Dẫn nhập
Nguyện xá là một công cuộc mang tính chiến lược để hiểu được tính chuyên biệt của đường lối giáo dục và của một não trạng được các FMA phổ biến tại các Xứ sở với những truyền thống và phong tục khác nhau, trong sự đối chiếu với việc giáo dục các thiếu nữ trong thời gian không “chính quy” và ít bó buộc với bổn phận. Từ khởi đầu, hơn hẳn những công cuộc công lập được trao cho các nữ tu sĩ giáo dục đương thời, nguyện xá đã chú ý đến những hoạt động đào luyện theo phong cách salêdiêng hướng đến giới bình dân, đến các trẻ em, các thiếu nữ có nhiều khả năng gặp rủi ro và nguy cơ về luân lý và vật chất nhất.
Nguyện xá là một công cuộc miễn phí, được dành cho số đông người đến ghi danh, hơn là một trại mồ côi và trường học. Nguyện xá là một trong những cơ chế được đánh giá cao hơn những cơ chế cổ điển: như gia đình, trường học, giáo xứ, nơi làm việc; nguyện xá là một công cuộc đầy năng động trong những không gian hay những kẽ hở được tạo nên do sự biến đổi xã hội và kinh tế, bằng việc dành cho những thanh thiếu niên nam nữ vài khoảng thời gian vượt ra khỏi sự kiểm soát của người lớn, phó mặc cho bản thân, cho đường phố, cho những cuộc gặp tình cờ tùy theo địa điểm và lứa tuổi.
Nguyện xá là kết quả của sự tưởng tượng mang tính dự phòng, của tính vô vị lợi trong giáo dục đã sáng tạo ra nhiều phương cách, bầu khí gia đình và của tình bạn, trong đó niềm vui thích đi đến gặp gỡ những người trẻ trên mảnh đất của họ, ngang qua hoạt động đầy hào hứng, đầy tình thương mến, hồn nhiên được tỏ lộ cách rõ ràng. Trong lúc đó, nhiều nguyện xá đã đang hiện diện cách chung chung đều rập khuôn với những nguyện xá mà thánh Carlo Borromeo ở Milano và Thánh Philipo Neri ở Roma đã thành lập. Còn kinh nghiệm nguyện xá của Salêdiêng thì theo khuôn mẫu nguyện xá của Don Bosco tại Valdocco, một công cuộc bác ái được lan tỏa và tiếp nối.14
Các FMA đã khởi sự lưu xá ở Mornese vào năm 1872, nhưng từ năm 1876 ở thành phố Torino, tại Valdocco, các chị đã khởi sự nguyện xá giống như tất cả những gì được thực hiện cho giới trẻ nam. Có lẽ do không thể và không cần thiết phải thiết lập một lưu xá ở thành phố, do nhìn thấy trước những thách đố đặc thù của môi trường đô thị được công nghiệp hóa vốn không đòi hỏi phải kiến tạo một môi trường giáo dục được điều hành trực tiếp bởi tu sĩ, cho bằng tìm ra cách thức để tiếp chạm được với số thanh thiếu nữ ngày càng tăng thuộc lớp bình dân không có điều kiện để vào Lưu Xá vì quá đắt đỏ. Dù rằng Don Bosco không nêu rõ Nguyện xá ngày lễ như công cuộc tiên quyết của người Con Đức Mẹ Phù Hộ trong Hiến luật; nhưng Nguyện xá đã đạt đến vị trí hàng đầu trong danh mục những công cuộc của Tu Hội vào năm 1906, sau khi dòng nữ Salêdiêng tách khỏi dòng nam, theo luật mới của Giáo hội. Trong những năm ấy và trong những năm tiếp theo sau này, nhận thấy có sự cố gắng để gia tăng những nguyện xá dành cho nữ giới. Ngay cả khi thật khó khăn để duy trì chúng, thì nguyện xá đã là cách thức để xác định nét đặc trưng Salêdiêng được viết trong Hiến Luật, và được theo đuổi qua những chọn lựa cụ thể.
Chúng tôi vẫn chưa thấy cần thiết để có một chuyên khảo cho việc nghiên cứu đào sâu tới mức đề ra được những thay đổi xảy theo thời gian, những lý do thành công hay thất bại. Chúng tôi có những phân khúc về lịch sử địa phương; một Hồi sử nguyện xá của các Tỉnh dòng Ý được soạn thảo nhân dịp cử hành 100 năm các Nguyện xá Salêdiêng (1941); những dấu hiệu của Nguyện xá trong việc tái cấu trúc một vài công cuộc hay Tỉnh dòng ở Âu Châu và Châu Mỹ La Tinh. Riêng đối với nước Ý, chúng tôi đặt nền trên một số nghiên cứu và trên một số lớn các tài liệu được ghi lại trong danh mục thống kê các Nguyện xá từ năm 1872 đến 2010; tất nhiên vẫn còn thiếu việc soạn thảo những dữ liệu mang tính tổng thể.
Do đó, những thông tin có sẵn ở trong cuốn sách này chỉ là giọt nước trong đại dương rộng lớn những người trẻ đã từng hiện diện trong nhiều cơ cấu khác nhau trong 140 năm qua.15 Vì thế, để nói về những nguyện xá của các FMA trong một thời gian dài, trước hết cần dựa vào những tài liệu, các phản hồi về những kinh nghiệm đã được ghi lại trong các Tổng Tu Nghị và những định hướng đã được các Tổng Tu Nghị chỉ định. Như thế, chúng ta tiếp cận với nguyện xá của các FMA với một phác họa thoáng qua cho đến sau thế chiến thứ 2, ý thức rằng chúng cần đến những nghiên cứu ở cấp địa phương để soi sáng cho đề tài nền tảng và rộng lớn này.
Chú thích
14 Về Nguyện xá SDB từ lúc khởi sự cho đến cho đến công đồng Vaticanô II, x. BRAIDO Pietro, Nguyện xá salêdiêng tại Ý, ‘nơi’ thuận tiện cho việc dạy giáo lý vào các dịp của Hội nghị (1888-1915), trong Ricerche Storiche Salesiane 46 (2005) 7-88. BRAIDO, Nguyện xá Salêdiêng đầy sức sống trong thập niên thương đau (1913-1922), trong Ricerche Storiche Salesiane 47 (2005) 211-268. BRAIDO, Nguyện xá Salêdiêng tại Ý và việc dạy giáo lý trong một bối cảnh xã hội - chính trị còn tiềm ẩn (1922-1943), trong Ricerche Storiche Salesiane 48 (2006) 7-10. BRAIDO, Sự thay đổi dung mạo của nguyện xá Salêdiêng giữa sau thế chiến thứ 2 và hậu Công đồng Vaticanô II (1944-1974), trong Ricerche Storiche Salesiane 49 (2006) 295-356.
15 Về Nguyện xá tại Torino: BERTERO Angela, Don Bosco, Các Nữ tu của ngài và Nguyện xá nữ giới tại Torino, trong BRACCO Giuseppe (a cura di), Torino và Don Bosco I, Torino, Archivio Storico della città di Torino 1989, 277-287; CIVITELLI Alessia, Nguyện xá của các Nữ tu Con Đức Mẹ Phù Hộ tại Torino và Valdocco vào khởi đầu của ‘900, in GONZALEZ Jesús Graciliano – LOPARCO Grazia – MOTTO Francesco – ZIMNIAK Stanisław (a cura di), Việc giáo dục salêdiêng từ 1880 đến 1922. Các thời điểm và những thực hiện trong nhiều bối cảnh khác nhau, Roma, LAS 2007, 345-375.
CAVAGLIA Piera, Giáo dục người nữ về tính nội tâm và tinh thần trách nhiệm xã hội. Kinh nghiệm giáo dục của Don Filippo Rinaldi, trong PRELLEZO José Manuel (a cura di), Cam kết giáo dục. Những nghiên cứu để vinh danh Pietro Braido, Roma, LAS 1991, 505-525.
Về Sicilia: VENTURA Maria Concetta, Nguyện xá trong các nhà của các FMA thuộc vùng Sicilia trong thời gian Don Rua làm Bề Trên Cả (1888-1910), trong LOPARCO - ZiMniaK (a cura di), Don Michele Rua 311-327; VENTURA, Các FMA vùng Sicilia: Những người nữ giáo dục trong giai đoạn cấp bách của chiến tranh và hậu chiến tranh (1943-1949), trong LOPARCO – ZIMNIAK (a cura di), Việc giáo dục salêdiêng tại châu Âu vào những năm khó khăn của thế kỷ 20, Roma, LAS 2008, 297-310. Trong những ấn phẩm này, nhiều chú thích ngắn về các hoạt động của Nguyện xá tại Pháp, Tây Ban Nha, Đức. Và cách đặc biệt trong NUNEZMUNOZ María Felipa, Misión y educación: Las primeras décadas de la presencia de las Hijas de María Auxiliadora en España, Madrid, CCS 2006. Những chú thích cho Colombia: PARRA Vilma P., La obra de las Hijas de María Auxiliadora en Colombia, in LOPARCO -ZIMNIAK (a cura di), Don Michele Rua 935-949 passim. Cho những chuyên mục tại Ý, x. LOPARCO Grazia, Những Nguyện xá, «Cuộc vận động» của các FMA, trong các FMA trong xã hội Ý (1900-1922). Những tiến trình và những vấn đề của việc nghiên cứu, Roma, LAS 2002, 486-526.