XI. BIỂU HIỆN TRƯỞNG THÀNH CỦA ĐỨC ÁI MỤC TỬ: TÌNH PHỤ TỬ
1. Linh mục – Nhà giáo dục
Chúng ta đã thấy hình ảnh đầy đủ của Don Bosco. Bây giờ chúng ta xem ngài “hành động”: thực hiện một kế hoạch, cai quản một cộng đoàn.
Có hai đặc điểm nổi bật, hai đường nét lớn luôn luôn ở lại trong mọi hình ảnh mà chúng ta có về ngài.
Thứ nhất là ơn gọi linh mục: quả tim và thừa tác vụ linh mục; thứ hai là thiên tài giáo dục, bản năng bị lôi cuốn về thanh thiếu niên, sự dễ dàng trong việc hiểu biết và đối xử với chúng. Ảnh thánh được nhiều người biết nhất mô tả thật tuyệt điều này: một linh mục vây quanh bởi các thiếu niên, nhìn chúng với nét mặt âu yếm, nắm lấy tay chúng và nghe chúng nói. Nếu xoá bỏ hay chỉ cần làm yếu đi một nét nào trong đó, hình ảnh của ngài hẳn không còn trung thực nữa.
Nét độc đáo giáo dục đã may mắn hơn trong lịch sử: ngay từ đầu, nó đã được trình bày và bình luận sâu rộng, đến nỗi trong một số trường hợp nó làm quên đi và để lại trong bóng tối chiều kích kia: chiều kích linh mục. Nó cũng có vị trí ưu tiên trong các cuộc mừng bách chu niên. Khi đọc lại các tựa đề của các bài diễn thuyết, các tiểu sử và các nghiên cứu chuyên đề toàn bộ hay từng phần, chúng ta thấy chủ đề “Don Bosco nhà giáo dục” xuất hiện thường xuyên hơn: Don Bosco và các trường dạy nghề, Don Bosco và thời giờ rảnh rỗi, Don Bosco và văn hoá bình dân, Don Bosco và việc thăng tiến giới trẻ bị bỏ rơi và nghèo khổ.
Người đã tập trung cái nhìn đặc biệt về “Don Bosco linh mục”, trong dịp kỷ niệm một trăm năm, là Hồng y Ballestrero của Torino. Ngài đã tập trung khoá tĩnh tâm cho các giám tỉnh của Ý vào chủ đề “Một linh mục cho thanh thiếu niên”, đồng thời nhấn mạnh vào từ “một linh mục”. Sau đó ngài gửi cho hàng linh mục của ngài một thư mục vụ mang tựa đề “Thánh Gioan Bosco linh mục của Đức Kitô và của Hội Thánh”. Và cũng trong bài giảng thánh lễ ngày khai mạc kỷ niệm một trăm năm, ngài đã nhắc đến cảm hứng linh mục như là nguồn mạch của tất cả cố gắng giáo dục của Don Bosco.
Về “Don Bosco linh mục” các nhà viết tiểu sử hầu như luôn luôn dành một chương nào đó trong các sách của họ. Don Auffray, chẳng hạn, trong cuốn “Don Bosco nhà giáo dục” đã viết một chương về diện mạo linh mục của Don Bosco, nhưng là để chứng minh ngay sau đó rằng ngài là một thiên tài giáo dục giữa thanh thiếu niên. Don Ceria trong “Don Bosco con Dio”, nói nhiều về Don Bosco cha giải tội, giảng thuyết, và cuối cùng khai triển một chương nhan đề “Gemma sacerdotum” (Viên ngọc của các linh mục), nhưng tập trung vào các khía cạnh thừa tác: rao giảng, giải tội, cử hành Thánh Thể.
Ngược lại rất hiếm các nghiên cứu đầy đủ và hệ thống về “Don Bosco linh mục”, gắn liền ân sủng linh mục vào khả năng giáo dục và các khía cạnh khác của nhân cách và hoạt động của ngài, như việc sáng lập Tu hội và các hiệp hội khác trong Hội Thánh.
Lý do có lẽ là vì sự chọn lựa và cách thức giáo dục, ngay từ thời Don Bosco, đã là một biểu hiện không bình thường của chức linh mục và trong chức linh mục. Các linh mục tốt thì có nhiều; nhưng ngược lại, có ít linh mục là bạn với thanh thiếu niên nghèo của đường phố, có khả năng chung sống với các thanh thiếu niên nghèo và chuẩn bị các chương trình phục hồi và tăng trưởng thích hợp với hoàn cảnh của chúng. Ngày nay cũng thế, người ta không nói đến các linh mục tốt lành bình thường, nhưng họ bị thu hút bởi các linh mục có một việc tông đồ lạ thường. Sự kiện này cũng có nguyên nhân là do người Salêdiêng và những người ngưỡng mộ Don Bosco đã muốn trình bày ngài với một khuôn mặt thiện cảm và hấp dẫn, không chỉ trong môi trường tín hữu, mà cả cho người đời: sự nhạy cảm này bắt nguồn từ chính Don Bosco, là người mà chúng ta biết đã muốn có một hệ thống dự phòng theo kiểu “ngoài đời”.
Về chức linh mục, cần đưa lên bình diện suy tư hàng đầu sự nhất quán của căn tính linh mục của ngài, hay sự chừng mực, chiều sâu mà Don Bosco đặt vào chức vụ linh mục của ngài để không cảm thấy, không muốn là và không là trong thực tế một cái gì khác hơn là một linh mục; hậu quả là tìm kiếm sự thể hiện mình như một con người và như một môn đệ của Đức Kitô bằng cách phát triển ơn linh mục.
Có một sự kiện mang tính chất quan sát thuần tuý: con người linh mục nơi ngài xuất hiện nơi mọi khía cạnh của nhân cách và đổ đầy các khía cạnh ấy. Điều này được Đức Gioan Phaolô II nhắc đến trong Juvenum Patris khi ngài nói: “Don Bosco trước hết và trên hết là một linh mục. Điểm nổi bật nơi đời sống và sứ mạng ngài là ý thức vô cùng mãnh liệt về căn tính linh mục của ngài: linh mục công giáo theo cõi lòng của Thiên Chúa.”
Câu nói trên đây của Đức Thánh Cha là bình luận cho các lời của Don Bosco mà người Salêdiêng chúng ta ai cũng biết, nhưng nó đáng được chúng ta ghi nhớ và lặp lại thường xuyên: “Don Bosco là linh mục ở bàn thờ, linh mục ở toà giải tội, linh mục giữa các thiếu niên của ngài; ngài là linh mục ở Torino thế nào, thì cũng là linh mục ở Firenze như thế, linh mục trong nhà của người nghèo, linh mục trong cung điện của nhà vua và các bộ trưởng.”168 Ngài đã không nghĩ phải làm người ta quên đi hay che giấu hay đặt chức linh mục của ngài xuống hàng thứ yếu khi ngài đụng tới các việc đời hay xuất hiện trong khung cảnh “thế gian”; hơn nữa, linh mục phải lý giải những gì mình làm và làm thế nào và trở thành một dấu chỉ của Tin Mừng và của Hội Thánh.
Sự kiện tiểu sử này được mọi người coi là sự kiện hàng đầu và quan trọng nhất để giải thích Don Bosco. Don Albera tóm tắt điều này trong câu “Linh mục luôn luôn và trong mọi lúc”. Và Don Brocardo khẳng định: “Không thể nghĩ về ngài khác hơn là một linh mục”169.
Chúng ta cần ghi nhớ điều này vì hai lý do.
Lý do thứ nhất là tính thời sự Hội Thánh. Thượng Hội Đồng về việc đào tạo linh mục trong hoàn cảnh hiện tại thấy mình đứng trước hai trục thảo luận: một trục nhấn mạnh vào “các điều kiện hiện tại trong đó phải diễn tả chức linh mục” bằng cách chấp nhận không bàn luận về cái gọi là giáo lý về chức thừa tác để tập trung vào những khó khăn và những hoàn cảnh trong đó phải sống chức linh mục; trục thảo luận kia ngược lại dành ưu tiên cho việc đào sâu “căn tính của chức linh mục”, ý tưởng hay hình ảnh về người linh mục đi vào chiều sâu phù hợp với Lời Chúa và truyền thống Hội Thánh. Thượng Hội Đồng và Tông Huấn theo sau Thượng Hội Đồng Pastores dabo vobis đã chọn trục thảo luận thứ hai. Nguy cơ lớn không ở chỗ thiếu các linh mục để đáp ứng các đòi hỏi đặc thù của hôm nay, mà ở chỗ không lãnh hội, đi sâu và đồng hóa mình hoàn toàn với những gì mà truyền thống và Lời Chúa cung cấp cho về người linh mục.
Lý do thứ hai khiến việc suy niệm về khía cạnh này trở nên cấp bách, đó là chúng ta, những nhà giáo dục (hiệu trưởng trường học, linh hoạt viên của các trung tâm sinh hoạt thể dục thể thao và giám đốc các nguyện xá) chúng ta làm việc trong các cơ sở ngoài đời và có thể gặp khó khăn trong việc diễn tả căn tính này trong mọi lúc: là linh mục hơn mọi sự khác, như mục đích và như việc phục vụ. Don Egidio Viganò diễn tả điều này khi ngài nói rằng có thể đã từng có tình trạng trong Tu hội có nhiều linh mục và đồng thời có ít chất linh mục.
Đặc điểm này của Don Bosco: thấy mình và cho thấy mình luôn luôn và trước hết như là một linh mục, có thể được nhìn dưới một góc cạnh khác: góc cạnh chủ quan, nghĩa là sự hài lòng, niềm vui riêng của việc cảm nhận mình là linh mục.
Có được căn tính này trong niềm vui là kết quả của ân sủng, nhưng cũng là kết quả của một hành trình đồng hoá của bản thân: sự đồng hoá nhờ nguyện ngắm, thi hành chức vụ thừa tác, tham gia nhiệt tình vào các mối quan tâm của Hội Thánh. Vì thế chúng ta tự hỏi Don Bosco đã tự đồng hoá mình với hình ảnh linh mục nào.
Về điểm này có một bình luận khác của Hồng y Ballestrero. Don Bosco tự đồng hoá mình với mẫu người linh mục tốt nhất của truyền thống Hội Thánh, không gắn liền một cách máy móc vào với một hình ảnh nào được thấy vào thời ấy: không gắn liền với hình ảnh của một cha xứ, một linh mục chuyên lo linh hướng cho một nhóm người riêng biệt nào hay tuyên uý cho một cơ sở nào; cũng không phải một linh mục đảm nhiệm một vai trò trong giáo phận, là giáo sư chủng viện hay đại học. Càng không gắn liền vào các tước hiệu thuộc lãnh vực chính trị hay văn hoá: linh mục bảo thủ, linh mục tự do, linh mục “cấp tiến”, linh mục “xã hội”.
Tất cả các hình ảnh trên đây đều rất phổ biến và có đại biểu trong các thành phần giáo sĩ. “Thánh Gioan Bosco luôn luôn tự cảm thấy và biết mình chỉ là linh mục”, theo các mẫu gương được làm nổi bật bởi lao động và đức ái mục tử kiểu Don Cafasso, nhưng từ các mẫu gương này ngài qui chiếu trực tiếp về Đức Kitô linh mục và nhất là về tinh thần linh mục của Hội Thánh.
Nhưng còn một nét nổi bật thứ hai, làm trưởng thành thứ tình phụ tử đặc biệt của ngài, mà không chỉ là thiêng liêng, linh mục, những gần như thuộc bình diện sinh học, ăn sâu vào nhân tính; một thứ tình phụ tử biết theo sát để giúp đỡ con người nghèo khổ trong sự phát triển ngay từ những bước đầu.
Đó là ơn gọi, thiên tài, chọn lựa “giáo dục” vốn đã xuất hiện ngay từ tuổi ấu thơ. Nó được bộc lộ qua tấm lòng ưu ái đối với các thiếu niên và niềm ham thích mở lòng họ đón nhận sự sung mãn của đời sống trong các biểu hiện đa dạng của nó: ý thức về phẩm giá mình, niềm vui, lao động, tình bạn: tất cả đều trong hướng đi và ánh sáng của sự cứu rỗi đời đời. Các niềm ham thích và khuynh hướng này ngài đã từng ấp ủ ngay từ trước khi chịu chức linh mục, đến độ có người đã nói: nếu như một số người bẩm sinh là nghệ sĩ, thì Don Bosco bẩm sinh là “nhà giáo dục”.
Trong nghiên cứu chuyên đề về Hệ thống dự phòng, Don Pietro Braido thuật lại một cuộc tranh luận: nơi Don Bosco bộc lộ trước tiên ước muốn qui tụ các thiếu niên để làm chúng trở nên tốt hơn và từ việc này đã chín muồi ý tưởng muốn làm linh mục, hay ước muốn và ơn gọi của ngài trước tiên là chức linh mục, tuy rằng ngài cảm thấy mình gần gũi các thanh thiếu niên?
Sau khi thuật lại các ý kiến khác nhau, ngài cho thấy rằng hai khuynh hướng này luôn luôn đan chằng vào nhau, hầu như không có sự phân biệt, trong cuộc đời của Don Bosco; nhưng trong tiến trình chín muồi và nhất là vào cuối tiến trình này, ơn gọi linh mục trở thành nguồn mạch phát sinh các thái độ và các sáng kiến, trong khi giới trẻ và việc giáo dục trở thành lãnh vực mục vụ trong đó ngài thi hành chức linh mục của ngài.
Chọn lựa việc mục vụ giới trẻ và việc giáo dục không phải là một chọn lựa dễ dàng. Ở Torino có nhiều linh mục. Don Bosco sẽ than phiền về tình trạng thiếu linh mục do việc các chủng viện bị đóng cửa. Nhưng ở Torino vào năm 1838 có một linh mục cho 137 người, nghĩa là 861 linh mục cho 117 ngàn dân.
Có linh mục muốn thi hành chức vụ thừa tác bình thường trong các giáo xứ với ý thức và tinh thần tốt. Don Bosco từng được đề nghị một chức phó xứ, một chức vụ mang lại một khoản thu nhập gấp ba lần một người lao động bình thường, và chúng ta có thể nói là một hoàn cảnh kinh tế thuận lợi. Có người làm linh mục “gia đình”, và Don Bosco từng được đề nghị một chân gia sư, dạy học cho một gia đình giàu có. Có các linh mục làm tuyên uý cho các trường và Don Bosco cũng được đề nghị công việc này. Có những công việc xứng đáng trên quan điểm xã hội và “bảo đảm” về mặt kinh tế.
Trong khi ấy thành phố đang bùng nổ những hiện tượng mới về tình trạng nhập cư, nghèo khó, trẻ em lao động. Chọn không dấn mình vào công việc giáo xứ, gia đình, hay trường học, mà dấn mình trên đường phố, và do đó không có thu nhập cố định cũng không phải một công việc được xã hội nhìn nhận, là một chọn lựa mục vụ mới và dũng cảm. Don Bosco đặt mình thực tế vào trong các trào lưu mục vụ mới đang hình thành trong Giáo Hội ở Torino. Như vậy, hơn là “làm linh mục” trong một vai trò cơ chế nhất định, ngài thích “là linh mục” cho dân chúng và thanh thiếu niên trong sự hiệp thông Hội Thánh; không có một khuôn khổ vai trò cứng nhắc, nhưng chắc chắn hợp với ý giám mục của ngài là muốn chỉ định ngài làm “giám đốc” hay phụ trách công cuộc của các nguyện xá.
Trong việc tiếp xúc này với thanh thiếu niên nghèo, ngài đã có một ít kinh nghiệm đặc thù. Một là kinh nghiệm mãnh liệt về tương quan giữa đức tin hoạt động nhờ đức ái và đời sống của thanh thiếu niên, và còn có sự hiểu biết về chức năng cứu rỗi mà chức linh mục của mình bao hàm, khác với chức năng giới hạn hơn là khai tâm Kitô giáo, dạy giáo lý hay chăm lo mục vụ giáo xứ. Ngài phải chăm lo đến đời sống và hạnh phúc của các thiếu niên, bao gồm việc cứu các em ra khỏi nhà tù, khỏi sự cùng khổ, dốt nát, mê muội về ơn gọi và định mệnh của mình.
Kinh nghiệm khác là sự cấp bách và hiệu quả của việc làm cho đức ái đối với thanh thiếu niên mang sắc thái nhân bản, tình cảm, và thông cảm, để bổ khuyết vào tình cảm gia đình bằng cách phục hồi chiều kích tình cảm và làm cho các em cảm nhận được tình phụ tử của Thiên Chúa một cách cụ thể.
Rõ ràng các năng khiếu tự nhiên nơi Don Bosco từ tuổi thơ ấu, nghĩa là khả năng bẩm sinh của ngài để gần gũi các thanh thiếu niên và sự nhậy cảm nhân bản sâu xa của ngài từng khiến người ta gọi ngài là “thiên tài của cõi lòng”, đã được hấp thu, phát triển và biến đổi bởi chức linh mục của ngài.
2. Tình phụ tử đặc trưng của Don Bosco
Từ sự hoà nhập của hai nét tính cách này, hay có thể nói, của hai nguồn năng lượng của nhân cách ngài, phát sinh và triển nở một nét tính cách của Don Bosco nhà giáo dục, người sáng lập và bề trên, một nét tính cách được bình luận và ước muốn rất nhiều hôm nay: tình phụ tử.
Chức linh mục là nguồn nuôi dưỡng thường xuyên của nó, từ đó phát sinh một sức bật mãnh liệt và liên tục; việc chọn sống với thanh thiếu niên và gặp gỡ chúng để làm đời sống chúng trở nên sung mãn, là như dấu ấn, dấu vết trong đó tình phụ tử nhận được hình thù riêng của nó, sắc thái và các cách biểu hiện riêng của nó.
Về tình phụ tử, thật đúng như lời khoản Hiến Luật 20 khi nói về Hệ thống dự phòng: nó đến từ Chúa Thánh Thần thông qua ơn gọi, đặc sủng và thừa tác vụ linh mục. “Chúa Thánh Thần đã tạo nên trong ngài một tấm lòng của người cha có khả năng tự hiến trọn vẹn”; nhưng ngài uốn nắn các hành vi và các cách diễn tả đặc trưng trong việc gặp gỡ và đối xử với thanh thiếu niên.
Nói một cách đơn giản cho dễ hiểu, có thể nói: chức linh mục tạo bản chất cho nó; khoa sư phạm tạo phong cách cho nó. Người ta không thể nói gì về tính trọng tâm và chuyên biệt của tình phụ tử của Don Bosco nếu không xét đến hai khía cạnh này. Thiếu hay giảm thiểu khía cạnh thứ nhất, thì không có “Da mihi animas”; thiếu khía cạnh thứ hai, thì Hệ thống dự phòng cũng chẳng còn.
Như thế nơi ngài đã trưởng thành một tình phụ tử mang tính “thiêng liêng”: tình phụ tử của người linh mục sinh ra ân sủng qua phép rửa và đưa người ta trở về với lòng thương xót của Cha qua ơn tha tội. Đó là tình phụ tử được thánh Phaolô nói đến khi ngài nói với người Côrintô: “Anh em có thể có hàng vạn thầy dạy trong Đức Kitô, nhưng chắc chắn anh em không có người cha nào khác, bởi vì chính tôi đã sinh ra anh em trong Đức Kitô, nhờ Tin Mừng.”170 Nhưng cũng có một biểu hiện của một tình phụ tử mang tính chất gần như là “sinh học”, một tình phụ tử đảm nhận trách nhiệm về cả cuộc đời, chạm tới thanh thiếu niên một cách có thể cảm thấy được đến độ khơi dậy nơi chúng một ước muốn và một sự khích lệ tăng trưởng, một ý thức về giá trị của bản thân chúng, một khả năng mới để hiểu về đời sống mà chúng còn phải học để cảm nhận và giải thích.
Tình phụ tử là một đòi hỏi không ngừng lặp đi lặp lại. Nó có vẻ là một trong những khía cạnh lớn gặp nguy hiểm bởi “não trạng kế hoạch” mà đôi khi có thể trở thành não trạng “nhà thầu hay quản lý”, bởi sự ôm đồm quá nhiều công tác và cũng bởi mối quan hệ mới giữa cá nhân với bề trên, giữa cha và con. Cái gặp nguy hiểm là chính nét đặc trưng của tình phụ tử; mà cả việc giải thích và thể hiện nó theo kiểu Salêdiêng cũng gặp nguy hiểm. Nó không phải chỉ là đòi hỏi của một người muốn được sự săn đón và yêu thương; nó là một nét của đặc sủng liên quan đến Gia đình Salêdiêng, vì nó tạo thành nét độc đáo của Gia đình Salêdiêng trong việc thi hành quyền bính phù hợp với mọi đường nét khác của diện mạo của nó.
Chức linh mục thừa tác là sự cô đọng và biểu hiện của một thực tại phổ quát trong Hội Thánh mà mọi người chúng ta được dự phần vào: chức linh mục của Đức Kitô. Trong sự hiệp thông của cộng đoàn Salêdiêng và giáo dục, mỗi diện mạo nhấn mạnh một chiều kích mà không phủ nhận chiều kích khác. Người làm bề trên thì phải đặt nền tảng thừa tác vụ của mình trong hình thức giống như Don Bosco đã làm.
3. Biểu hiện của tình phụ tử Salêdiêng
Nhìn nhận rằng chúng ta đứng trước một linh mục-nhà giáo dục mà tình phụ tử nơi người ấy có nét đặc trưng riêng biệt, chúng ta có thể tự hỏi đâu là những biểu hiện phát xuất từ tình trạng ấy, với sự hiểu ngầm rằng những biểu hiện này sẽ là tương tự khi tình phụ tử được tỏ ra cho trẻ em hay cho người lớn.
Chung chung, khi chúng ta nói về tình phụ tử của Don Bosco, chúng ta nhấn mạnh và dừng lại ở các cử chỉ tốt lành, làm yên lòng và khích lệ, tình yêu mà ngài làm nảy nở nơi các thiếu niên trong một thái độ con cái đối với ngài: một tình yêu và một lòng tốt được gợi hứng từ tình yêu của Thiên Chúa và lòng hiền từ của Chúa Kitô. Đây là một khía cạnh rất hiện thực, nó diễn tả nét mặt của ngài và hiện diện rất rõ trong ký ức của chúng ta và trong học thuyết thiêng liêng của chúng ta. Đức Gioan Phaolô II đã ghi khắc rõ điều này trong lá thư ngài gửi cho chúng ta vào dịp kỷ niệm một trăm năm: Cha và Thầy của thanh thiếu niên.
Trong cuốn Don Bosco: profondamente uomo, profondamente santo, cha Brocardo đã thu thập một tập hợp các giai thoại chưa từng được xuất bản, chúng dệt thành chủ đề này bằng hồi ức của những bậc cao niên, nơi họ hình ảnh phụ tử của Don Bosco mãi mãi không bao giờ phai nhoà171.
Còn có một tuyển tập các câu truyện của các người Salêdiêng gặp khó khăn, thử thách hay thiếu kinh nghiệm, hay của những người khác hiếu động và thiên tài, họ đã để lại hình ảnh của ngài như một con người gánh trách nhiệm một gia đình có khả năng tạo an bình và hạnh phúc cho mọi người và biết giá trị của mỗi thành viên, biết nhắm mắt làm ngơ, đánh giá cao sáng kiến, đề ra các mục tiêu, khơi dậy các lý tưởng và các mong đợi.
Cũng có một sưu tập các bản văn trong đó Don Bosco bộc lộ những tình cảm thương hại, xúc động và dịu dàng khi đứng trước các thiếu niên cùng khổ. Hãy nhớ lại những lời bình luận về các chuyến viếng thăm các nhà tù của ngài: “Cha vô cùng xúc động khi nhìn thấy các thiếu niên ấy, không có việc gì làm, mình đầy ghẻ lở.” Một con người không thể dửng dưng khi đứng trước một tình cảnh bất hạnh như thế. Nhưng ngài cũng bộc lộ cùng một tình cảm ấy đối với các thiếu niên của nguyện xá là những em được sống trong một tình cảnh thuận lợi hơn, khi ngài ở xa các em. Chúng ta đã từng đọc đi đọc lại lá thư ngài viết năm 1884: “Các con yêu dấu, cha thấy tâm hồn trĩu nặng vì phải ở xa các con ... và không được nhìn thấy các con và không được nghe tiếng các con làm cha đau đớn đến độ các con không thể hình dung nổi.”172 Ngài cũng nhiều lần bộc lộ cùng những tình cảm ấy đối với các người Salêdiêng trưởng thành, gánh vác các trách nhiệm nặng và ở những miền đất xa xôi: “Các con hãy gọi và hãy coi cha là cha, và cha sẽ lấy làm sung sướng!”173
Lòng nhân hậu này không chỉ là tình cảm, mà còn là ước muốn hạnh phúc thực sự của người khác–“Cha muốn các con hạnh phúc”–lòng nhân hậu này thấm nhập vào cả đời sống chứ không chỉ trong những giờ phút đặc biệt, nó áp dụng cho các chương trình chứ không chỉ cho các mối quan hệ, nó sản xuất ra cái mà chúng ta gọi là “Hệ thống dự phòng”, được ban cho mọi thế hệ Salêdiêng tiếp theo như một ơn đặc sủng. Lòng nhân hậu này được bảo vệ và làm nổi bật trong môi trường nhờ việc tổ chức các vai trò trút khỏi nó các can thiệp có thể làm phương hại đến nó và được nhấn mạnh trong một ngày lễ diễn tả lòng biết ơn và tin tưởng: hai thái độ cơ bản của Hệ thống dự phòng. Trong truyền thống chúng ta nhớ lại những người đã biết lặp lại lòng nhân hậu này. Vì không thể kể ra tất cả, tôi chỉ nêu danh một người mà tình phụ tử, đầy nhân hậu và cảm thông, đã được phụng vụ nhìn nhận: Á thánh Filippo Rinaldi.
Tuy nhiên lòng nhân hậu, tình âu yếm, sự dịu dàng, sự ân cần niềm nở, tự nó không diễn tả hết được tình phụ tử giáo dục của Don Bosco. Nó xuất hiện hoàn toàn rõ ràng trong hai yếu tố khác. Tình phụ tử của Don Bosco, như mọi điều khác, là một sự kết hợp đúng mực giữa tình yêu và trách nhiệm: nó là sự dịu dàng và cảm thông, nhưng đồng thời cũng là trách nhiệm về “đời sống” của các con cái ngài, có khả năng làm sáng tỏ, đề nghị và đòi hỏi điều gì đó phải được lâu bền. Vì vậy nó không chỉ là “dầu” xoa dịu trong chốc lát, mà là năng lượng hướng tới các khía cạnh cam go hơn của đời sống thực. Một khuôn mặt người cha vừa yêu thương vừa nghiêm túc. Don Caviglia nói, “Từ cha có tất cả: tình yêu dịu hiền và mạnh mẽ đối với các nghĩa tử của ngài, sự chịu đựng mệt mỏi và đau đớn, ý thức sâu sắc về trách nhiệm của người cha gia đình và sự hiến mình không giới hạn mà chỉ có tình mẫu tử mới sánh ví được.” Don Bosco là một nhà giáo dục không chỉ tiếp nhận nhưng còn cống hiến; không chỉ tha thứ nhưng còn hướng dẫn cố gắng. Ngài không phải một “người tốt bụng”; ngài có một ý tưởng phong phú và thực tế về đời sống. Chỉ cần nghĩ đến tất cả đề tài lao động, học tập và bổn phận. Các hệ quả mở rộng tới nhãn quan giáo dục, cộng đoàn và các cá nhân.
Đây là chỗ gắn kết tính chất linh mục của tình phụ tử của ngài. Ngài muốn mở lòng các thanh thiếu niên đón nhận mầu nhiệm Thiên Chúa; cho họ tiếp xúc với Người; tỏ lộ cho họ kế hoạch cứu rỗi kỳ diệu mà Thiên Chúa dành cho họ và nhờ đó giúp họ sống hạnh phúc ở đời này và đời sau.
Cách quan niệm và tìm kiếm hạnh phúc này của thanh thiếu niên là sự diễn tả chức linh mục của ngài. Nếu Don Bosco là con người rất thân thiện, nhưng chỉ chăm lo thông truyền cho thanh thiếu niên các giá trị cao qúy của đời sống tự nhiên, hẳn ngài đã không là gì hơn một nhà sư phạm tốt. Lòng thương mến mang tính “sư phạm” của ngài, phong cách nhân hậu của ngài được gắn liền với “ý muốn”, “niềm khao khát”—theo lời thánh Phaolô—sinh ra các thanh thiếu niên trong đời sống ân sủng bắt nguồn từ chức linh mục của Đức Kitô, Đấng có sứ mạng mặc khải Chúa Cha. Khoa sư phạm của ngài, về nội dung và phương pháp, là khoa sư phạm các linh hồn. Don Bosco quan tâm đến linh hồn, đến ân sủng, đến đời sống trong Thiên Chúa của các thanh thiếu niên và các hội viên.
Việc sắp đặt tất cả tổ chức giáo dục và của mọi lúc và mọi nhân tố của nó đều mang tính cứu độ. Mục đích của tất cả (các quan hệ, hoạt động, bầu khí) nhắm khơi dậy và vun trồng đức tin.
Đây là kết luận của Don Braido: “Vì thế chúng ta không ngạc nhiên nếu hệ thống giáo dục của ngài, dù ngập tràn niềm vui, sự phấn khởi, nhân tính, nhưng tâm điểm và nguồn gợi hứng cơ bản của nó là ‘lòng đạo’”. Ai đó có thể sẽ bị ảo tưởng, vì sự ngưỡng mộ của họ đối với Don Bosco dựa trên một viễn tượng khác. Họ nghĩ về ngài như một linh mục thánh thiện, đúng thế, nhưng là một sự thánh thiện mới, nhân bản, ‘hiện đại’, trong khi mọi cái nơi ngài cắm rễ chặt trong lòng đạo, trong đức tin.
Vì vậy, ý thức tôn giáo không chỉ chiếm một lãnh vực trong các hoạt động của ngài (ví dụ, dạy giáo lý hay các chức năng thuộc nhà thờ), nhưng thấm nhuần mọi lúc và mọi sự can thiệp giáo dục: “Nền giáo dục tốt” có nền móng tôn giáo, bổn phận được gợi hứng bởi đức tin, việc vâng lời bề trên và tình bạn với anh em có động lực từ Tin Mừng. “Người công dân tốt” là người tín hữu tốt.
Công thức mà Don Viganò rất thích: “công dân tốt, vì là tín hữu tốt”, không phải là công thức thường gặp nhất nơi Don Bosco, nhưng chắc chắn là công thức diễn tả tốt nhất lối suy nghĩ của ngài: từ nền tảng là đức tin phát sinh các biểu hiện tốt hơn của sự trưởng thành nhân bản.
Các bình luận này chắc chắn khơi dậy một sự suy xét lại giữa chúng ta, các linh mục-nhà giáo dục, trong một thời kỳ mà tính chuyên nghiệp giáo dục hình như không dễ chấp nhận một “hình dạng” tín ngưỡng và linh mục.
Đây là khía cạnh đầu tiên và quan trọng nhất của chức linh mục và của tình phụ tử linh mục. Một người cha làm gì? Sinh ra sự sống và theo dõi cho sự sống tăng trưởng. Sự sống mà người linh mục có liên quan đến là sự sống phát xuất từ Đức Kitô: “Chớ gì họ nhận biết Cha và người Cha đã sai đến”.
Khía cạnh thứ hai thuộc về tình phụ tử linh mục của ngài là sự tin tưởng tuyệt đối (nhấn mạnh tuyệt đối) vào sức mạnh biến đổi của “tôn giáo”—Don Bosco nói thế và tôi lấy lại từ ngữ của ngài—mà linh mục là thừa tác viên và người phân phát. Ngày nay chúng ta nói rằng tôn giáo là một điều, còn đức tin lại là một điều khác, phân biệt như thế là đúng. Trong ngôn ngữ của ngài, tôn giáo bao gồm sự hiện diện của Thiên Chúa, lúc đầu mới chỉ cảm thấy, rồi được nhận biết và chấp nhận, sự soi sáng trí khôn nhờ lời, sự đào luyện lương tâm và sự thanh tẩy cõi lòng nhờ các bí tích, sự đón nhận ân sủng, sức mạnh mầu nhiệm bên trong, đời sống trong Hội Thánh. Tóm lại là tất cả thế giới của cái mầu nhiệm, được cảm thấy và đón nhận lúc đầu, rồi được thưởng thức, và do đó được ước muốn mỗi ngày một nhiều hơn.
Hệ quả của tất cả điều này là việc thực hành liên tục và tin tưởng các thừa tác vụ linh mục trong tiến trình giáo dục và trong việc hướng dẫn cộng đoàn tu trì và giáo dục. Tương tự như thế với các cộng tác viên của ngài, tình phụ tử linh mục giáo dục được diễn tả trong khả năng làm phát sinh nơi họ ơn gọi đặc sủng, giúp họ tăng trưởng ý thức thánh hiến, làm họ trở nên ngày càng mở rộng lòng trước ân sủng cho tới sự thánh thiện.
Thừa tác linh mục của lời nói
Thừa tác linh mục của “lời nói” phụ tử và giáo dục là khả năng nói với cõi lòng người ta và đi thẳng vào những điểm mà trẻ em hay hội viên quan tâm, soi sáng họ thế nào để họ nhận được từ Đức Kitô nguồn kích thích cho đời sống và sự cổ võ để tăng trưởng, đúng như điều một người cha làm, đó là những điều mình nói ra không phải lấy từ sách vở thần học hay sư phạm, mà từ kinh nghiệm sống và từ mối quan hệ yêu thương. Đây có lẽ là sự khác biệt với các hình thức nghi tiết khác của thừa tác vụ này. Don Bosco, linh mục và con người của lời nói, có tài nói về những điều mà đứa trẻ cảm thấy là quan trọng và làm vang dội trong lòng nó những lời của Tin Mừng, được dịch thành ngôn ngữ dễ hiểu. Đó là một thừa tác vụ mà người linh mục-nhà giáo dục thi hành trong mọi lúc, chứ không cần họ phải đứng trên bục giảng. Nội dung thừa tác vụ của lời nói không phải là việc tổ chức nghi thức, mà là sự kiện mang ánh sáng Đức Kitô đến và làm cho ân sủng của ngài hiện diện.
Thừa tác vụ lời nói là việc trò chuyện trong một cuộc gặp gỡ cá nhân; là lời khuyên được ban cho dù rất vắn tắt. Nơi Don Bosco, đó là “lời nói bên tai”, thông điệp riêng, trực tiếp và thân mật.
Cách diễn tả tiêu biểu của thừa tác vụ lời nói là “huấn từ tối”. Đây là kiểu mẫu “Salêdiêng” để nói với thanh thiếu niên: được đặt trong khung cảnh cộng đoàn “vui vẻ” trên quan điểm gia đình, trong một thời điểm có ý nghĩa vào cuối ngày, dựa trên mối quan hệ cha – con và ước muốn truyền thông. Dàn bài của nó luôn rất đầy đủ: lấy một tình huống trong đời sống, đã biết hay đã chịu, tìm cách soi sáng nó nhờ phán đoán và đức tin, tiêm truyền niềm vui và khích lệ bằng giọng điệu thoải mái và cả khôi hài.
Đó là những đặc điểm của cách nói linh mục, phụ tử và giáo dục. “Huấn từ tối” là cách nói Salêdiêng tương tự như bài giảng là cách giảng thuyết: nó là nguyên mẫu, mang những nét đặc trưng cơ bản của thừa tác vụ lời nói.
Thừa tác linh mục của việc thánh hoá
Don Bosco diễn ta tình phụ tử linh mục giáo dục của ngài trong và bằng thừa tác vụ thánh hoá. Ngài nhắm mục đích đưa các thanh thiếu niên và hội viên tiếp xúc trực tiếp với Thiên Chúa qua chính lương tâm họ và sự trung gian của ân sủng. Một khi thực hiện được điều này, thì chức năng của nhà giáo dục là hàng thứ yếu và bổ sung. Ân sủng có những bước đi riêng. Nhưng quan hệ và sự cởi mở cõi lòng cần canh tân nó và làm nó tăng trưởng.
Thời điểm điển hình và riêng tư hơn là bí tích hoà giải. Nó làm bộc lộ ước muốn thay đổi và quyết tâm tăng trưởng của người Kitô hữu. Vì vậy nó không tách rời khỏi các hành vi tôn giáo khác cũng không tách rời khỏi đời sống. Có thể nói Don Bosco là một bậc thầy dẫn dắt bí nhiệm: ngài khai tâm và dẫn đưa người ta vào việc cử hành và bảo đảm những điều kiện hiệu quả cho việc này thông qua giáo dục. Tuy nhiên không có sự cách biệt rõ nét về đề tài hay cách thức giữa việc trò chuyện ngoài sân chơi và lúc thiếu niên qùy gối để tiếp tục việc trò chuyện về đời sống họ một cách sâu xa hơn và nhận ơn tha thứ.
Các bí tích và các lời khuyên nhủ cho việc thánh hoá con người và công việc tác động đến các thái độ và hạnh kiểm, đến sự soi sáng lương tâm và hoán cải dần dần. Đối với các hội viên cũng vậy. Don Bosco chú ý và khích lệ sự trung thành của họ và thúc đẩy họ tiến tới sự thánh thiện.
Thừa tác linh mục của việc hướng dẫn
Thừa tác linh mục thứ ba, thừa tác cai quản, là sức mạnh, ân sủng tập hợp cộng đoàn Kitô giáo và hướng dẫn cộng đoàn trong đức tin, đức cậy và đức mến, để diễn tả sự hiện diện của Thiên Chúa giữa loài người và như thế trở thành dấu chỉ và dụng cụ cứu rỗi.
Tính phụ tử linh mục giáo dục của Don Bosco được biểu lộ trong cố gắng làm cho toàn bộ công việc giáo dục trở nên một gia đình, trong đó hình ảnh người cha (giám đốc) và các anh chị lớn (các hộ trực viên) khiến mọi người cảm thấy thoải mái như “ở nhà mình”, dưới bóng mát sự hiện diện của Thiên Chúa Cha; vì vậy nhà nguyện lúc nào các thanh thiếu niên cũng chỉ cần bước một bước là vào được, các em cầu nguyện lúc bắt đầu mọi công việc, các em kết thúc một ngày bằng kinh nguyện, cử hành Thánh Thể chung với nhau và các vấn đề về tổ chức và công việc được giải quyết theo viễn tượng của Thiên Chúa và các linh hồn.
Trong tất cả môi trường giáo dục có một đặc điểm lan toả khắp nơi, đó là tình gia đình. Tình gia đình không chỉ là một thái độ của riêng từng nhà giáo dục, mà là một đặc điểm của tổ chức, của các qui luật, việc cai quản, các mối quan hệ và cách nói năng. Người ta có cảm giác đây là cơ cấu của một gia đình hơn là một cơ chế tổ chức.
Cũng có một bầu khí vui tươi và tin tưởng, đã được chúng ta nhấn mạnh nhiều lần. Môi trường giáo dục được tạo ra như thế không chỉ để có một bầu khí, mà còn để có một sự đan dệt gắn bó của các mối quan hệ.
Có lẽ sẽ thú vị nếu chúng ta đọc qua tuyển tập các chứng từ của người Salêdiêng để thấy lại được thực tại của tổng thể giáo dục này, trong tất cả các chi tiết và sắc thái của nó. Ở đây tôi chỉ muốn ghi nhận rằng cha Braido, khi nghiên cứu đề tài này dưới quan điểm giáo dục, đã dành cho nó hai chương, chương 4 và 5 của phần hai cuốn sách của cha về Hệ thống Dự phòng.
Tất cả cố gắng nhằm tạo một bầu khí gia đình không chỉ bắt nguồn từ một trực giác sư phạm của Don Bosco: giới trẻ khi sống trong môi trường tràn ngập tình thương sẽ dễ dạy hơn, hấp thu dễ dàng hơn các thái độ và các đề nghị; nhưng nó gắn liền với ơn linh mục của ngài, nghĩa là gắn liền với kế hoạch giúp hấp thu và cảm thấy “vẻ đẹp” của đời Kitô hữu và của chính sự thánh thiện, là sự an bình của tâm hồn, niềm vui của cuộc sống chung, sự hăng say thể hiện các sáng kiến, niềm hi vọng vào tương lai.
Trong các cách biểu hiện đa dạng của nó, truyền thống Salêdiêng đã giữ lại hai nét này về tính cách của người bề trên: chăm lo cho đời sống thiêng liêng và lòng nhân hậu. Cả hai đặc điểm này đều được biểu lộ một cách sắc nét mà chúng ta có thể lấy đó làm mẫu mực. Tôi muốn nói đến Á thánh Filippo Rinaldi, mẫu gương đã được mô tả như sau: “Ngài thường xuyên trình bày Thiên Chúa như là người cha, thế nên tự thâm tâm ngài thấy có nhu cầu cảm nhận và làm người ta cảm nhận tình phụ tử vô biên của Người, Đấng yêu thương trong thinh lặng, tiếp nhận và tha thứ.” (Don Ricaldone).
Những biểu hiện tình phụ tử của Don Bosco đã diễn ra trong một bối cảnh đậm nét “gia trưởng”, nghĩa là theo khuôn mẫu của gia đình theo chế độ phụ hệ, từng được coi như tế bào và nguyên mẫu của mọi hình thức xã hội khác.
Nguyên tắc nói rằng giáo dục phải theo hình thức gia trưởng đã từng là một nguyên tắc không bị tranh cãi174. Nó có những giá trị mà ngày nay chúng ta cần duy trì, và những thái độ mới cần hấp thu. Nguồn mạch, phong cách thì không thay đổi: tình yêu có trách nhiệm mở ra cho sự sống và sự chăm sóc. Nhưng các cách biểu hiện nó trong cộng đoàn của những người trưởng thành và cần nhấn mạnh tính đồng trách nhiệm, thì có thể thay đổi.
Chú thích
168MB VIII, trg 534
169P. Brocardo, Don Bosco profondemente uomo – profondemente santo, LAS, Roma 1985, trg 81-82
1701 Cr 4,15
171P. Brocardo, Don Bosco profondemente uomo – profondemente santo, LAS, Roma 1985, trg 33-38
172MB XVII, trg 107
173MB XVII, trg 175
174xem P. Stella, Don Bosco nella storia della religiosità cattolica, Vol. II, Pas Verlag, Zurigo 1969, trg 46