XII. NGƯỜI PHỤC VỤ TỐT CỦA ĐỨC KITÔ (1Tm 4,6)
1. Thống nhất con người và việc phục vụ
Không ít lần chúng ta gặp những người nói họ không cảm thấy thoải mái trong chức vụ hay công việc được giao phó cho họ. Cho nên họ coi và làm chức vụ hay công việc ấy như chỉ là tạm bợ. Không những thế, họ còn tìm dịp “nghỉ ngơi”, một lúc thư giãn hợp pháp và thoải mái hơn trong một vài hoạt động nào khác.
Có khi chính bề trên nhận thấy sự căng thẳng của họ cũng chỉ cho họ “lối thoát” an toàn bằng một thú tiêu khiển nào đó.
Sự chia cắt giữa công việc và sự thể hiện bản thân là một hiện tượng của văn hoá và bối cảnh hiện nay. Nhiều người bó buộc phải đảm nhận một công việc không thích hợp với họ: thế là họ tìm kiếm sự bù đắp cho nỗi thất vọng của mình vào các lúc khác. Người ta làm việc trong một phần, nhưng “người ta sống”, sống đúng nghĩa, trong một phần khác. Làm việc là vì phải kiếm tiền hay chu toàn các bổn phận của xã hội và của tổ chức (trường hợp của chúng ta!); còn sự thoả mãn và các ước muốn cá nhân thì nằm trong một lãnh vực khác.
Có người nghĩ rằng sự chia cắt này là tự nhiên. Và đúng là thế. Nhưng lại quá tự nhiên nhất là khi công việc là “sứ mạng” và khi trong đó có dấu chỉ của thánh ý Chúa. Nó cũng có những hậu quả, ít là một cách giới hạn, cả đối với sự tăng trưởng cá nhân lẫn trong sự thể hiện việc phục vụ. Về sự tăng trưởng cá nhân, giới hạn hệ tại không thể tích luỹ vốn từ kinh nghiệm, kể cả kinh nghiệm thiêng liêng, mà hoàn cảnh cống hiến. Về việc phục vụ, lời khẳng định sau đây là đúng: “Không ai đạt được sự hoàn thiện từ một công việc mà họ không cảm thấy mãn nguyện về nó.” Sự bó buộc thuần tuý không dẫn đến nghệ thuật. Hậu quả nghiêm trọng hơn không chỉ là một sự giới hạn về thời giờ dành cho việc phục vụ. Điều này xảy ra rất nhiều, nhưng nghiêm trọng hơn cả là sự dè sẻn về nhân lực: không hoạt động với tất cả sức mạnh động lực của mình; không hiến mình hoàn toàn.
Tình trạng này có thể xảy ra, và thực sự xảy ra, giữa những người được kêu gọi lãnh trách nhiệm sinh động hoá và cai quản.
Sự chia cắt, hay chỉ là tách rời, luôn luôn tạo đau khổ và kém hiệu quả. Bí quyết để có sự vui tươi thanh thản và cũng có kết quả tốt là xây dựng sự thống nhất giữa con người và việc phục vụ. Khi nói con người chúng ta nói đến tấm lòng, trí khôn, ước muốn, sở thích, công việc, tình bạn. Khi nói việc phục vụ chúng ta nói đến sự phối hợp và đào luyện, các hội viên dễ chịu và khó tính, các sáng kiến đáng khích lệ và các vất vả nhàm chán, việc sinh động hoá cộng đoàn và giúp đỡ những người được giao phó cho chúng ta, đời sống huynh đệ và các quan hệ xã hội và cả những công việc bàn giấy, các kế hoạch và việc tái cơ cấu, kích thích và các sửa chữa thích hợp.
Việc thi hành quyền bính có các khía cạnh khó khăn mà Kinh Thánh mô tả thật sắc nét trong ngụ ngôn mà ông Giôtham nói với các thân hào của Sikhem175 : cây nho, cây vả và cây ô-liu được mời cai trị các cây cối, nhưng cây nào cũng trả lời là không tìm ra được lý do để từ bỏ bản tính tốt đẹp của mình (sự ngọt ngào, kh ả năng tạo niềm vui, sự êm dịu và hoà bình) và đứng lên chống lại những cây phải cai trị chúng. Do đó thấy rõ rằng gánh trách nhiệm cai quản nhiều khi đòi hỏi từ bỏ việc vun trồng và ban phát điều mà mình coi là hợp với bản tính tự nhiên của mình. Nhưng khi đến lượt bụi gai được mời, nó không những chấp nhận mà còn hứa sẽ làm cho mình phải được tôn trọng.
Việc thi hành quyền bính bao gồm việc quyết định và gánh lấy những phần mà nhiều người gọi là “đáng ghét”: chúng ta chỉ gọi chúng là “vất vả”. Và khi thi hành quyền lực người ta có thể đi trệch sang các hình thức của chủ nghĩa ích kỷ và thậm chí bạo lực. Mặt khác ý nghĩa đầy đủ của quyền bính được cho bởi các lời Chúa Giêsu mời chúng ta phục vụ, và ngài tỏ lộ ý nghĩa ấy trong cử chỉ rửa chân cho các tông đồ.
Sự thống nhất đòi hỏi cắt đứt sự dính bén của cây nho, cây vả và cây ô-liu vào với các sở thích và kế hoạch cá nhân hợp pháp của mình; dung hoà đúng mức sự mau mắn của bụi gai trong việc sử dụng quyền lực và đặt tất cả dưới dấu hiệu của đức ái huynh đệ được biểu lộ trong việc rửa chân.
Có một ít suy tư có thể giúp chúng ta xây dựng sự thống nhất này.
2. “Tiếng gọi” lãnh trách nhiệm
Suy tư đầu tiên là nhận thức rằng lời mời hay lệnh truyền đảm nhận một trách nhiệm là một “tiếng gọi của Chúa” để tham dự sâu xa hơn bên trong và với trách nhiệm nhiều hơn trong việc xây dựng Nước Chúa vào một thời và một nơi nhất định. Nếu không là như thế, việc chỉ định chức vụ của chúng ta sẽ chỉ là một chuyện “tình cờ”, là kết quả của tình thân thiết, hay trong giả thiết khá nhất, chỉ là kết quả của một sự tìm kiếm kỹ thuật để phát hiện những tài năng tốt nhất của cộng đoàn.
Trái lại, nó là sáng kiến của Thiên Chúa dựa vào tất cả tiền sử của chúng ta cho thấy nguồn xuất phát và sự trưởng thành của ơn gọi của chúng ta.
Tại đại hội các tu sĩ trẻ, tổ chức tại Roma tháng 9 năm 1997, người đọc bài tham luận với đề tài “ơn gọi” đã cho thấy rằng các ơn gọi hay lời mời của Thiên Chúa nối tiếp nhau, được hoàn tất và sáng tỏ theo dòng đời của một con người.
Chúng ta không thể nào biết chúng ta đã phải là thế nào, chúng ta đã được kêu gọi để trở thành cái gì, bao lâu chúng ta không trở thành điều đó qua các lời đáp nối tiếp nhau của chúng ta một cách quảng đại và tin tưởng với bấy nhiêu tiếng gọi của Thiên Chúa. Bài tham luận nêu lên các chặng đường trong cuộc đời, như ơn gọi sự sống, ơn gọi đức tin hay Kitô hữu, ơn gọi đời sống thánh hiến, ơn gọi sống trong một Giáo Hội nhất định và trong một thế giới xác định là thế giới của chúng ta. Tham luận cũng cho thấy rằng các tiếng gọi không chỉ nối tiếp nhau mà còn làm sáng tỏ và phong phú lẫn nhau. Ơn gọi đức tin không tiếp theo sau ơn gọi sự sống, nhưng mở ra cho ơn gọi này những chiều kích mới và chân trời mới. Lời mời gọi sống đời thánh hiến không thay thế cho hai ơn gọi trước, nhưng hấp thu chúng, mang đến một ý nghĩa lớn hơn và rút ra từ đó những tiềm năng mới. Cũng nói được như thế về ơn gọi làm người, làm Kitô hữu và làm tu sĩ, trong Hội Thánh mà chúng ta phải là những phần tử sống động, và trong thế giới ngày nay với các thách đố, các lợi điểm và các khó khăn.
Tôi muốn áp dụng cùng triền suy tư này vào ơn gọi gánh trách nhiệm phục vụ các hội viên và cộng đoàn. Là những con người thánh hiến, các hội viên là sở hữu của Thiên Chúa. Ngài chăm sóc họ và đề nghị cho họ một số người tuỳ theo sự quan phòng của ngài. Đối với người được mời gọi, điều này bao gồm một sáng kiến của Thiên Chúa phù hợp với tiếng gọi đầu tiên và cơ bản của ơn gọi, đưa nó tới chỗ hoàn thành trong các đặc tính chân thực và cơ bản nhất của nó: sống Phúc Âm triệt để và hợp tác với Thiên Chúa trong việc cứu rỗi. Việc mơ tưởng thoát khỏi trách nhiệm cộng đoàn là điều không có lợi cho sự trưởng thành Kitô giáo.
Đây là điều xảy đến cho những người theo Chúa Giêsu. Trước tiên họ có niềm vui gặp Chúa và biết Chúa và đặc ân sống gần ngài một cách thường xuyên, rồi sau đó đến lúc họ được tham dự một phần vào sứ mạng phục vụ của ngài, không chỉ gồm việc đi lại và gặp gỡ các hạng người, nhưng còn gồm cả việc chia sẻ sự đau khổ và sự chết của ngài. Trong điều này các môn đệ đã tỏ ra có những giới hạn và sự ngộ nhận mà Chúa đã vạch ra và sửa sai. Rồi, với việc Chúa Thánh Thần hiện xuống, họ nhận lãnh sứ mạng rao giảng Tin Mừng và chăm sóc các cộng đoàn đã được thiết lập nhân danh Chúa Giêsu. Không chỉ là sứ mạng loan báo vui mừng, mà còn là đời sống và chứng tá cộng đoàn: không chỉ là lời nói, mà còn là những con người và tổ chức. Như thế, giống như Chúa Giêsu, họ học chết cho chính mình và sống cho người khác. “Thật, Thầy bảo thật cho anh biết: lúc còn trẻ, anh tự mình thắt lưng lấy, và đi đâu tuỳ ý. Nhưng khi đã về già, anh sẽ phải dang tay ra để người khác thắt lưng cho và dẫn anh đến nơi anh chẳng muốn.”176 Chúa Giêsu đặt những lời nói này với Phêrô, để làm lời giải thích, ở giữa hai câu khác: “Hãy chăm sóc chiên của Thầy” và “Hãy theo Thầy” trong một đoạn tường thuật Tin Mừng hoàn toàn tập trung vào việc chăm sóc mục vụ cộng đoàn.
Để hiểu biết các sáng kiến và ý muốn của Thiên Chúa, việc đọc với nhãn quan “thiêng liêng” các bước đã dẫn chúng ta đến hoàn cảnh chúng ta đang sống là điều hữu ích. Giám tỉnh phải nghĩ rằng việc tham khảo cộng đoàn mà mình được chỉ định trong sự tham khảo ấy, là kết quả của một sự phân định được Thánh Thần hướng dẫn. Quyết định của Bề Trên Cả cùng với Ban Cố Vấn là một trong các trung gian mà chúng ta chấp nhận và gần như nhất trí với Chúa trong việc tuyên khấn của chúng ta. Tôi rất thích lời bình luận của một tác giả: “Lời khấn vâng phục không phải việc tuyên khấn của sự đau khổ hay chịu đựng, mà là của niềm vui vì sự chắc chắn về ý Thiên Chúa cho chúng ta biết phải đặt vào chỗ nào người mà ngài ban không cho chúng ta.”
Về sự thống nhất các tình cảm, ước muốn và nhiệm vụ, sẽ ích lợi để coi việc phục vụ của quyền bính là một cơ hội cho bản thân chúng ta, một cơ hội hoàn toàn độc đáo, để tăng trưởng về mọi phương diện. Các giám tỉnh trong các thơ của họ thường lặp lại với tôi điều này. Các cuộc kinh lý cộng thể và gặp gỡ cá nhân các hội viên mở ra cho họ những toàn cảnh chưa từng biết đến về sự đa dạng và phong phú của con người. Việc phải đánh giá các hoàn cảnh và soi sáng các cộng thể giúp họ đào sâu mọi chiều kích của ơn gọi và của linh đạo Salêdiêng. Việc phải tham gia vào trách nhiệm của Hội Thánh địa phương hay của Tu Hội ở các cấp rộng lớn hơn đưa họ vào các chân trời rộng mở hơn của việc đánh giá và thể hiện. Việc phải giải quyết các trường hợp đau buồn mở lòng họ ra cho sự cảm thông, thương xót, kính trọng con người, và đối thoại.
Thường khi tìm một người để giao một sứ mạng tế nhị, người ta tự hỏi người ấy đã từng nắm giữ các vai trò sinh động hoá và cai quản hay không. Đây được coi là lò thử luyện một số đức tính: khả năng đánh giá đúng các biến cố và con người, khả năng thiết lập các mối quan hệ thích đáng với một nhiều “típ” người khác nhau, bản lĩnh khi đứng trước khó khăn, khả năng duy trì các mục tiêu rõ ràng về việc rao giảng Tin Mừng và giáo dục, và có những sáng kiến mới liên quan đến các lãnh vực ấy.
Vì vậy Chúa “kêu gọi anh em” gánh trách nhiệm, ngài không đòi hỏi anh em một “hy sinh” cho bằng ngài ban cho anh em một ân sủng.
Ở điểm này có người có thể nêu ra một khó khăn: tôi không có khả năng, ý thức mình yếu kém làm tôi lo lắng. Đây là một tình cảm có cơ sở. Loại công việc này khiến không ai có thể cho là mình hoàn toàn kham nổi. Chúng ta cảm thấy an tâm về khả năng mình khi làm đồ sắt, khi đếm tiền hay đổi tiền, hay làm việc trên máy vi tính. Nhưng khi đụng đến các con người, các chọn lựa của họ hay khuynh hướng của họ về Thiên Chúa, thì tất cả đều mất hút trong cái không thể đoán trước và các phản ứng tự do.
Đàng khác, sự nhìn nhận những yếu kém của mình có mặt trong mọi truyện kể về “tiếng gọi” trách nhiệm đến từ Thiên Chúa. Tất cả đều nói điều đó: Môsê, Ghêđêôn, Gêrêmia, Đức Mẹ và thánh Phaolô. . . ấy là chỉ kể một ít người. Người được kêu gọi để làm ngôn sứ thì cảm thấy mình gặp khó khăn và yếu đuối; người được kêu gọi để rao giảng thì thấy mình ăn nói cà lăm và ngọng nghịu; người được kêu gọi để làm việc cho con người và cho Thiên Chúa thì cho rằng mình thấp hèn và không có tài.
Nhưng luôn luôn có một lời đáp của Chúa. Ngài bảo đảm ban cho một sự trợ giúp không phải chung chung, nhưng đặc biệt, tương xứng với điều mà ngài đòi hỏi chúng ta, với bản chất chúng ta và hoàn cảnh của những người chúng ta phục vụ. Trong thuật ngữ thần học truyền thống, và cho trường hợp của chúng ta, điều này được gọi là ơn chức phận (hay ơn đấng bậc). Ơn này hoạt động trong chúng ta bằng cách đánh thức các năng lực và tiềm lực mà trước đó còn giấu ẩn nơi chúng ta. Là bề trên, biết bao lần chúng ta dám làm, và buộc phải dám làm, những điều vượt quá khả năng chúng ta; chúng ta phải hành động với một hội viên hay cho một sáng kiến mà không có những chỉ dẫn bảo đảm sẽ thành công. Và chúng ta thấy Thiên Chúa đến giúp đỡ chúng ta.
Ơn chức phận cũng hoạt động nơi các hội viên và các người hưởng nhận việc phục vụ của chúng ta. Nhiều người trong họ nuôi những mong đợi nơi việc phục vụ của chúng ta, đánh giá việc phục vụ này với tinh thần đức tin vượt quá giá trị của những gì chúng ta thể hiện, họ tiếp nhận chúng ta như những “đại diện” của Chúa. Bằng cách ấy Chúa xây dựng cộng đoàn thông qua đức tin của họ và thông qua sự trung gian yếu kém của chúng ta. Đó là cảm giác và kết luận của tôi sau nhiều cuộc gặp gỡ với các hội viên và các cộng đoàn.
Ơn chức phận hoạt động trong cộng đoàn xét như một tập thể và cũng tác động vào cơ chế không phải như một toàn thể các công cụ cai quản lạnh lùng, mà như một tổ chức và một mạng lưới các vai trò, mục tiêu và dụng cụ mà các cộng thể tự tạo cho mình nhằm thể hiện đoàn sủng chân chính và liên tục. Chúng cho người lãnh đạo một quyền cơ bản, giống như một chi phiếu trống, về sự tin tưởng và uy quyền không phải để phí phạm mà để sinh lời, biểu thị một sự bảo đảm hoàn toàn đáng tin cậy. Khi tôi được bổ nhiệm làm giám đốc 33 năm trước, một hội viên lớn tuổi nói với tôi: “Có nhiều người có kiến thức hơn anh, và nhiều người nhân đức hơn anh. Nhưng anh hãy an tâm vì điều này có lợi cho quyền bính của anh và sẽ giúp anh dễ làm việc hơn. Họ sẽ chấp nhận anh chính bởi vì họ khôn ngoan và nhân đức và họ nhìn thấy nơi anh các dấu chỉ của ý Thiên Chúa. Tuổi trẻ của anh còn làm anh dễ được chấp nhận hơn vì họ thấy nơi anh kết quả các lao nhọc của họ và sự thể hiện các niềm hi vọng của họ.”
Một lời bình cuối cùng: ân sủng và sự tăng trưởng do trách nhiệm cai quản khơi dậy sẽ để lại dấu ấn và tồn tại suốt đời. Không cần phải ở lâu trong chức vụ “giám tỉnh” thì mới gọi là phục vụ với tư cách giám tỉnh, nghĩa là như người đã học biết sống cho người khác, phân định và đánh giá tình hình. Một câu tục ngữ nói: một lần làm vua thực sự thì đời đời vẫn là vua. Việc phục vụ, chúng ta cũng nói một vai trò được sống một cách trọn vẹn, thì hình thành con người chúng ta. Vì vậy sẽ khắc phục được cảm giác sống cho qua lần cái mà chúng ta muốn thoát khỏi càng nhanh càng tốt, bởi vì đời sống chúng ta, sở thích và các khả năng diễn tả của chúng ta sẽ nằm ở một nơi khác.
3. Ý thức mình là một “Dụng Cụ”
Đúng là các mục tiêu và nhiệm vụ của việc sinh động hoá và cai quản vượt quá sức lực chúng ta. Có biết bao việc phải suy nghĩ đến. Thế nhưng khó khăn không chỉ vì có quá nhiều việc. Điều vượt quá sức chúng ta còn là tính chất mà mỗi một nhiệm vụ như thế đòi hỏi: phải theo sát để giúp đỡ những con người thánh hiến trong một ơn gọi mà hoàn toàn được thể hiện bởi các quyết định cá nhân, đối thoại và tự do. Đó là sự thử thách khả năng của chúng ta trong việc thuyết phục, tác động và cùng tác động, hướng tới sự thánh thiện.
Don Bosco nói “Chỉ một mình Thiên Chúa làm chủ các cõi lòng”. Ở điểm này chúng ta phải tự nói lớn tiếng cho mình rằng không ai đã mời chúng ta hay kêu chúng ta làm công việc này một mình và cũng không ai là tác nhân chính, là nhân vật chính. Một người có thể giữ nhiều trách nhiệm, nhưng không thể nghĩ hay nói rằng mình là tác nhân thứ nhất hay nhân vật thứ nhất.
Nơi mỗi người, Chúa Thánh Thần đã hoạt động ngay từ lúc chịu phép rửa tội. Ngài khởi sự một cuộc đối thoại riêng tư trong lương tâm, trong các khát vọng và các ý hướng của mỗi người. Nhiều điều các hội viên không đến để hỏi chúng ta; họ đến để nói hay kể cho chúng ta nghe và chúng ta giống như những khán giả, chứng nhân, bạn của Tân Lang. Chúng ta được kêu gọi để lắng nghe, để nhìn, để học, để “thu thập”.
Chúa Thánh Thần cũng cư ngụ trong cộng đoàn như vậy. Khi theo sát các tỉnh dòng, tôi có niềm xác tín rằng không ít giải pháp và sự điều chỉnh đạt được không phải ở cấp cai quản, nhưng ở sự hoán cải tâm hồn phát xuất từ một sự tìm kiếm từ phía các hội viên, để vượt qua một tình huống: một sự thay đổi được chín muồi trong các đối thoại của họ hay trong quyết tâm cầu nguyện của họ.
Cũng chính Chúa Thánh Thần hoạt động trong các môi trường rộng lớn hơn, là nơi chúng ta phải thể hiện sứ mạng: cộng đồng giáo dục hay khu phố chúng ta ở, khu vực rộng lớn hơn mà tỉnh dòng hoạt động trong đó và rộng hơn nữa là thế giới, nơi chúng ta tham gia một việc phục vụ không biên giới. Các dấu chỉ về sư hiện diện của Chúa Thánh Thần được thấy rất rõ trong Hội Thánh. Từ Hội Thánh chúng ta cũng sẽ học để nhận ra sự hiện diện của ngài ở bên ngoài Hội Thánh.
Chúng ta sẽ phải suy niệm. Với Chúa Thánh Thần chúng ta sẽ phải thiết lập gần như một cuộc đối thoại. Các sự đánh giá của chúng ta, các công cuộc, quan hệ của chúng ta với các con người và thực tại sẽ phải được quan niệm trong Chúa Thánh Thần, bằng cách nhận ra tiếng của ngài và đi theo những hướng dẫn của ngài.
Chúng ta nói về Chúa Thánh Thần trong kinh Tin Kính: là Chúa và là Đấng ban sự sống. Đó là thành ngữ mà Đức Gioan Phaolô II đã muốn lấy làm tựa đề cho tông thư của ngài. Ngài hoạt động với sự đại lượng, sức mạnh và phù hợp với đời sống, hạnh phúc, ý nghĩa, phẩm giá con người. Ngài không phải một con qủy tội nghiệp ... chịu thất bại với chúng ta; hay một cảm hứng mơ hồ thuộc loại “Thời đại mới” làm người ta quay cuồng xung quanh nó để bị tiêu tan trong sự xáo động thuần tuý của tình cảm. Ngài không phải sự kiện để giải khuây con người hay để tiêu thụ.
Ngược lại, ngài đưa chúng ta vào một kế hoạch lớn, lớn hơn bản thân chúng ta, và chúng ta được kêu gọi để cộng tác vào kế hoạch ấy. Nếu nói về phạm vi Salêdiêng, kế hoạch này là đoàn sủng và Gia đình Salêdiêng, một cách thức trở nên giống Đức Kitô và một sự mặc khải tình yêu của Chúa Cha đối với thanh thiếu niên thông qua toàn thể những con người và những sáng kiến mà chúng ta gọi là “Sứ mạng Salêdiêng”, và thái độ và việc thực hành mà chúng ta đặt tên là “Hệ thống Giáo dục dự phòng”.
Nếu nói về Hội Thánh, kế hoạch lớn trong đó Chúa Thánh Thần đặt chúng ta vào là sự hiện diện Kitô hữu trong thế giới được biến thành hiện thực bởi Hội Thánh hoàn vũ, và ở xa hơn nữa, bởi kinh nghiệm tôn giáo. Ngày nay người ta kể sự hiện diện này vào trong phong trào của việc rao giảng Tin Mừng mới. Anh chị em không chỉ hoạt động trong một khu vực nhỏ bé: qua mầu nhiệm cây nho và các cành nho, anh chị em cộng tác để tạo ra mạng lưới qua đó Hội Thánh thực sự trở thành dụng cụ cứu rỗi phổ quát.
Nếu nói về lịch sử, kế hoạch lớn này là Nước Chúa. Hội Thánh là dấu chỉ của Nước, không phải là toàn thể Nước. Nước là sự thiết lập đời sống cá nhân và xã hội lấy cảm hứng từ tư cách con cái Thiên Chúa của chúng ta, được gọi sống kết hợp với ngài.
Kế hoạch to lớn hơn chính bản thân chúng ta. Cả khi chúng ta có khả năng lèo lái tốt con thuyền nhỏ của chúng ta là nhà hay tỉnh, chúng ta cũng không thể hiện hết được những đòi hỏi và tiềm năng của kế hoạch mà chúng ta tham dự. Luôn có những tiềm năng mới được rút ra từ đó và những môi trường mới để hoạt động. Chúng ta phải có ý thức về nó, phải biến nó thành tiêu chuẩn để đánh giá và quyết định. Tinh thần Salêdiêng kêu gọi chúng ta điều này: có tầm nhìn và các tình cảm to lớn.
Vì kế hoạch to lớn như thế, chúng ta không được kêu gọi để làm việc một cách đơn thương độc mã. Chúng ta thực hiện kế hoạch trong một sự hiệp thông rộng lớn hữu hình và vô hình mà không có biên giới. Không chỉ có các hội viên sống gần gũi giúp đỡ chúng ta. Chúng ta được sự trợ giúp của tất cả những người có cùng chí hướng và chúng ta liên kết cả với các thánh trên trời, các vị thánh đã được tuyên phong cũng như vô danh, đã từng dâng hiến đời mình hoặc là cho đoàn sủng, cho Nước Trời, hay cho Sự Thiện. Vì vậy chúng ta đông lắm và cộng tác ăn ý với nhau.
Nhãn quan này được diễn tả trong sự chắc chắn rằng chúng ta đã nhận được từ Chúa điều có thể mang lại lợi ích cho cộng đoàn và cho Tu Hội trong một giai đoạn cụ thể của đời sống cộng đoàn và Tu Hội. Trong cộng đoàn, nhiều người đã làm việc trước chúng ta và nhiều người khác sau chúng ta cũng sẽ thể hiện các bước có lẽ còn quan trọng hơn những gì chúng ta đã được kêu gọi thực hiện; chúng ta khám phá lại một giai đoạn đã qua và sẽ được hoàn tất bởi những người khác. Kết quả là nó phải được diễn tả trong sự dâng hiến vui tươi các khả năng riêng của mình và trong sự thanh thản trước các giới hạn về tính khí hay khả năng. Chúng ta không có tất cả các kiến thức, nguồn lực và khả năng mà một cộng đoàn đòi hỏi cho sự sống của cộng đoàn trong Chúa và cho sứ mạng, nhưng chúng ta có đầy đủ cho giai đoạn này nếu nó được kết hợp chung với điều mà các hội viên khác đang sống với chúng ta có thể làm.
Từ cùng các niềm xác tín: lãnh đạo, kế hoạch, mạng lưới kỹ thuật, và người làm việc, sẽ phát sinh thái độ biết ơn đối với các hội viên và việc tìm kiếm sự cộng tác. Đây là việc đánh giá các tài năng của cộng đoàn, nhỏ và lớn: của cộng đoàn cùng làm việc sát cạnh chúng ta cũng như của Tu Hội, vì Tu Hội có thể cống hiến cho chúng ta kinh nghiệm, sự kích thích, và ý thức về đoàn sủng.
Những khuyết điểm tôi đã thấy thường là về trường hợp thứ hai này hơn là về trường hợp thứ nhất. Cộng đoàn lớn thường được nghĩ như là cái gì vô danh và mơ hồ, một tổ chức mà người ta thuộc về hơn là một sự hiệp thông to lớn về các lợi ích mà một nhóm nhỏ không thể đạt tới được và vì thế là một kho dự trữ năng lượng, kinh nghiệm và hướng dẫn. Chúng ta phải khắc phục mọi thành kiến và mọi nguyên nhân hạn chế sự hiệp lực với cộng thể thế giới nếu chúng ta muốn đi vào một mạng lưới hiệp thông rộng lớn và hưởng nhận các lợi ích của nó.
4. Ý thức mình được gọi vào một “nghề cao quý”
Có các nghề nặng nhọc, bạc bẽo, và khó khăn. Trong thế giới băng nhóm tội phạm có tổ chức, người ta nói đến các “việc làm bẩn thỉu”: những tay trùm có bộ mặt và bàn tay sạch sẽ, nhưng ra lệnh cho thuộc hạ thủ tiêu người khác và thực hiện các hoạt động phá hoại. Cũng trong đời sống dân sự, có những nghề cao quí và những nghề mà chỉ những dân nhập cư làm.
Nghề làm bề trên thuộc loại nghề nào?
Nó là một công việc cao quí. Chúng ta thấy như thế qua những người hưởng nhận việc phục vụ của nó. Họ không chỉ là những con người đơn thuần, nhưng là những con người mà Chúa Thánh Thần đã làm nơi họ toàn thể công việc thánh hoá từ lời đáp ơn gọi đầu tiên, và tiếp tục làm việc ấy. Chúng ta nói đào luyện là công việc thường xuyên và tác nhân thứ nhất là Chúa Thánh Thần. Vì vậy chúng ta có trong tay một chất liệu vô giá. Điều này càng được thấy rõ hơn khi chúng ta xét đến các khả năng nhân loại và thiêng liêng được mở ra cho các anh em hội viên chúng ta. Chúng ta đã nhận thấy các khả năng này khi tận mắt nhìn thấy chúng lớn lên, nhất là nếu chúng ta đã ở trong các cộng đoàn đào luyện.
Tôi chợt nhớ đến một cảnh luôn luôn gặp trong hầu hết các phim về các thánh: các cha bề trên hay mẹ bề trên có các vị thánh này trong cộng đoàn mình mà không biết. Tất cả các hội viên nam nữ đều đã được “thánh hoá” một cách tương đối rồi, và đang trên đường trở nên thánh thiện ngày một hơn qua sự thánh hiến, Thánh Thể, qua sự hiện diện của Thánh Thần, và nhiệm vụ bề trên của chúng ta là chăm lo cho những con người ấy.
Nghề này cao quí không chỉ vì những người thừa hưởng việc phục vụ của nó, nhưng còn vì công việc chúng ta được kêu gọi để làm và vì những kết quả nó nhắm tới. Mấy năm trước tôi có dự một khoá đào luyện thường xuyên cho các giám đốc. Nhà chúng tôi ở ngay trước mặt một trại lính. Từ sáng sớm, khi chúng tôi dâng thánh lễ, đã nghe tiếng kèn đánh thức lính dậy và một lát sau đã có tiếng lệnh của các sĩ quan: Nghỉ! Nghiêm! Bước đều, bước! Chúng tôi thậm chí còn trông thấy toán lính trên sân đang cố gắng để thi hành các lệnh như thế.
Giữ trật tự một đội quân cũng là một việc làm có ích cho xã hội. Nhưng chúng tôi bình luận giữa các giám đốc: “Khác biết bao về nội dung và mục đích với điều chúng ta làm! Trong việc sinh động hoá chúng ta tác động trên linh hồn và quả tim, trên tình cảm và các xác tín”.
Tất cả điều này phải giúp chúng ta hành động với lòng tin tưởng cả trong các điều kiện không lý tưởng, ban đầu, bấp bênh. Đây là công việc gieo hạt. Làm phần việc đồng áng mà chúng ta có thể làm. Có khi là công việc vỡ đất khai hoang. Có những người quá bận tâm tới thành công của mình bằng các việc thể hiện có thể kiểm soát và dễ thấy: họ luôn luôn thiếu nhân sự, thiếu thời giờ và phương tiện, nhưng ai quá nhắm đến thành công rốt cuộc sẽ dẫn đến chỗ hi sinh con người. Nhưng các việc thể hiện đáng ao ước nhất của chúng ta phải là sự hiến dâng cho Thiên Chúa các con người, các hội viên của chúng ta, làm “lễ vật thanh sạch và tinh tuyền”.
Để làm như thế cần có khả năng tìm ra các dấu hiệu cứu rỗi, các khả năng phong phú của con người, các cơ hội đến với chúng ta một cách bất ngờ, hay như khoản Hiến Luật 85 của chúng ta nói, “khám phá ra hoa quả của Thần Khí trong đời sống con người”.
Chúng ta luôn thấy ấn tượng khi đọc trang Phúc Âm tả cảnh Chúa Giêsu, trong khi biết bao người khác có thể làm ngài chú ý vì sự dâng cúng hào phóng của họ, ngài phát hiện ra bà goá bỏ một đồng xu vào hòm tiền dâng cúng177. Đôi khi chúng ta quá mải mê tìm kiếm những tài năng lớn hay những cơ hội lớn mà quên phát hiện ra giá trị của cái đã có trong tầm tay của chúng ta.
Có một tu đức chúng ta cần thực hành: tu đức của sự lạc quan, đó là chúng ta hãy để cho hạt giống sự thiện sinh sôi nảy nở và tạo thành nhiều nguồn lực mới, hãy để cho Nước Trời, như một hạt nhỏ bé không những vào thời Chúa Giêsu mà cả hôm nay, trở thành một cây lớn, và như một dúm men làm dậy lên cả nắm bột.
Chúng ta được kêu gọi tổ chức các môi trường mang niềm hi vọng: ở đó niềm hi vọng được cảm thấy không phải nhờ lời nói, mà bởi vì có những thực tại cuốn hút, thuyết phục và làm người ta ước mơ.
Chúng ta đọc thấy trong Tin Mừng: “Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người.”178
Từ “phục vụ” là một trong những từ giàu ý nghĩa, mạnh và có ý hướng của Tin Mừng bởi vì nó được Chúa Giêsu ám chỉ về đời sống và cái chết của ngài gần như là định nghĩa chính của nó. Tuy nhiên nó có thể có nguy cơ trở thành nhàm chán và mơ hồ bởi vì chỗ nào cũng nghe thấy nói đến phục vụ: các chính khách thì nói phục vụ đất nước; các người bán hàng thì nói phục vụ khách hàng; rồi còn phục vụ bàn thờ. . .
Quyền bính được nói là “một việc phục vụ” theo đúng nghĩa Tin Mừng mạnh nhất, trở nên giống đời sống và sự chết của Chúa Giêsu.
“Việc phục vụ” này dạy chúng ta trong đời sống rằng :
* Phục vụ là một chiều kích của toàn thể hiện hữu (“Tôi đến để. . .”), không phải một mảng của thời gian và hành động của chúng ta. Nó không chỉ chạm tới các bổn phận, mà cả lối suy nghĩ và lý luận. Phục vụ là một cách hiện hữu. Chúng ta phải luôn tự vấn về chiều sâu này;
* Cung cách phục vụ đối nghịch hẳn với lô-gích của việc được người ta phục vụ (“Nhưng ...”). Muốn dung hoà hai lô gích này quả là chuyện vô ích. Không thể sống với một số cố gắng nhằm phục vụ và một số cố gắng khác nhằm tìm kiếm bản thân. Đối với Tin Mừng, người ích kỷ thì ở đâu cũng ích kỷ, trong đời tư cũng như đời công: là người qui mọi sự về mình;
* Phục vụ có nghĩa là cảm thấy có trách nhiệm về người khác. “Phục hồi, chuộc lại” (“ricupero”) ám chỉ sự liên đới giữa các anh em họ hàng gần. Khi một người anh em gặp khốn quẫn, không thể tỏ ra dửng dưng: điều này liên quan đến chúng ta và chúng ta được kêu gọi để sống như thế;
* Việc phục vụ không chỉ đáp ứng các nhu cầu, nhưng là tiếp nhận con người. “Muôn người” mà Chúa Giêsu hiến mình cho không phải là các “vấn đề”, cũng không phải các “chức năng”; đó là các con người, các khuôn mặt. (Sự “kiên nhẫn của người nhà nông”).
Chú thích
175xem Đnl 9,7-15
176Ga 21,18-19
177xem Lc 21,2
178Mc 10,45