và tư tưởng, đức ái của người Salêdiêng phải trở thành dấu chỉ có thể đọc được về tình yêu Thiên Chúa. Vì vậy nó là một đức ái có thể đạt tới những con người hèn kém nhất, thấp nhất, những con người có nhiều khó khăn nhất.
Một số hội viên làm việc tại các vùng nghèo khổ thuật lại cho tôi rằng một trong những khó khăn lớn mà các trẻ em của các môi trường này gặp lúc ban đầu là việc phát biểu trước những người lớn xa lạ, trước các tổ chức và những người đại diện các tổ chức ấy, kể cả Giáo hội. Đối với các em, các tổ chức là hình ảnh của thế giới có tổ chức mà các em bị gạt ra ngoài. Tình yêu của người Salêdiêng, nếu muốn trở thành dụng cụ cứu rỗi cho những em nghèo khổ nhất, phải có khả năng làm các động tác giúp các em thực hiện việc phát triển bản thân các em với sự vui vẻ và hi vọng, mở lòng đón nhận sự tin tưởng và đối thoại, kể cả trong bối cảnh của một đời sống nghèo túng và lệ thuộc.
Điều này gợi lại cử chỉ bác ái của Don Bosco đối với Bartolomeo Garelli, chủ yếu hệ tại giúp nó thấy thoải mái để nó có thể “cười”. Do đó, cùng với nhiệt tình thiêng liêng, đức ái này kết hợp sự khôn ngoan, tài khéo sư phạm và óc thực tế, sự lạc quan giáo dục và lòng kiên nhẫn của người phải nâng đỡ và vun trồng những mầm sự sống. Tất cả điều này diễn tả điều đã được Don Caviglia khẳng định và được Đức Gioan Phaolô II lấy lại trong Juvenum Patris: “Sự thánh thiện của Don Bosco mang hình dáng của sự thánh thiện giáo dục.”120
Anh chị em đã có dịp nào được thấy nhiệt tình ngôn sứ của một số nhà giảng thuyết, phần đa không phải công giáo, mà trên bục giảng họ trở thành những người diễn giải lệnh truyền hối cải của Thiên Chúa và loan báo ngày tận thế chưa? Không ai có thể phủ nhận rằng họ có tình yêu và nhiệt tình tôn giáo. Nhưng dù sao chúng ta không thể nói được rằng đó là “phong cách” của đức ái “sư phạm” biết lắng nghe, thông cảm, giúp đỡ và đồng hành với con người.
Đức ái sư phạm chứng tỏ nhiệt tình, nhưng cũng chứng tỏ sự tế nhị, óc phán đoán, sự chừng mực và tình cảm. Nói tóm, nó là sự khôn ngoan phụ tử dạy người ta biết đối diện với cuộc đời. Gia sản của sự suy tư và kinh nghiệm về hình thức đức ái này được diễn tả trong các Hiến Luật121 với các lời sau đây: “Được Đức Maria, vị thầy của mình hướng dẫn, Don Bosco đã sống một kinh nghiệm giáo dục và thiêng liêng mà ngài gọi là “Hệ thống Dự phòng”. Đối với ngài, đó là lòng yêu thương tự hiến cách nhưng không, kín múc từ lòng mến của Thiên Chúa, Đấng tiên liệu mọi sự cho mọi tạo vật bằng sự Quan phòng, hằng hiện diện bên cạnh chúng, và trao ban sự sống mình để cứu vớt chúng.
Don Bosco đã chuyển giao cho chúng ta hệ thống giáo dục này như một lối sống và làm việc để thông truyền Tin Mừng và cứu rỗi các thanh thiếu niên cùng với chúng và nhờ chúng. Hệ thống này thấm nhập vào mối tương quan của chúng ta với Thiên Chúa, vào những giao tiếp cá nhân và đời sống cộng thể, trong việc thực thi một tình yêu khả dĩ gợi được sự đáp trả.”
Trong khoản Hiến Luật này có một tập hợp các nhấn mạnh mà chúng ta không thể không chú ý đến.
– Hệ thống Dự phòng được gọi là “kinh nghiệm thiêng liêng”, chứ không chỉ là khoa sư phạm.
– “Được kín múc từ lòng mến của Thiên Chúa”: vì thế nó không chỉ là kết quả của những nghiên cứu giáo dục cả về những gì liên quan đến các nền tảng của nó lẫn những gì liên quan đến việc thực hành.
– Kinh nghiệm phát sinh và phát triển “trong việc gặp gỡ với thanh thiếu niên” và “trong nguyện xá”. Đây là mảnh đất mà chúng ta tìm thấy các chất dinh duỡng cho cây trồng này. Kinh nghiệm không phát sinh và phát triển trong các tu viện, trong các thư viện, trong phòng riêng. . . , tuy rằng những thứ này cũng ích lợi đối với người Salêdiêng.
– “Nó thấm nhập vào các mối tương quan của ta với Thiên Chúa”. Người Salêdiêng là một “loại nguyện xá” cả trước Thiên Chúa và trong các vấn đề thiêng liêng, trực tiếp và rộng mở, đơn sơ và tự nhiên, tin tưởng và phấn khởi.
Vì vậy cần suy tư về các thái độ mà đức ái mục tử này đòi hỏi và tạo ra, và về việc thực hành mà nó đòi hỏi.
1.2. Các thái độ của Đức ái Sư phạm
Lòng ưu ái đối với thanh thiếu niên
Thái độ đầu tiên là lòng ưu ái đối với thanh thiếu niên. Mỗi người Salêdiêng, nơi họ có đức ái hoạt động, phải có thể lặp lại với Don Bosco: “Ở giữa các con cha thấy hạnh phúc. Đời sống cha chính là để ở giữa các con.”
Hậu quả cụ thể của lòng ưu ái nơi Don Bosco đối với thanh thiếu niên là chọn giới trẻ làm lãnh vực hoạt động riêng của mình. Với Don Bosco trong tư cách linh mục, người ta từng đề nghị những lãnh vực hoạt động khác có những lợi thế kinh tế rõ rệt, có uy tín và phù hợp với khả năng của ngài. Việc ngài chọn sống với thanh thiếu niên đường phố và trẻ em học nghề và từ chối chức vụ cha phó xứ, làm gia sư cho một gia đình khá giả, làm tuyên uý cho một trường học hay giáo sư luân lý, đã đánh dấu tất cả hành trình sau này của ngài.
Với Mẹ Mazzarello cũng thế. Công việc tông đồ giữa các thiếu nữ trong làng tạo ra nơi mẹ sự đồng cảm dẫn mẹ tới một cuộc gặp gỡ “nồng nàn thiêng liêng” với Don Bosco, từ đó phát sinh lối biểu hiện nữ của linh đạo Salêdiêng.
Nhưng từ sự chọn lựa quyết định này phát sinh hai hệ quả: hiến mình cho thanh thiếu niên trọn thời giờ của mình và đảm nhận các vấn đề của họ: sự nghèo khổ, lao động, sự thiếu giáo dục, những khó khăn của sự tăng trưởng, thiếu một mái ấm gia đình.
Chúng ta cũng phải có thể khẳng định rằng chúng ta ở giữa giới trẻ không phải “vì thời biểu bó buộc”, “vì nghề nghiệp” hay để kiếm tiền; rằng chúng ta không đợi lúc về hưu để có thể hiến mình cho một công việc khác thích hơn, mà chúng ta coi là nghiêm túc hơn và sâu xa hơn, và trong đó chúng ta đặt sự quan tâm mục vụ chính của mình vào, lúc thư giãn của mình, hay điểm cao hơn của đời sống thiêng liêng của mình.
Chúng ta không tiêu hao sức lực thiêng liêng giữa thanh thiếu niên để sau đó nạp lại năng lượng thiêng liêng vào những lúc khác. Sống với họ chúng ta thấy tốt đẹp. . . đó là lúc thiêng liêng của chúng ta!
Bằng một lối diễn tả hiện đại, TTN23 diễn tả điều này về các người Salêdiêng: “Chúng ta tin Thiên Chúa yêu thương thanh thiếu niên.” Đây là niềm tin ở gốc rễ ơn gọi của chúng ta, nó là động lực thúc đẩy đời sống và mọi hoạt động mục vụ của chúng ta.
Chúng ta tin Chúa Giêsu muốn chia sẻ “sự sống mình” cho thanh thiếu niên: họ là niềm hi vọng của một tương lai mới, và ẩn dưới các mong đợi của họ, họ mang nơi họ các hạt giống Nước Trời.
Chúng ta tin Chúa Thánh Thần hiện diện nơi thanh thiếu niên và nhờ họ ngài muốn kiến tạo cộng đồng nhân loại và Kitô giáo trung thực hơn. Ngài đã đang hoạt động, nơi từng cá nhân và nơi các nhóm. Ngài đã trao phó cho họ một nhiệm vụ ngôn sứ phải thể hiện trong thế giới cũng là chính thế giới của mọi người chúng ta.
Chúng ta tin Thiên Chúa đang chờ đợi chúng ta nơi thanh thiếu niên để ban tặng chúng ta ơn gặp gỡ ngài và giúp chúng ta sẵn sàng phục vụ ngài trong chúng, bằng cách nhìn nhận phẩm giá chúng và giáo dục chúng tới sự sung mãn của đời sống.
Như thế, thời điểm giáo dục trở thành nơi ưu việt để chúng ta gặp gỡ Ngài122.
Ở giai đoạn đầu đời Salêdiêng và khi bản thân chúng ta còn ở tuổi thanh niên, sống với và giữa trẻ em là một điều tự nhiên và thú vị, nhất là nếu chúng ta có khả năng đồng cảm và được chấp nhận với sự thiện cảm. Các thanh thiếu niên có sức hấp dẫn vì sự sinh động của chúng, khả năng sáng tạo, lòng muốn sống và chia sẻ.
Nhưng khi ước muốn tự nhiên cạn dần, quyết định “sống với trẻ em” đòi hỏi sự dấn thân và cố gắng tu đức. Tới một lúc nào đó chúng ta bắt đầu cảm thấy quả là một hi sinh để ở giữa thanh thiếu niên về mặt thể chất; và nhất là về mặt tâm lý và văn hoá, yêu thích thế giới của họ hơn mọi môi trường khác thân thiết và nghiêm túc hơn.
Ngày nay điều này càng trở nên khó hơn. Thanh thiếu niên trong thời kỳ giáo dục có tuổi cao hơn, nhiều tự do hơn, các thái độ của chúng đa dạng và thay đổi nhiều hơn, chúng nói chuyện cởi mở hơn về mọi vấn đề. Điều này tạo ra một sự “trốn tránh”, một sự “rời bỏ” từ từ lãnh vực giới trẻ của không ít người Salêdiêng, dưới ấn tượng không thành công trong việc thông truyền bằng ngôn ngữ, với các khát vọng hay nếp sống của các thế hệ mới. Công việc trong cộng đoàn giúp chúng ta kết hợp những đóng góp của mọi người: của những người đặc biệt có năng khiếu tiếp xúc với giới trẻ và của những người chỉ có thể góp phần nhỏ bé và giới hạn.
Đây là cái may và đặc điểm của Tu Hội. Một nét đặc trưng của linh đạo cá nhân và cộng đoàn là tất cả những gì Tu Hội làm đều làm với và bởi giới trẻ. Từ nguyện xá và các thanh thiếu niên đã phát sinh, ít là theo thứ tự thời gian, các thực tại khác mà ngày nay hợp thành cây cổ thụ của phong trào Salêdiêng. Từ chúng đã phát sinh Tu Hội và mọi điều khác. . . không có chúng thì không có gì cả!
Trong các cuộc cử hành vào tháng giêng 1988 có sự hiện diện ở Torino của 56 giám mục Salêdiêng. Nhìn thấy họ chúng ta cảm thấy hài lòng vì sự đóng góp quí báu này của Tu Hội cho Hội Thánh, vì sự tin tưởng mà Hội Thánh tỏ ra đối với Tu Hội, vì trách nhiệm và tình yêu của những anh em hội viên này đối với cộng đoàn Salêdiêng. Nhưng giữa chúng ta có một số người bình luận: các giám mục Salêdiêng là một thành phẩm tuyệt vời của hoạt động mục vụ được bắt đầu và không ngừng phát sinh trong môi trường nguyện xá và giới trẻ. Nếu người Salêdiêng chúng ta không có giới trẻ thì cũng không thể có các giám mục.
Nơi mà Tu Hội phát sinh, nơi sản xuất các cách diễn tả thiêng liêng mới và phát sinh các thành viên của mình, được Thánh Thần gợi hứng; nơi đổi mới nhiệt tình và diễn tả tính sáng tạo đoàn sủng là khung cảnh giới trẻ. Nơi khung cảnh này có sự khai sinh của chúng ta và tiếp tục là lục địa của sứ mạng chúng ta và là đất hứa của chúng ta. Linh đạo của chúng ta sẽ không thể tìm thấy những biểu hiện mới nếu người Salêdiêng rời xa giới trẻ.
Khoản Hiến Luật 20 diễn tả: “Trong cuộc đời tiếp xúc với các thanh thiếu niên của nguyện xá đầu tiên, Don Bosco đã triển khai một kinh nghiệm thiêng liêng” vẫn còn giá trị cho tới hôm nay. Đức ái mục tử, trong hình thức mà người Salêdiêng sống nó, tạo ra thái độ cơ bản này: lòng ưu ái đối với giới trẻ, nó có nghĩa là “ở trong”, “đặt mình vào”, “trở về với” nơi đặc trưng của kinh nghiệm chúng ta về Thiên Chúa.
Tin tưởng thanh thiếu niên
Nhưng có một thái độ thứ hai: đó là tin tưởng thanh thiếu niên. Đức ái Salêdiêng muốn bắt đầu không phải từ những người thứ nhất, mà từ những người cuối cùng; không phải từ những người giàu có vật chất và thiêng liêng, những người đã được sự chú ý và phục vụ; mà từ những người không biết mình thuộc giáo xứ nào hay phải đi học trường nào. Nơi các thanh thiếu niên này chúng ta phải khơi dậy niềm hi vọng và đánh thức các nguồn lực của họ.
Vì vậy, do niềm tin của mình rằng Thiên Chúa muốn mọi người được cứu độ, người Salêdiêng cần phải tin điều Don Bosco đã nói: “Nơi mỗi thanh thiếu niên, cả nơi những em bất hạnh nhất, có một điểm phản ứng rất quảng đại nếu được nhà giáo dục khám phá và kích thích một cách thích hợp”123, và tương ứng với năng lượng mà em cần có để tự biến đổi mình.
Đức tin vào Thiên Chúa Cha và biến cố Đức Kitô Cứu Thế dạy chúng ta rằng không ai bị hư mất vĩnh viễn. Mỗi thanh thiếu niên mang nơi tâm khảm mình dấu hiệu của kế hoạch cứu độ, trong đó có một lời hứa về sự sống viên mãn và hạnh phúc cho mọi người.
Ba mẫu tiểu sử mà Don Bosco viết cho thấy làm thế nào có thể đưa lên một mức độ cao hơn trong đời sống Kitô giáo những em có thiên khiếu đặc biệt (Đaminh Savio), phục hồi những em từng có một quá khứ không mấy thuận lợi (Micae Magone); đồng hành cho tới khi đạt một sự phát triển thoả mãn đối với những em có nguồn lực bình thường (Phanxicô Besucco).
Sự thoả mãn thiêng liêng của người Salêdiêng không chỉ là cống hiến một phương thế cho ai có khả năng bay cao, mà là “cứu vớt”, đón nhận từ mức độ thấp hơn để đưa lên cao, giúp để có tiến bộ. Đây cũng là sự tham dự của người Salêdiêng vào công trình của Thiên Chúa, một sự tham dự đòi hỏi đức tin và đức cậy. Việc thực hành thường xuyên các nhân đức đối thần này, do đó, tạo thành khoa tu đức Salêdiêng: khả năng gieo hạt giống một cách không biết mỏi mệt và không keo kiệt, luôn luôn cống hiến cơ hội mới, kể cả khi kết quả có vẻ không cân xứng, nhìn đời sống trong tất cả giá trị tiềm năng của nó như một mầu nhiệm không thể lường trước, luôn luôn chờ đợi tác động của ân sủng.
Nhà giáo dục giỏi là người có khả năng luôn luôn cống hiến và tạo ra một cơ hội mới. Là người không bao giờ nói: Đủ rồi!
Vì vậy chúng ta nói ba nguồn lực nội tâm của trẻ em–tôn giáo, lý trí, tình yêu–cũng là ba khía cạnh và nguồn mạch tăng trưởng đối với nhà giáo dục. Nhà giáo dục phải không ngừng lớn lên về đức tin, nhận ra sự phong phú của hạt giống mà Thiên Chúa đã gieo vào cuộc đời của thanh thiếu niên nhờ Lời và sự hiện diện của ngài; phải nuôi dưỡng niềm lạc quan của mình tức là niềm hi vọng và tin tưởng vào tương lai của công việc mình làm; phải biến đổi lại mọi sự trong một đức ái luôn mau mắn và có khả năng can thiệp để mưu lợi ích cho thanh thiếu niên.
Tất cả điều này làm chúng ta phải suy nghĩ lại về ý nghĩa của khái niệm phòng ngừa và dự phòng. Có lẽ nhiều người cho rằng nó có nghĩa là chỉ chăm lo cho các thanh thiếu niên nào chưa từng bị tiêm nhiễm sự xấu. Ngăn ngừa trước chắc chắn là một luật vàng. Nhưng “phòng ngừa” cũng có nghĩa là ngăn cản sự sụp đổ hoàn toàn của những người đã ở trên con đường xấu nhưng vẫn còn sức lực lành mạnh để phát triển hay phục hồi. Trong suy tư sư phạm-xã hội học ngày nay, người ta nói đến một sự dự phòng thứ nhất và cơ bản, một sự dự phòng thứ hai để phục hồi và kiện cường, và một sự dự phòng cuối cùng có khả năng ngăn chặn những hậu quả tai hại nhất của sự xấu.
Tỏ lộ tình yêu
Cùng với lòng ưu ái giới trẻ và niềm tin vào ơn cứu độ hoạt động trong họ, còn một thái độ thứ ba: tình yêu được tỏ lộ bằng lòng thương mến.
Tình yêu đích thực hướng đến lợi ích tuyệt đối của người khác, ước muốn và tìm kiếm nó như lợi ích của chính mình. Đây là cách diễn tả cơ bản của tình yêu, không lệ thuộc sự thiện cảm hỗ tương giữa những người yêu nhau. Nhưng tình yêu của người Salêdiêng, như Don E. Viganò nói, là tình yêu gợi được sự tương ứng, vì sự tương ứng này giúp cho thanh thiếu niên phát triển. Khi cảm thấy mình được quí mến, người này sẽ biết tự quí mến mình, có lòng tin tưởng và cũng tự trao ban một cách vô điều kiện.
Bản thân chúng ta có thể nhớ lại những ai đã từng khơi dậy nơi chúng ta ước muốn tự khắc phục mình và cho chúng ta can đảm để lướt thắng những khó khăn: đó là những người đã chứng tỏ cho chúng ta lòng quí mến, sự tin tưởng, tình cảm.
Ngược lại những ai từng phất lờ, làm ngơ hay coi thường chúng ta, những người ấy khơi dậy nơi chúng ta bản năng tự vệ và cảm giác thất vọng. Tình yêu tạo nên con người!
Đây là chủ đề của lá thư viết từ Roma năm 1884. Nó cũng là một kết luận của kinh nghiệm giáo dục của Don Bosco. Khi ngài còn là một chủng sinh, các cha dòng Tên, trong một thời kỳ dịch bệnh, đã mời ngài đến trông coi một khu nội trú của họ ở gần Torino, mà họ đã gửi đến đó các học sinh nội trú của họ. Don Bosco chấp nhận lời mời để có việc làm, kiếm tiền và thoả mãn khuynh hướng tự nhiên muốn sống giữa thanh thiếu niên của ngài. Các thanh thiếu niên là các học sinh trung học, vì thế thuộc thành phần tốt.
Don Bosco không gặp khó khăn trong quan hệ với các em. Ngài giúp các em ôn các bài học tiếng Hi Lạp, hộ trực các em trong nhà ngủ, và, theo lời ngài kể lại, ngài có trong số các em những người bạn tuyệt vời luôn muốn điều tốt cho ngài và kính trọng ngài. Nhưng ngài nêu lên một điểm đặc biệt: cái khó trong việc tạo ảnh hưởng sâu xa trong các mối quan hệ giáo dục khi ngài được “trả lương” và thanh thiếu niên có thể nói: “Thầy làm tốt nhiệm vụ, em công nhận điều đó. Nhưng em trả tiền cho việc phục vụ của thầy.” Quan hệ này không miễn phí. Thanh thiếu niên cảm nhận được một “việc phục vụ tốt”, nhưng không cảm nghiệm rằng mình được “cứu độ”. Bấy giờ ngài có một suy tư được nhà viết sử kể lại cho chúng ta: “Ở Montalto ngài nhận ra sự khó khăn trong việc tạo trên các thanh thiếu niên một ảnh hưởng đầy đủ cần thiết để có thể mang lại lợi ích cho họ. Vì vậy ngài nhận ra rằng ngài không được kêu gọi để chăm lo cho các thanh thiếu niên thuộc các gia đình giàu có”124.
Kiểu giáo dục của ngài không hiệu quả đối với những thanh thiếu niên này. Cũng có một quan hệ tốt. Nhưng đó là một quan hệ về sự vật hơn là về con người. Làm một việc phục vụ để đổi lấy tiền bạc, cả hai việc đều được làm một cách tử tế và trách nhiệm. Từ đó phát sinh lòng tôn trọng và tình bạn, nhưng không tạo ra lòng biết ơn. Ngược lại, phương pháp mà ngài kinh nghiệm sau đó dựa trên sự tương ứng của tình yêu cho không và được áp ứng vô điều kiện.
Biết khơi dậy sự tin tưởng là một khía cạnh của đức ái giáo dục của chúng ta, vì chỉ ở đâu có nó thì mới có công việc giáo dục. Như Don Bosco nói, nó là “việc của con tim”.
Liên quan tới linh đạo, không ai không thấy rằng tu đức và thanh tẩy đòi hỏi sự sẵn sàng hiến mình cho thanh thiếu niên, không phải để thoả mãn mình nhưng nhằm mưu cầu sự thăng tiến của các em; về đức tin ... nó đòi hỏi sự canh tân thái độ sẵn sàng của mình, tạo ra các cơ hội gặp gỡ thanh thiếu niên, mau mắn có các hình thức truyền thông mới, hiểu biết những tình huống mới để có thể giúp đỡ thanh thiếu niên.
Đó là điều được diễn tả trong Hiến Luật 15: “Được Thiên Chúa, Đấng là “trọn cả tình thương” sai đến với các thanh thiếu niên, người Salêdiêng sống cởi mở và thân tình, sẵn sàng đi bước trước và luôn luôn tiếp đón với lòng nhân hậu, kính trọng và kiên nhẫn. Tình thương nơi người Salêdiêng là tình thương của một người cha, người anh, và người bạn, khả dĩ tạo được mối tương giao thân thiết: đó là lòng thương mến Don Bosco hằng tha thiết khích lệ chúng ta. Đức thanh khiết và sự quân bình mở lòng người Salêdiêng cho tình phụ tử thiêng liêng và làm lộ rõ nơi họ tình yêu quan phòng của Thiên Chúa.”
2. ĐỨC ÁI MỤC TỬ TRONG VIỆC GIÁO DỤC
Ngoài các thái độ mà đức ái mục tử tạo ra, còn có một số cách cư xử cụ thể tạo nên việc thực hành nó. Người Salêdiêng biểu lộ thế nào lòng ưu ái của mình đối với thanh thiếu niên? Sự tin tưởng của họ vào các nguồn lực của thanh thiếu niên, khả năng yêu mến của họ đối với các em có vượt lên trên sự thiện cảm tự nhiên hay sự đáp ứng tức thời của các em không?
2.1. Gặp gỡ Thanh thiếu niên
Cách biểu hiện đặc trưng của đức ái mục tử trước hết là sự gặp gỡ. . . biết gặp gỡ các thanh thiếu niên và đi bước trước. Anh em nghĩ điều này có liên quan tới linh đạo chứ? Chắc chắn rồi! Ở đâu và khi nào người ta thấy được linh đạo, ví dụ của một nữ tu y tá, nếu không phải trong việc gặp gỡ các bệnh nhân? Ở đâu và khi nào thấy được linh đạo của nhà giáo dục nếu không phải trong “lúc” giáo dục?
Don Bosco là một chuyên gia hàng đầu về việc gặp gỡ thanh thiếu niên. Ngài có khả năng khơi dậy ngay lập tức sự tin tưởng, xoá bỏ hàng rào ngăn cách, kích thích niềm vui. Có biết bao cuộc gặp gỡ như thế được chính ngài thuật lại.
Một số cuộc gặp gỡ diễn ra trong lịch sử như những thời điểm “sáng lập”. Cuộc gặp gỡ với Bartolomeo Garelli trong phòng thánh nhà thờ thánh Phanxicô Assisi đã đặt nền móng cho nguyện xá.
Trong các sách tiểu sử viết về các thiếu niên, Don Bosco thích thú nhớ lại các cuộc gặp gỡ với các thiếu niên ấy và tìm cách xây dựng lại từng bước những trao đổi then chốt. Trong tiểu sử Đaminh Savio ngài mô tả lại cuộc gặp gỡ-đối thoại đã diễn ra tại nhà xứ ở Murialdo và phòng giám đốc ở Nguyện xá. Trong tiểu sử Micae Magone, đó là cả một chương, chương đầu tiên của cuốn sách, mang tựa đề: “Một cuộc gặp gỡ kỳ lạ”.
Don Bosco không chỉ làm sống lại các cuộc gặp gỡ này, ngài còn đề nghị chúng làm qui tắc giáo dục. Nó được bộc lộ hầu như trong nghệ thuật chạm đến được đời sống của thiếu niên. Cuộc gặp gỡ luôn luôn bắt đầu với một cử chỉ quí mến, thương yêu, đồng cảm tuyệt đối. Don Bosco một cách đơn sơ và bất ngờ đi vào các điểm quan trọng của đời sống đứa bé đối thoại với ngài (việc học giáo lý, lao động, cha mẹ, sự bỏ rơi, lêu lổng).
Vì vậy đối thoại mang tính nghiêm túc trong nội dung, tuy rằng mỗi một cách diễn tả đều chất chứa sự vui vẻ và khôi hài. Vì chúng đối diện với các điểm nóng của đời sống và đối diện với chúng một cách nghiêm túc và vui vẻ, các cuộc gặp gỡ này chan chứa tình cảm. Micae cảm động, Phanxicô Besucco xúc động đến khóc, Đaminh Savio “không thể tả nổi niềm vui và sự biết ơn; em cầm lấy tay tôi, xiết chặt và hôn nó nhiều lần”125. Những tình cảm này cắt nghĩa tại sao việc hồi tưởng lại những cuộc gặp gỡ ban đầu không bao giờ phai nhoà cả trong ký ức của các thanh thiếu niên. Don Rua không bao giờ quên được những cử chỉ và lời nói của lần gặp gỡ đầu tiên với Don Bosco, khi ngài còn là một cậu bé.
Nếu sự nhớ lại như thế đã ghi khắc các cuộc gặp gỡ trong tâm hồn mình, nếu đó là ý nghĩa mà ngài đã đưa vào trong các sách tiểu sử, tới độ biến nó thành cái bản lề của tường thuật, chính là vì ngài xác tín rằng phẩm chất của nhà giáo dục-mục tử được chứng tỏ trong gặp gỡ cá nhân, và đây là điểm mà môi trường và chương trình nhắm tới.
Khi một hồng y ở Roma muốn thử tài giáo dục của Don Bosco, Don Bosco cung cấp khung cảnh và chứng minh điều này bằng một cuộc gặp gỡ cá nhân và một cuộc đối thoại với các trẻ em tại Quảng trường Popolo. Hai người cùng đi đến địa điểm đã chọn. Xe chở hai người dừng lại gần quảng trường. Hồng y đứng quan sát từ đàng xa. Don Bosco tiến lại gần một nhóm thiếu niên đang chơi đùa và la hét. Chắc chắn chúng không phải những thiếu niên hư hỏng, nhưng là những đứa trẻ phá phách và thiếu giáo dục. Đây là một giai thoại có thực nhưng có lẽ đã được dựng lại như một “chứng minh hay bài học sư phạm”. Đọc lại câu chuyện này chúng ta thấy được cấu trúc tường thuật của tất cả các cuộc “gặp gỡ” khác: bước tiếp cận đầu tiên, trẻ em bỏ chạy, khắc phục sự nhút nhát, đối thoại nghiêm túc-vui vẻ, cảm xúc sâu đậm của kết luận126.
Sự gặp gỡ khơi dậy sự tín nhiệm và đánh thức lòng tự tin là một phạm trù Tin Mừng. Chúa Giêsu đón nhận và đến gặp gỡ mọi hạng người: Dakêu, Lêvi, Nicôđêmô, người phụ nữ Samaria, người phụ nữ ngoại tình. Và gặp gỡ với ngài để lại một dấu ấn.
Có lẽ giữa những người Salêdiêng có những người đã mất đi khả năng này. Nhưng bù lại tại nhiều nơi trên thế giới chúng ta thấy một số nam nữ tu sĩ tìm đến gặp gỡ các thanh thiếu niên mà cả các tổ chức giáo dục lẫn xã hội đều không có khả năng đến được. Và họ gặp gỡ chúng trên đường phố, dưới gầm cầu, tại những nơi chúng tụ tập thành băng nhóm. Nói với chúng bằng cách này có thể được hiểu là một việc thực hành đức ái.
Có một vấn nạn cho mọi người Salêdiêng: chỉ gặp gỡ thanh thiếu niên trong các tổ chức giáo dục hay cả ở những nơi tự do và mở rộng hơn? Các nơi thứ nhất đang ngày càng giới hạn nhiều hơn vào các hoạt động và thời gian giảng dạy. Và chúng không phải nơi thích hợp để các thanh thiếu niên tự nhiên bộc lộ các vấn đề cá nhân của họ. Các nơi thứ hai thì không có bản sắc giáo dục rõ ràng và khó điều hành.
Trong việc gặp gỡ bên trong một cơ sở giáo dục, quan hệ ban đầu giữa thanh thiếu niên và nhà giáo dục được bảo vệ bởi các qui tắc ứng xử. Ở đây có thể có sự đúng đắn mà không có sự tín nhiệm. Ở bên ngoài các cơ sở giáo dục thì đòi hỏi phải chứng minh khả năng chứng tỏ được cho thanh thiếu niên rằng chúng ta quan tâm tới đời sống chúng và khả năng truyền thông với chúng. Có lẽ ngày nay cả hai nơi gặp gỡ này đều được cộng đoàn xét đến, tuy rằng không phải mọi người sẽ có thể hành động trong nơi gặp gỡ thứ hai.
2.2. Thái độ tiếp nhận
Một việc thực hành đức ái mục tử thứ hai là sự tiếp nhận. Biết vui vẻ tiếp nhận thanh thiếu niên như tiếp nhận một ân sủng.
Đây không nói đến sự tiếp nhận thể lý. Nhưng là sự tiếp nhận tất cả những gì mà một người mang nơi mình như hành trang cuộc đời: các sở thích hợp pháp, các khát vọng, văn hoá của người ấy.
Có lẽ trước đây sự tiếp nhận đối với giới trẻ chủ yếu mang tính chất “cơ chế”. Thiếu niên gia nhập một môi trường của chúng ta và cảm thấy được tiếp nhận, bởi vì khả năng sử dụng một cơ hội giáo dục như thế là một đặc ân. Đời sống của tu hội chúng ta được tổ chức có nhịp điệu với các bổn phận học hành, cầu nguyện hằng ngày, chơi đùa, các sinh hoạt đa dạng, là một cái gì mới mẻ thực sự đối với các em. Các em cảm thấy ở đây thú vị hơn ở nhà quê hay gia đình.
Trong bối cảnh này, các người Salêdiêng làm cho mình trở thành gần gũi: các hộ trực viên, giáo sư, giám linh, giám đốc. Cần phải ý thức về ảnh hưởng phụ thuộc, và về sự thiếu hấp dẫn của các cơ sở này đối với các thanh thiếu niên hôm nay. Việc đi vào một môi trường trang nghiêm và trật tự nhưng vô danh thì không có ý nghĩa gì đối với thanh thiếu niên. Ngược lại, cái có giá trị là sự tiếp nhận cá nhân và đầy tình ngườiø, được biểu lộ bằng các cử chỉ chấp nhận có thể nhận thấy rõ ràng. Điều này đòi hỏi sự cảm thông và thấu cảm đối với mọi hoàn cảnh và mọi khuynh hướng lành mạnh của tuổi trẻ, của các cá nhân và các nhóm. Hiến Luật khuyên chúng ta “mở ra để hiểu biết cách sinh động thế giới tuổi trẻ và liên đới với mọi biểu hiện chân chính của tính năng động tuổi trẻ”127.
2.3. Tạo dựng một môi trường
Biểu hiện thứ ba là sự hiến mình kiên trì và chăm lo xây dựng một môi trường đầy nhân tính, tự nó đã là biểu hiện và phương tiện truyền đạt các giá trị. Kinh nghiệm về sức mạnh của môi trường thuộc về những năm đầu cuộc đời tông đồ của Don Bosco và trở thành một bài học vĩnh viễn cho cả đời ngài. Hồi ấy ngài đi thăm các nhà tù. Theo lời ngài kể, “chính trong những dịp như thế tôi thấy được tại sao khá nhiều em bị đưa trở lại nơi này, đó là vì các em bị bỏ mặc một mình. Biết đâu nếu các em nhỏ này có một người bạn ở bên ngoài chăm lo cho chúng, giúp đỡ chúng và dạy dỗ chúng về đạo giáo trong các ngày lễ, biết đâu chúng có thể tránh được sự huỷ diệt”128.
Don Bosco sẽ là người bạn của nhiều thanh thiếu niên được gặp gỡ từng người một tại những nơi rất khác nhau; nhưng ngài cũng là người sinh động một cộng đồng thanh thiếu niên, mang một số đặc điểm và có một chương trình phát triển. Các lý do tâm lý, xã hội và đức tin làm ngài xác tín rằng cần có một môi trường giáo dục, trong đó tôn giáo và bổn phận là hơi thở và trong đó đức ái thấm nhuần các vai trò, các mối quan hệ và bầu khí.
Vì vậy, không những ngài chọn môi trường, bằng cách tìm kiếm sự ổn định cho nguyện xá của mình và soạn ra một nội qui nhỏ, ngài còn phát biểu một lý thuyết: “Nhiều em sống chung với nhau rất có ích để làm ra mật ngọt này của niềm vui, lòng đạo và học tập. Các con được sống chung trong nguyện xá là một lợi thế. Nhiều người chung sống với nhau làm tăng niềm vui trong các cuộc giải trí của các con, lấy đi sự buồn sầu khi nó len lỏi vào lòng các con; nhiều người chung sống với nhau giúp khích lệ để các con chịu đựng những mệt nhọc của việc học hành, giúp kích thích các con khi nhìn thấy lợi ích của người khác; người này thông truyền cho người kia những hiểu biết, ý tưởng và như thế học hỏi lẫn nhau. Nhiều người chung sống với nhau để làm việc thiện sẽ làm chúng ta trở nên sinh động mặc dù chúng ta không nhận ra nó”129.
Môi trường không có tính chất chung chung. Nó có các nét đặc trưng. Không phải một nơi vật chất để người ta làm vừa lòng mỗi cá nhân, mà là một cộng đoàn, một chương trình, một khuynh hướng mà người ta hội nhập vào để trưởng thành.
Đức ái mục tử, tình yêu thương giáo dục làm chúng ta tiêu hao thời giờ và sức khoẻ, chăm lo tổ chức một môi trường rộng lớn, tích cực, giàu mục tiêu, có khả năng tiếp nhận nhiều thanh thiếu niên và cống hiến họ một kinh nghiệm tích cực về cuộc sống chung, về trách nhiệm, bổn phận, đời sống đức tin.
Ai nhìn thấy người Salêdiêng, nhiều khi mệt nhọc vất vả trong khi làm công này việc kia, tạo ra những quan hệ, tổ chức các cuộc hội họp, và trang hoàng các bức tường, để có thể tạo ra bầu khí này, thường dễ bị cám dỗ nghĩ rằng: dán các bích chương hay viết các khẩu hiệu thì liên quan gì đến linh đạo? Đúng là nếu người Salêdiêng hoàn toàn bị cuốn hút vào các việc vật chất này, có lẽ họ đang sử dụng sai thời giờ và khả năng của họ. Nhưng nếu ai đó nghĩ rằng tất cả sự lo lắng này để tạo một bầu khí tích cực cho thanh thiếu niên là một sự phí phạm thời giờ, thì người ấy phải suy niệm tư tưởng của thánh Phaolô. Theo thánh Tông đồ, các sự vật tự chúng không phải là thần khí hay xác thịt. Mà chính con người, tùy theo họ được thúc đẩy bởi bản năng, tính ích kỷ hay bởi đức ái, mới tạo phẩm chất cho hành động và khiến các sự vật có tính chất thần khí hay xác thịt.
2.4. Tương quan giáo dục cá vị
Cùng với việc biết và muốn gặp gỡ, tiếp nhận thanh thiếu niên, sinh động hoá việc giáo dục và tôn giáo của một môi trường, chúng ta còn một sự biểu lộ đức ái mục tử cuối cùng: sự quan hệ cá nhân giúp thanh thiếu niên tăng trưởng.
Việc tiếp nhận thanh thiếu niên có lẽ chỉ cần một bước gặp gỡ đầu tiên. Sau đó việc giáo dục họ đòi hỏi theo dõi họ một cách thanh thản nhưng lâu dài. Thiên nhiên cung cấp sự giáo dục trong quan hệ cha-con. Trong quan hệ này, sự sinh sản đời sống sinh vật được tiếp tục trong việc chăm sóc sự sống qua việc nuôi dưỡng.
Liên quan tới điểm này, đặc biệt có hai cách biểu hiện: tình bạn và tình phụ tử. Tình bạn thường xuất hiện trong các tường thuật của Don Bosco liên quan tới kinh nghiệm bản thân và việc thực hành giáo dục. Chúng ta đã thấy tình bạn đã là một nét đặc trưng của tuổi thiếu niên của ngài, nó chứng tỏ ngài có khả năng cho và nhận tình cảm một cách vui vẻ và luôn luôn mang tính cá vị và sâu xa.
Trong việc giáo dục, tình bạn sâu xa phát sinh từ những cử chỉ và từ ý muốn thân mật, và được nuôi dưỡng bằng những điều này. Rồi tình bạn làm phát sinh sự tin cậy. Và tin cậy là tất cả trong giáo dục, vì chỉ lúc thanh thiếu niên tin cậy thổ lộ những bí mật của họ, việc giáo dục mới có thể có được.
Cách diễn tả cụ thể tình bạn là việc hộ trực. Nó được nhắm đến như một ước muốn ở với thanh thiếu niên và chia sẻ đời sống của họ. Vì vậy, nó không phải một “bó buộc của chức vụ”, mà là một niềm say mê để hiểu và giúp sống các kinh nghiệm tuổi trẻ. Và đồng thời sự hiện diện thể lý ở những nơi mà thanh thiếu niên sống, trao đổi hay dự phóng kế hoạch; nó là sức mạnh tinh thần với khả năng sinh động hoá, kích thích và khơi dậy tiềm năng. Nó mang hai khía cạnh của sự dự phòng: bảo vệ khỏi những kinh nghiệm tiêu cực quá sớm và phát triển những tiềm năng của con người nhờ các mục tiêu tích cực. Nó phát triển các động lực được khơi dậy cho lý trí (đời sống lương thiện, lòng yêu sự sống) và cho lương tâm, trong khi nó kiện cường nơi thanh thiếu niên khả năng đáp ứng một cách độc lập tiếng gọi của các giá trị.
Việc hộ trực của chúng ta cũng đã trải qua một bước tiến hoá và phong phú dần dần. Mô hình hộ trực đầu tiên là mô hình nguyện xá, tất cả dựa trên quan hệ tình bạn, sự hợp tác và ý muốn sống chung và giúp đỡ lẫn nhau. Đòi hỏi kỷ luật và kiểm soát chỉ chiếm một tỉ lệ tối thiểu trong đó.
Tiếp đến là “mô hình” trường học. Việc chu toàn bổn phận, ngăn ngừa rối loạn, kỷ luật có chỗ đứng lớn hơn. Quan hệ cá vị và sự truyền thông tự phát mất đi thế mạnh của nó. Ngày nay người ta nhấn mạnh lại chiều kích đồng hành, giúp đỡ trong tự do, gợi ý, sinh động hoá các hoạt động giới trẻ. Vì vậy người ta cũng thực hiện việc “hộ trực” ở bên ngoài các công cuộc.
Sự tiếp nhận, tình bạn, và việc hộ trực đạt tột đỉnh trong một biểu hiện độc đáo nhất: tình phụ tử hay mẫu tử. Nó còn hơn là tình bạn. Nó là một trách nhiệm tình yêu và ảnh hưởng cống hiến sự hướng dẫn và dạy dỗ cần thiết, và đòi hỏi kỷ luật và bổn phận. Nó là tình yêu và quyền bính. Nó là nét đặc trưng phân biệt người chịu trách nhiệm thứ nhất của một chương trình. Nó liên quan đến từng người và tập thể và trong tập thể này nó được giữ gìn, bảo vệ và nhấn mạnh.
Nó được biểu hiện trước hết trong việc “biết nói với quả tim”, một cách cá vị và đề cao nhân vị, bởi nó rút ra được những vấn đề đang có của đời sống và tâm hồn thanh thiếu niên; biết nói để bộc lộ tầm quan trọng và ý nghĩa của những gì thuộc về họ, giúp họ hiểu để có thể chạm tới lương tâm sâu xa và giúp họ đạt một sự hiểu biết nhờ đó họ đối diện với các niềm vui, khó khăn và thử thách của cuộc đời họ: biết nói thế nào để thông truyền nghệ thuật sống.
Tình bạn và tình phụ tử tạo ra bầu khí gia đình, trong đó các thanh thiếu niên lĩnh hội được các giá trị và chấp nhận các đòi hỏi. Như thế có một lằn ranh được vạch ra giữa thái độ cậy quyền, có nguy cơ không ảnh hưởng được tới tâm hồn, và thái độ buông lỏng, không thông truyền được các giá trị, và trong đó thứ tình bạn nhất thời không giúp cho sự tăng trưởng.
2.5. Kết luận
Đức ái mục tử của chúng ta có một diện mạo riêng: nó là một khoa sư phạm.
Đức ái mục tử bao gồm những thái độ tinh thần, những việc thực hành hằng ngày, thói quen lao động, các tiêu chuẩn tổ chức, v.v...
Tất cả được suy nghĩ và thực hành để có thể bộc lộ cho thanh thiếu niên niềm say mê cuộc sống con người viên mãn và tình yêu Thiên Chúa: chúng ta muốn là những “dấu chỉ tình yêu Thiên Chúa”.
Theo nghĩa này công việc giáo dục của chúng ta cũng tạo thành kinh nghiệm thiêng liêng tiêu biểu của chúng ta. Khi chúng ta muốn chứng minh cho ai về linh đạo Biển Đức, chúng ta dẫn họ đến “tu viện”; nếu muốn cho người ta kinh nghiệm điểm cao của linh đạo Focolare, chúng ta mời họ đến “Mariapolis”. Muốn thấy trong thực tế sống động và trực tiếp linh đạo Salêdiêng, phải ra sân chơi và quan sát các người Salêdiêng ở giữa và với thanh thiếu niên.
Chú thích
120Juvenum Patris 5
121HL SDB 20; HL FMA 7; 66.
122TTN 23, 95
123MB V, trg 367
124MB I, trg 395
125MB V, trg 124
126xem MB V, trg 917-918
127HL 39
128MB II, trg 63
129MB VII, trg 366